Tiểu luận môn giải phẫu sinh lý và hoạt động thần kinh cao cấp bệnh Alzheimer - Pdf 28

1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

Lớp: Tâm lý học K03 Giáo viên: Phạm Lê Bửu Trúc
Khóa: 2010 - 2014
Danh sách nhóm:
Nguyễn Văn Tuệ - 1056160096
Nguyễn Chí Trung - 1056160092
Bùi Thị Nhiều - 1056160055
Trương Thị Yến Nhi - 1056160054
2
Lê Thị Ngọc Lan - 0956030055
Giảm sút trí nhớ là một biểu hiện thường thấy ở người cao tuổi. Tuy nhiên, nó có thể là
một triệu chứng của bệnh Alzheimer, một bệnh não gây tử vong, là ngun nhân gây suy giảm
chậm trong tư duy, trí nhớ và kỹ năng lập luận. Đây là một căn bệnh chưa xác định rõ ngun
nhân và cũng chưa có cách điều trị hồn tồn.
Bệnh Alzheimer, thể bệnh nặng nhất trong nhóm các bệnh sa sút tâm thần (còn gọi là sa sút
trí tuệ, sa sút tâm trí) hiện nay là mối quan tâm hàng đầu của những nhà lão khoa trên tồn thế
giới cũng như ở nước ta, khi tuổi thọ trung bình ngày càng cao, số người mắc bệnh này ngày càng
nhiều.
Bệnh cho đến nay, có tiên lượng nói chung là xấu, gây nhiều khó khăn đau khổ cho người
bệnh, cho gia đình họ và cả cộng đồng xã hội.
1) Bệnh Alzheimer là gì?
Alzheimer (AD, SDAT) là bệnh thối hóa cả não bộ
khơng hồi phục, gây nên chứng sa sút trí tuệ ở người cao
tuổi. Tổn thương tế bào thần kinh ở vỏ não và những cấu
trúc xung quanh làm sa sút trí nhớ, giảm phối hợp vận
động, giảm cảm giác, nhận cảm sai , cuối cùng là mất trí
nhớ và chức năng tâm thần.
Bệnh Alzheimer được bác só tâm thần và thần

75 – 79 9
80 – 84 23
85 - 89 40
4
90 - 69
Giới tính: Phụ nữ dễ bò mắc bệnh hơn nam giới. Do ở phụ nữ sự giảm estrogen sau mãn kinh
có liên quan rõ rệt đến giảm trí nhớ và sa sút tâm thần.
Dân tộc: các dân tộc có tần suất mắc bệnh Alzheimer khác nhau. Người da trắng ít mắc bệnh hơn
người Mỹ gốc Phi hoặc Tây Ban Nha. Người châu Á cũng ít mắc bệnh hơn nơi khác. Người ta còn cho
rằng bệnh chịu ảnh hưởng của yếu tố mơi trường, thí dụ người Nhật sống tại Mỹ có tỷ lệ mắc bệnh cao
hơn hẳn so với người Nhật sống tại Nhật.
Tăng huyết áp: nhiều nghiên cứu cho thấy người có huyết áp tâm thu cao có nguy cơ cao bị
Alzheimer. Tăng huyết áp gây ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh, làm tăng nguy cơ mắc bệnh.
Hội chứng Down: người bị hội chứng này sẽ bị Alzheimer khi sống đến 40 tuổi và những bà mẹ
sinh con bị Down sẽ có nguy cơ cao bị Alzheimer.
Môi trường: người ta phát hiện kẽm, đồng tích tụ trong mô não người bò Alzheimer. Sống
trong môi trường nhiễm kim loai, môi trường điện từ trường, nhiễm độc. Một số yếu tố khác có liên
quan đến chứng mắc Alzheimer như thiếu hụt Vitamin nhóm B, bệnh trầm cảm, trấn thương đầu,
một nhóm người có điều kiện kinh tế kém và học vấn thấp, không thường xuyên làm việc trí não…
v.v…
4) Dấu hiệu của bệnh Alzheimer
a) Các triệu chứng báo hiệu
- Thường bị nhầm lẫn, khó khăn trong việc nhận thức.
- Hay ghi chép lặt vặt (tạo tiền đề để nhớ).
- Gọi điện cho người thân nhiều lần (gọi xong lại qn, gọi lại).
- Lẫn lộn các đồ vật, nhầm ngày, tháng, năm.
b) Các triệu chứng tồn phát
5
- Mất trí nhớ: là triệu chứng đầu tiên và xuất hiện rất sớm, ngày càng nặng và không hồi phục. Bệnh
nhân thường mất trí nhớ gần (quên những sự vật mới xảy ra). Dần dần họ quên ngày, tháng, quên tên vợ

- Thay đổi về nhân cách như khó tính, thờ ơ, có khuynh hướng cách ly với cộng đồng.
- Trở nên trì trệ.
- Sút cân không giải thích được. những người mắc bệnh Alzheimer thường giảm khứu giác mà
người bình thường không có.
- Mất khả năng trong việc đi đứng.
- Mất tập trung tư tưởng.
Những dấu hiệu này cũng có thể gặp ở người khỏe mạnh bị lão hóa, tuy nhiên bác sĩ chuyên khoa
có thể phân biệt các triệu trứng này trên người bình thường và người bệnh Alzheimer. Chẳng hạn như
người cao tuổi không bị giảm kỹ năng ngôn ngữ, người bị bệnh lạ bị, họ khó khăn trong việc hoàn thành
câu hoặc tìm ra một từ đúng, không có khả năng hiểu nghĩa của từ, giao tiếp không hoạt bát. Ngoài ra
các bác sĩ chẩn đoán trên điện não đồ, hình ảnh học, xét nghiệm máu, dịch não tủy, hay test thử khứu
giác.
5) Nguyên nhân dẫn đến bệnh Alzheimer
7
a) Yếu tố sinh học
Khi nghiên cứu người bi bệnh Alzheimer, người
ta đã phát hiện có sự mất tế bào thần kinh và giảm thể
tích những vùng não chi phối trí nhớ, vùng đảm nhận
tâm thần kinh. Khi xem xét mô não về téâ bào học thấy
có tổn thương về mặt sinh học, đó là sự thoái hóa của
các mô thần kinh hoặc bò tổn thương chỉ còn lại những
ống nhỏ ngăn cản vận chuyển chất dinh dưỡng nuôi tế
bào thần kinh. Vấn đề này liên quan đến một Protein
tên là TAU. Trong những ngươi mắc bệânh Alzheimer
thấy có sự xuất hiện một Protein gọi là beta Amyloid, chúng không hòa tan nên tích tụ thành những
mảng keo. Beta Amyloid làm chết tế bào thần kinh, làm giảm chất trung gian dẫn truyền thần kinh
acetylcholine cần thiết cho trí nhớ. Beta Amyloid cũng ngăn cản sự vận chuyển ion kali, natri,
calcium qua màng tế bào (giúp cho quá trình truyền tín hiệu thần kinh). Sự có mặt của Protein
Amylioid precursor (APP) làm tăng khả năng hủy hoại tế bào thần kinh của beta Amyloid. Ngoài ra
còn có vai trò của một số chất Protein khác như ERAB, mảng AMI (giống beta Amyloid).

Những đặc điểm này thường là triệu chứng tiền lâm sàng của bệnh.
 Thời kỳ đầu
Một phần nhỏ trong số những bệnh nhân gặp khó khăn về ngôn ngữ, khó khăn về chức năng điều
hành, nhận thức (agnosia), hoặc chức năng thực hiện các hoạt động (apraxia). Bệnh không ảnh hưởng
đến tất cả các năng lực ký ức như nhau. Những kỷ niệm xưa, những điều đã được học (ngữ nghĩa, khái
niệm…), và tiềm thức bị ảnh hưởng ở một mức độ ít hơn những sự kiện vừa mới diễn ra. Đặc trưng của
vấn đề về ngôn ngữ chủ yếu là sự biểu hiện co lại của vốn từ vựng và giảm sự lưu loát từ, dẫn đến bần
9
cùng hóa ngôn ngữ nói và viết. Trong giai đoạn này, người bệnh Alzheimer vẫn có khả năng giao tiếp
cơ bản và vẫn thực hiện được các chức năng vận động như viết, vẽ hoặc mặc quần áo.
 Thời kỳ giữa
Người bệnh dần dần mất các khả năng thực hiện những vận động sinh hoạt hàng ngày, ngôn ngữ
bị xáo trộn, mất khả năng đọc viết. Trong giai đoạn này, các vấn đề ký ức trở nên kém dần đi, bệnh
nhân có thể không nhận ra những người thân quen như vợ/chồng, con cái, bạn bè… Các kỷ niệm lâu
năm cũng bị xóa dần. Hành vi và tâm lý cũng bị thay đổi, biểu hiện thường gặp là đi lang thang, khó
chịu, tâm lý bất ổn dẫn đến khóc, tấn công người khác 1 cách vô thức, hoặc phản kháng lại sự chăm sóc
của người thân, xuất hiện ảo tưởng và hoàn toàn không nhận thức được bệnh tình của bản thân mình,
mất kiểm soát chức năng tiêu tiểu.
 Thời kỳ cuối
Trong giai đoạn cuối, bệnh nhân hoàn toàn phụ thuộc vào người chăm sóc. Ngôn ngữ giảm thiểu chỉ
còn các cụm từ đơn giản hoặc thậm chí là những từ đơn, cuối cùng dẫn đến hoàn toàn mất tiếng nói. Dù
đã mất khả năng ngôn ngữ bằng lời nói, nhưng bệnh nhân thường có thể hiểu và trả lại các tín hiệu cảm
xúc. Bệnh nhân vẫn xuất hiện các động thái gây hấn, thờ ơ hoặc cực kỳ mệt mỏi. Bệnh nhân cuối cùng
không thể thực hiện ngay cả những công việc đơn giản nhất mà không cần trợ giúp, và liệt toàn thân.
Người bệnh Alzheimer sau đó thường sẽ chết bởi các tác nhân bên ngoài như nhiễm trùng, viêm phổi…
7) Điều trị bệnh Alzheimer
Có 3 phương thức cơ bản trong điều trị:
- Điều trị triệu chứng: nhằm cải thiện các triệu chứng về nhận thức hoặc làm giảm các rối loạn loạn
thần, rối loạn hành vi
- Điều trị duy trì sự ổn định: làm dừng lại sự sa sút trí tuệ hoặc làm giảm nhẹ tiến triển của bệnh.

phẩm loại này được gọi là các vaccine chống Amyloid
8) Phòng ngừa bệnh Alzheimer
11
Đã có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới cố tìm ra
những biện pháp nhằm giảm nguy cơ của bệnh, nhưng đến nay
vẫn chưa có kết quả vì nguyên nhân chính chưa được tìm ra. Do
đó ta chỉ có thể phòng ngừa mà thôi:
 Liệu pháp hoóc môn thay thế cả ở nam và nữ: nhiều
nghiên cứu trên thế giới cũng ghi nhận kết quả ở phụ nữ dùng
liệu pháp thay thế hoóc môn đều giảm được triệu trứng sa sút
trí tuệ. DHEA (dehydroepiandrosterone) dùng chống lão hóa
ở phụ nữ cũng làm giảm nguy cơ mắc Alzheimer. Ở nam giới thì liệu pháp thay thế bằng
testosteron có hiệu quả làm giảm nguy cơ mắc Alzheimer.
 Thuốc kháng viêm không steroid: nhiều nghiên cứu cho thấy dùng các thuốc kháng viêm loại
này sẽ chống lại sự tích tụ của beta Amyloid trong não.
 Statin: Đây là thuốc giảm cholesterol trong máu, một vài nghiên cứu cho thấy dùng statin
giảm được 70% nguy cơ bò sa sút trí tuệ.
 Chế độ ăn uống:
- Dầu mỡ: năng lượng từ chất béo chỉ nên ở mức dưới dưới 30% tổng nhu cầu hàng ngày.
- Rau quả sậm màu: Có tác dụng bảo vệ não chống lại sự lão hóa.
- Đậu nành: Có chứa một thành phần giống estrogen. Trên động vật thí nghiệm cho thấy đậu nành
có tác dụng bảo vệ chống lại bệnh Alzheimer. Đậu nành đặc biệt tốt cho phụ nữ sau mãn kinh.
- Rượu: Nếu dùng lượng vừa phải (một đến hai ly mỗi ngày) thì có tác dụng tốt bảo vệ não do kích
thích phóng thích acetylchotine (chất dẫn truyền thần kinh bị khiếm khuyết trong bệnh Alzheimer).
Tuy nhiên nếu dùng q nhiều sẽ gây hại, đặc biệt phụ nữ uống rượu sẽ tăng nguy cơ bị ung thư vú
và khơng được dùng khi có thai.
- Folate và vitamin B12: sẽ làm giảm hemocysteine (chất làm tăng nguy cơ Alzheimer và bệnh tim
mạch).
12
- Vitamin chống oxy hóa: chủ yếu là vitamin E và C, chống sự giải phóng gốc tự do làm tổn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status