1
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con ngời, quyền công dân là những yếu tố cơ bản, nền tảng
của một xã hội dân chủ, văn minh. T tởng về quyền con ngời (nhân quyền)
đã hình thành từ rất sớm trong lịch sử nhân loại; nhng không phải trong bất
cứ hình thái kinh tế - xã hội nào, trong bất cứ kiểu Nhà nớc nào nó cũng tồn
tại và đợc thừa nhận một cách đầy đủ. Vì thế, quyền con ngời là một phạm
trù lịch sử và là kết quả của cuộc đấu tranh không ngừng của toàn nhân loại
vơn tới những lý tởng, giải phóng hoàn toàn con ngời nhằm xây dựng một
xã hội thật sự công bằng, dân chủ, nhân đạo.
Giai cấp t sản khi thực hiện cách mạng t sản, đã coi nhân quyền nh
một vũ khí của mình để tranh giành quyền lực với giai cấp phong kiến và để
tập hợp lực lợng trong xã hội; do đó từ thế kỷ XVIII vấn đề nhân quyền đã
đợc giai cấp t sản đề cập đến nh Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc
Hoa Kỳ năm 1789, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789.
Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, chủ nghĩa phát xít bị
đập tan năm 1945, vấn đề nhân quyền đã trở thành mối quan tâm của cả Nhà
nớc xã hội chủ nghĩa và t bản chủ nghĩa, nên khi tổ chức Liên Hợp Quốc ra
đời thì vấn đề cơ bản, đầu tiên của tổ chức này là vấn đề nhân quyền. Nhân
quyền đã trở thành vấn đề quan trọng, thờng xuyên đợc đề cập đến trong
quan hệ quốc tế. Liên Hợp Quốc đã ban hành hàng loạt các văn kiện khẳng
định các quyền và tự do của tất cả mọi ngời, đặc biệt là Hiến chơng Liên
Hợp Quốc 1945 và Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngời 1948 thì vấn đề
nhân quyền đã chuyển sang một bớc ngoặt mới trong lịch sử nhân loại, trở
thành một quan hệ cơ bản đợc điều chỉnh bằng pháp luật quốc tế.
Đến nay quyền con ngời đã đợc ghi nhận, khẳng định trong Hiến
pháp của nhiều quốc gia trên thế giới.
2
ở Việt Nam, kể từ khi giành đợc độc lập (năm 1945), Đảng và Nhà
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên đây, việc nghiên
cứu làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá những thành tựu, u điểm đã đạt đợc và
làm rõ những khuyết điểm tồn tại của vấn đề giáo dục nhân quyền; đồng thời
xác định phơng hớng, nội dung, phơng pháp tiếp tục thực hiện giáo dục
nhân quyền trong điều kiện xây dựng Nhà nớc pháp quyền ở nớc ta hiện
nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách.
2. Tình hình nghiên cứu
- Vấn đề giáo dục quyền con ngời, quyền công dân đã đợc Liên Hợp
Quốc, các nhà khoa học pháp lý nớc ta và thế giới quan tâm nghiên cứu. Tuy
nhiên, có thể xuất phát từ quan điểm cho rằng giáo dục pháp luật đã bao hàm
cả giáo dục quyền con ngời, quyền công dân nên các nhà luật học nớc ta
mới chỉ tập trung nghiên cứu về giáo dục pháp luật mà cha quan tâm nghiên
cứu vấn đề giáo dục quyền con ngời, quyền công dân nh là một lĩnh vực
nghiên cứu độc lập, riêng biệt. Vì thế thời gian qua, ở nớc ta đã có rất nhiều
các công trình nghiên cứu về giáo dục pháp luật nh: "Giáo dục ý thức pháp
luật với việc tăng cờng pháp chế xã hội chủ nghĩa", luận án Phó tiến sĩ của
Trần Ngọc Đờng; "ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa và giáo dục pháp luật
cho nhân dân lao động (ở Việt Nam)", luận án Phó tiến sĩ của Nguyễn Đình
Lộc; "Giáo dục pháp luật cho nhân dân" của Nguyễn Ngọc Minh (Tạp chí
Cộng sản, số 10, 1983); "Giáo dục ý thức pháp luật để tăng cờng pháp chế
xã hội chủ nghĩa và xây dựng con ngời mới" của Phùng Văn Tửu (Tạp chí
Giáo dục lý luận, số 4, 1985); "Giáo dục ý thức pháp luật" của Nguyễn Trọng
Bình (Tạp chí Xây dựng Đảng, số 4, 1989); "Cơ sở khoa học của việc xây
dựng ý thức và lối sống theo pháp luật" đề tài khoa học cấp nhà nớc, mã số
07-17 do Viện Nhà nớc - Pháp luật thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và
4
nhân văn chủ trì; "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật
trong công cuộc đổi mới", đề tài khoa học cấp Bộ, mã số 92-98-223ĐT của
Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ T pháp; "Tìm kiếm mô hình phổ
biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả trong một số dân tộc ít ngời" đề tài
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ cơ sở lý luận về giáo dục quyền con ngời, quyền công dân.
- Đánh giá thực trạng giáo dục quyền con ngời, quyền công dân ở
nớc ta hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cờng công tác giáo dục quyền con
ngời, quyền công dân trong điều kiện xây dựng Nhà nớc pháp quyền ở
Việt Nam.
4. Giới hạn nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung vào vấn đề giáo dục quyền con ngời, quyền công
dân ở nớc ta hiện nay, qua khảo sát thực tiễn vấn đề này ở nớc ta thời gian qua.
5. Cái mới của luận văn
- Là công trình chuyên khảo nghiên cứu tơng đối có hệ thống về giáo
dục quyền con ngời, quyền công dân ở nớc ta hiện nay.
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, tính đặc thù của giáo dục quyền
con ngời, quyền công dân ở Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng và phân tích nguyên nhân, làm hạn chế hiệu
quả giáo dục quyền con ngời, quyền công dân ở nớc ta trong thời gian qua;
trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp góp phần thực hiện tốt vấn đề giáo dục
quyền con ngời, quyền công dân ở Việt Nam.
6
6. Phơng pháp nghiên cứu
- Luận văn đợc thực hiện trên cơ sở vận dụng quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về Nhà
nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, quan hệ giữa Nhà nớc pháp
quyền với quyền con ngời, quyền công dân, về giáo dục quyền con ngời,
quyền công dân ở nớc ta.
Luận văn đặc biệt coi trọng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử để nghiên cứu nhà nớc pháp quyền với việc giáo dục quyền con ngời -
quyền công dân; sử dụng phơng pháp thống kê, hệ thống, so sánh, phân tích,
tổng hợp để đánh giá thực trạng giáo dục quyền con ngời, quyền công dân ở
đợc công bố và đã có sự thúc đẩy đầu tiên đối với cuộc cách mạng châu Âu
thế kỷ XVIII" [57, tr. 65]. Tuyên ngôn này là cơ sở để xây dựng nên bản Hiến
pháp của Mỹ năm 1787.
Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, vấn đề nhân quyền càng trở nên
bức xúc và trở thành mối quan tâm sâu sắc của cộng đồng quốc tế. Trên cơ sở
8
đó, ngày 24-10-1945 tổ chức Liên Hợp Quốc ra đời và đã thông qua bản
"Hiến chơng Liên Hợp Quốc" với mục đích chính là vì vấn đề quyền con
ngời trên phạm vi toàn cầu. Tiếp đến, tháng 12-1948 Liên Hợp Quốc đã công
bố bản "Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền". Trên cơ sở này, hàng loạt văn
kiện quốc tế về nhân quyền đợc tuyên bố, ký kết và trở thành luật pháp quốc
tế về quyền con ngời.
ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thì Việt
Nam đã có một lịch sử truyền thống lâu đời, trải qua suốt quá trình dựng nớc
và giữ nớc về sự hình thành và đảm bảo quyền con ngời. Tuy nhiên, phải
đến khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công mới thực sự mở ra một
kỷ nguyên mới về quyền con ngời , thời kỳ mà quyền con ngời đợc đề cao,
đợc chính thức ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật.
Mặc dù vấn đề quyền con ngời, quyền công dân đã đợc hình thành
từ rất sớm trong lịch sử nhân loại. ở Việt Nam cũng vậy, nhng do nó đợc
nhìn nhận dới những góc độ khác nhau (triết học, chính trị học, kinh tế học,
luật học...), xuất phát từ những mục đích, màu sắc t tởng, lãnh địa chính trị của
các quốc gia khác nhau; nên mặc dầu đã có nhiều hội thảo quốc tế, nhiều công
trình nghiên cứu, nhng khái niệm quyền con ngời, quyền công dân vẫn tồn
tại một cách trừu tợng, chung chung và ngày càng trở nên mơ hồ, rắc rối hơn.
Do đó, nhận thức đúng đắn, đầy đủ về khái niệm quyền con ngời,
quyền công dân và nội dung của nó chính là cơ sở, nền tảng để xây dựng
phơng hớng, nội dung, phơng pháp, điều kiện cho việc thực hiện giáo dục
quyền con ngời, quyền công dân ở nớc ta hiện nay.
1.1.1.1. Khái niệm quyền con ngời (Nhân quyền)
- Quan niệm thứ ba: Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề
quyền con ngời. Quan niệm này đã khắc phục đợc tính phiến diện, phản
khoa học về con ngời, quyền con ngời ở các quan niệm trên.
Xuất phát từ quan niệm coi con ngời vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là
sản phẩm của xã hội, con ngời mặc dù vẫn là một thực thể tự nhiên nh các
10
loài động vật khác, nhng lại khác với loài động vật khác ở chỗ con ngời chỉ
thực sự tồn tại với t cách là một con ngời khi nó đợc tồn tại trong cộng
đồng xã hội. Hai mặt này tồn tại biện chứng trong một con ngời. Trong cái tự
nhiên của con ngời có mặt xã hội và trong cái xã hội của con ngời có mặt tự
nhiên. Mặt này trở thành tiền đề cho mặt kia trong mối quan hệ chặt chẽ
không thể tách rời. Xuất phát từ quan niệm này về quyền con ngời nên chủ
nghĩa Mác - Lênin cho rằng vấn đề quyền con ngời: "Về bản chất bao hàm
cả hai mặt tự nhiên và xã hội" [65, tr. 12].
Xét về mặt tự nhiên, C.Mác cho rằng, con ngời là "động vật xã
hội" [63, tr. 855] có khả năng "tái sinh ra con ngời", con ngời là động vật cao
cấp nhất trong quá trình tiến hóa. Do đó, về mặt này, cũng nh quan niệm thứ
nhất, quyền con ngời trớc hết là một thuộc tính tự nhiên. Quyền con ngời
không phải là một "tặng vật", do giai cấp thống trị ban phát thông qua nhà
nớc mà quyền con ngời trong hình thức lịch sử tự nhiên của nó mang bản
chất tự nhiên, đợc thể hiện ở quyền đợc sống, quyền tự do, quyền đợc sáng
tạo, phát triển, quyền đợc đối xử nh con ngời, xứng đáng với con ngời.
Xét về mặt thứ hai của quan niệm này, con ngời mặc dù là động vật
cao cấp nhất của tự nhiên, nhng ngay khi tiến hóa trở thành động vật cao cấp,
con ngời đã sống thành bầy đàn và trở thành sản phẩm của lịch sử xã hội.
Trong luận cơng thứ VI về Phoi-ơ-bắc, C.Mác cho rằng: "Trong tính hiện thực
của nó, bản chất con ngời là tổng hòa những quan hệ xã hội" [64, tr. 21].
Nh vậy, con ngời mặc dù vẫn là thực thể tự nhiên sinh học, là bộ phận của
tự nhiên, nhng bên cạnh đó, để đợc gọi là ngời nó còn phải tồn tại trong
cộng đồng xã hội, và biến đổi cùng với cộng đồng xã hội của mình. Bằng khả
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền con ngời không phải
chỉ là phép cộng đơn giản đối với hai quan niệm về quyền con ngời nêu trên,
mà từ phân tích nêu trên cho thấy bản chất hai mặt tự nhiên và xã hội của
12
quyền con ngời có những thuộc tính phức tạp và luôn có sự thống nhất giữa
hai mặt đối lập.
Nhận thức khái niệm quyền con ngời với đầy đủ bản chất, thuộc tính
của nó cho thấy quyền con ngời là một phạm trù phức tạp. Vì vậy, cần thiết
phải đa ra định nghĩa về quyền con ngời. Tuy nhiên, nếu chỉ đa ra định
nghĩa quyền con ngời với t cách là một phạm trù riêng biệt của chính trị
học, kinh tế học, triết học, luật học sẽ là điều phiến diện, không đầy đủ, vì nh
thế nó mới chỉ thể hiện đợc quyền con ngời dới góc độ khoa học, mà
không thể hiện đợc bản chất cũng nh tính đa diện của vấn đề này. Hay nói
cách khác, nó mới chỉ thể hiện trạng thái tĩnh của quyền con ngời.
Jacques Mourgon (giáo s đại học khoa học xã hội Toulouse) đa ra
định nghĩa: "Quyền con ngời là những đặc quyền đợc các quy tắc điều
khiển mà con ngời giữ riêng lấy trong các quan hệ của mình với các cá nhân
và với chính quyền" [68, tr. 12]. Định nghĩa này chủ yếu đề cập đến quyền
con ngời ở khía cạnh tự nhiên của nó.
Một học giả Việt Nam cho rằng:
Quyền con ngời là các khả năng của con ngời đợc đảm bảo
bằng pháp luật (luật quốc gia và luật quốc tế) về sử dụng và chi phối các
phúc lợi xã hội, các giá trị vật chất, văn hóa và tinh thần, sử dụng quyền
tự do trong xã hội trong phạm vi luật định và quyền quyết định các
hoạt động của mình và của ngời khác trên cơ sở pháp luật [31, tr. 34].
Định nghĩa này cũng mới chỉ đề cập đến quyền con ngời với t cách
là phạm trù luật học.
Chúng tôi nhận thức rằng, khái niệm quyền con ngời phải là một
phạm trù tổng hợp, bao hàm cả bản chất và những thuộc tính đa diện - nhiều
mặt của nó. Có một định nghĩa đang đợc sử dụng phổ biến trong giảng dạy,
mạng t sản đã biến con ngời (giai cấp thống trị trong xã hội) từ địa vị
thần dân trong nhà nớc quân chủ sang địa vị công dân trong nhà nớc
cộng hòa. Nghĩa là, khi đề cập đến khái niệm công dân là đề cập tới một bộ
phận con ngời, theo quy định của pháp luật với t cách là những thành
viên bình đẳng trong Nhà nớc, từ đó mà quyền con ngời đợc thừa nhận
một cách rộng rãi và bình đẳng với ý nghĩa là quyền công dân. Nhng
quyền công dân không phải và không bao giờ trở thành hình thức cuối cùng
của quyền con ngời, nó chỉ thể hiện mối quan hệ giữa công dân với Nhà
nớc và mối quan hệ đó đợc xác định thông qua một chế định pháp luật
đặc biệt là chế định quốc tịch.
Hiện vẫn tồn tại một số khái niệm khác nhau về quyền công dân:
- Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì quyền công dân là: "Quyền của
ngời công dân đợc thừa nhận, bao gồm quyền tự do dân chủ và các quyền
về kinh tế - văn hóa xã hội" [104, tr. 1384]
- Theo tiến sĩ Nguyễn Đình Lộc, "quyền công dân - đó là sự thể chế
hóa về mặt nhà nớc bằng pháp luật địa vị con ngời trong khuôn khổ nhà
nớc, là sự thừa nhận, trong chừng mực mà nhà nớc chấp nhận, địa vị con
ngời của cá nhân trong nhà nớc [91, tr. 75].
Thạc sĩ Vũ Công Giao cho rằng: "Quyền công dân là tập hợp những
quyền tự nhiên đợc pháp luật của một nớc quy định, mà tất cả những ngời
có chung quốc tịch của nớc đó đợc hởng một cách bình đẳng" [36, tr. 21].
Theo chúng tôi, các khái niệm trên tuy có sự diễn đạt khác nhau,
nhng về bản chất, nội dung đều xuất phát từ khái niệm về quyền công dân
của C. Mác. Về vấn đề này C. Mác cho rằng: "Quyền công dân là những quyền
chính trị, những quyền cá nhân con ngời, với t cách là thành viên "xã hội
công dân" [57, tr. 14].
Nh vậy, khái niệm công dân, quyền công dân ra đời sau quyền con
ngời, nó gắn liền và đợc sử dụng rộng rãi trong xã hội t sản.
15
So với khái niệm quyền con ngời thì khái niệm quyền công dân mang
ngời. Từ cuối thế kỷ XIX đến nay, nó ngày càng trở thành yếu tố quan trọng.
Từ phân tích trên cho thấy, khái niệm quyền con ngời, quyền công
dân tuy có mối quan hệ gần gũi, mật thiết nhng không đồng nhất cả về chủ
thể lẫn nội dung. Tuy nhiên, hoàn toàn không có sự đối lập giữa quyền con
ngời và quyền công dân. Trong mối quan hệ giữa hai vấn đề này thì quyền
con ngời là khái niệm rộng hơn bao hàm cả quyền công dân, còn quyền công
dân là một thành tố, một bộ phận thiết yếu cơ bản của nó. Quyền con ngời
không thể thay thế quyền công dân, đồng thời quyền công dân không thể chứa
đựng hết dung lợng của quyền con ngời. Về chủ thể, chủ thể quyền con
ngời cũng rộng hơn chủ thể quyền công dân vì ngoài những cá nhân là công
dân, chủ thể quyền con ngời còn bao gồm cả những ngời không phải là
công dân nh đã ngời nớc ngoài, ngời không quốc tịch.
Nhận xét về vấn đề này, C.Mác - Ph.Ăngghen cho rằng:
Quyền con ngời và quyền công dân là hai khái niệm có nội
dung và ý nghĩa khác nhau, nhng không thể tách biệt đến mức đối
lập, mà về thực chất chúng thống nhất với nhau. Quyền con ngời
phải "thu hút" đợc quyền công dân vào nội dung của nó, vì chúng
nằm trong một chỉnh thể thống nhất, phản ánh tổng thể nhu cầu của
con ngời hiện thực trong điều kiện còn tồn tại Nhà nớc [57, tr. 14].
Và "Vì vậy, Mác - Ăngghen đã sử dụng cả hai khái niệm Quyền con
ngời và Quyền công dân" [57, tr. 14].
1.1.2. Khái niệm giáo dục quyền con ngời, quyền công dân
1.1.2.1. Các quan niệm khác nhau về giáo dục quyền con ngời,
quyền công dân
Hiện đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về giáo dục quyền con
ngời, quyền công dân.
17
- Quan niệm của giai cấp t sản: Các nớc t bản hiện đang rất quan
tâm đến vấn đề giáo dục quyền con ngời. Vấn đề này đợc các nớc phơng
Tây thực hiện thờng xuyên, liên tục cho mọi đối tợng cả trong phạm vi quốc
những miền hẻo lánh, chúng tôi đã đa điều ấy tới chỗ cực đoan.
Tôi lấy làm buồn vì sự tan vỡ của gia đình và cộng đồng Mỹ.
Tôi kinh tởm bạo lực trong nền văn hóa của chúng tôi. ấy là tôi đặc
biệt nghĩ đến một sự kiện lịch sử nh sự phá hủy văn hóa và các dân
tộc thổ dân Mỹ, sự bóc lột nô lệ da đen châu Phi trong khi xây dựng
kinh tế quốc gia... [3, tr. 50].
+ Khi phân tích về quan hệ giai cấp ở Mỹ, trong tác phẩm "Lối sống
Mỹ" (đã xuất bản ở 9 nớc, bằng 7 ngôn ngữ khác nhau) A.R.Lanier đã viết:
... Hoa Kỳ thờng tự hào là một xã hội không giai cấp.
Khách lạ dễ thấy ở Mỹ lơng cao và mức sinh hoạt cao, quần áo các
kiểu may sẵn hàng loạt, ăn nói bỗ bã, hay sử dụng tên cúng cơm...
Thực ra thì có giai cấp, bắt đầu ngay từ khu vực ở. Có điều là ranh
giới giai cấp ấy rất dễ bị hủy bỏ, chỉ cần có nghị lực và thành công.
Biết bao nhiêu ngời giàu sang xuất thân hàn vi. Ngời Mỹ lại thay
đổi chổ ở luôn; trong 5 gia đình, có 1 cứ ba năm lại dọn nhà một lần.
Với tâm lý tự lực, không có thành kiến giai cấp nh ở nớc khác.
Giai cấp gắn với gia đình. Từ thế chiến II, gia đình Mỹ càng
lỏng lẻo; thành công cá nhân ít có ảnh hởng đến gia đình, do đó,
khái niệm giai cấp cũng có phần mờ nhạt hơn. Ngày nay, các khái
niệm chủng tộc, gốc rễ dân tộc, địa phơng... thờng át khái niệm
giai cấp. Vị trí xã hội không phải là một yếu tố ổn định, thừa hởng
của giai cấp nh nhiều nơi khác" [78, tr. 152].
ở Pháp, quốc gia đợc coi là cái nôi của quyền tự do công dân khi từ
năm 1789 đã công bố bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền nổi tiếng.
19
Nội dung Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp gần đây nhất tiếp
tục đợc thể hiện trong Hiến pháp của Cộng hòa Pháp năm 1958, đã toát lên
t tởng chủ đạo của nó là:
Hoạt động tự do của con ngời là một quyền tự nhiên, vì
vậy, không cần phải liệt kê lại những quyền gì là đợc phép: tất cả
(mục 4 Điều 34, mục 2 Điều 72 Hiến pháp Pháp) đều đợc coi là "nền tảng để
tôn cao quyền tự do của cá nhân, của công dân cũng nh quyền chiếm giữ và
phân chia tài sản riêng" [47, tr. 373]. Nh vậy, nghĩa vụ của bộ máy nhà nớc
là phải đảm bảo thực hiện đúng pháp luật và trách nhiệm của mình để bảo đảm
tôn trọng và thực hiện ở mức độ cao nhất các quyền, tự do của công dân.
ở Đức, quyền công dân bắt đầu đợc ghi nhận trong Hiến pháp từ năm
1818 - 1819 (Hiến pháp Baria và Bađen năm 1818, Nurtemberg năm 1819),
khi đó, nớc Đức còn đang ở trong thời kỳ quân chủ lập hiến. Đây là thời kỳ
chuyển giao giữa chế độ phong kiến và chế độ t bản chủ nghĩa nên thời kỳ
này đã có một sự dung hòa, thích nghi giữa trật tự pháp luật quân chủ tuyệt
đối với những đòi hỏi về kinh tế và chính trị của giai cấp t sản mà trong đó,
cái ảnh hởng to lớn là những t tởng của chủ nghĩa tự do kinh tế. T tởng
này đã trở thành căn cứ nền tảng cho việc hình thành nên những quyền và tự
do công dân có tính kinh điển đang dần đợc xác nhận trong pháp luật thực
định và tồn tại trong các Hiến pháp, văn bản pháp luật của nớc Đức sau này.
Điều 1 Luật cơ bản của Đức quy định: "Việc tôn trọng và bảo vệ các quyền của
con ngời đợc tuyên bố là nguyên tắc cơ bản của toàn bộ quyền lực nhà
nớc" [47, tr. 410]. Nguyên tắc quyền tự chủ của nhân dân và học thuyết
quyền tự nhiên đợc tiếp tục thể hiện ở Điều 4 Luật cơ bản khi nội dung của
điều luật này tuyên bố cấm vi phạm và xuyên tạc các quyền của con ngời.
Chỉ tập trung giáo dục các quyền dân sự và chính trị:
Quyền chính trị, dân sự vừa là mục đích, vừa là động lực của cách
mạng t sản. Vấn đề này tiếp tục đợc đề cao trong quá trình phát triển của
21
chủ nghĩa t bản vì những lý do chính trị của giai cấp t sản. Hiện nay, một số
nhà khoa học, nhà chính trị t sản vẫn tiếp tục phủ nhận ý nghĩa của các
quyền về kinh tế - xã hội đối với toàn bộ các quyền về chính trị, dân sự và các
quyền, tự do khác của con ngời. Họ cho rằng các quyền dân sự, chính trị có
tầm quan trọng hàng đầu trong việc đảm bảo thực hiện các quyền con ngời.
Thậm chí, họ còn phủ nhận cả trách nhiệm pháp lý của các quốc gia trong việc
chế mình để nuôi sống bộ phận nghèo khổ trong xã hội. Điều này tuy đang
đợc khuyến khích ở các nớc t bản nhng nó lại đợc coi là hoạt động từ
thiện chứ không phải là sự tôn trọng và bảo vệ các quyền xã hội và kinh tế của
công dân. Hay nói rõ hơn, nó không phải là một quyền của công dân.
Về vấn đề này, chúng ta cũng có thể thấy đợc rất rõ trong hệ thống pháp
luật của Cộng hòa Liên bang Đức. Hiến pháp năm 1848 của Đức lần đầu tiên ghi
nhận một số quyền xã hội, phản ánh ảnh hởng của t tởng xã hội - dân chủ, thể
hiện sự quan tâm đến quyền lợi của giai cấp khác ngoài giai cấp t sản, thể hiện
quan niệm mới về quyền con ngời không chỉ là các quyền chính trị và dân sự.
Tuy nhiên, trong thực tế, các quyền này đợc phân biệt rất rõ ràng:
... đồng thời với việc các quyền chính trị và tự do công dân
đợc xem nh là những quyền có tính chất truyền thống, tức là
những bảo đảm chống lại sự tùy tiện của các cơ quan thừa hành và
hành chính, ngời ta coi các quyền xã hội nh là những giá trị có
tính chất cơng lĩnh nhất thời, chứ không hề có tính bắt buộc phải
thực hiện" [55, tr. 403].
Trong Hiến pháp năm 1949 của Cộng hòa Liên bang Đức, trong khi
các quyền và tự do cơ bản (quyền dân sự và chính trị "tự do" truyền thống)
đợc ghi rõ thuộc loại đầu thì lại không có những quy phạm đảm bảo cho các
quyền xã hội và những trờng hợp làm hại quyền xã hội không thể là căn cứ
để khiếu nại lên tòa án Hiến pháp.
23
Giáo dục quan điểm về quyền con ngời là tuyệt đối, vĩnh hằng,
phổ biến:
Chủ nghĩa nhân bản trừu tợng của giai cấp t sản cho rằng, nhân
quyền là quyền lợi vốn có không thể tớc đi đợc của con ngời với t cách là
con ngời. Mà quyền con ngời do "luật lệ của tự nhiên và của đấng tạo hóa
đã cho họ đợc hởng" [93, tr. 15] hoặc do "Quốc hội thừa nhận và tuyên bố,
với sự chứng kiến và sự bảo hộ của đấng tối cao, các quyền sau đây của con
ngời và của công dân" [94, tr. 21].
con ngời. Quyền con ngời là phổ biến, không thể chia tách và phụ
thuộc lẫn nhau. Nhân quyền là cái làm nên nhân loại chúng ta. Đó
là những nguyên tắc mang tính cơ sở để chúng ta thiết lập cái ngôi
nhà thiêng liêng cho phẩm giá loài ngời... Khi chúng ta nói về
quyền sống, hoặc về quyền phát triển, hoặc về quyền đợc bất đồng
quan điểm và có sự khác biệt, có nghĩa là chúng ta đang nói về
khoan dung. Khoan dung nếu đợc tăng cờng, bảo vệ và ghi nhận,
sẽ bảo đảm cho tự do của tất cả chúng ta. Thiếu sự khoan dung chắc
chắn chúng ta sẽ không làm đợc gì... tính phổ biến của nhân quyền
sẽ cho nhân quyền sức mạnh. Nó là động lực để nhân quyền liên kết
các biên giới quốc gia, vợt qua mọi trở ngại, thách thức và bạo
lực... Cuộc đấu tranh cho các quyền con ngời trên toàn cầu luôn
diễn ra ở khắp mọi nơi và đã là cuộc đấu tranh chống trả tất cả các
hình thức chuyên chế tàn bạo và sự bất công, chống lại tình trạng nô
lệ, chống lại chủ nghĩa thực dân, chống lại chủ nghĩa A-pac-thai.
Ngày hôm nay, cuộc đấu tranh đó cha hề giảm sức mạnh và cha
bị khác trớc [50, tr. 1].
Nhân dịp này, Mary Robinson - Đại diện cho Cao ủy Liên Hợp Quốc
cũng có một thông điệp:
25
Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về nhân quyền nguyện
hỗ trợ tất cả những ai hành động theo t tởng của Tuyên ngôn thế
giới về nhân quyền với những dòng mở đầu nh sau:
Thừa nhận phẩm giá vốn có cùng các quyền bình đẳng, bất
di bất dịch của tất cả các thành viên trong cộng đồng nhân loại là
nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới [66, tr. 3].
Nh vậy, mục đích của vấn đề giáo dục nhân quyền của Liên Hợp Quốc
chính là: "Xây dựng một nền văn hóa nhân quyền toàn cầu và cho phép mọi
ngời đợc hởng các quyền - giáo dục nhân quyền ở mọi cấp độ và cho tất cả
mọi ngời - xây dựng mối quan hệ hợp tác trên toàn cầu vì nhân quyền - thúc