MỤC LỤC
PHẦN I
KHÁI QUÁT VỀ TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của tổng công ty giấy Việt Nam
Ngày 30/4/1975, Sau giải phóng Miền nam, để tiện cho việc quản lý ngành,
6/1976, Nhà nước ta thành lập Công ty Giấy Gỗ Diêm phía bắc và Công ty Giấy Gỗ
Diêm phía Nam.
Ngày 21/6/1978, theo quyết định 142/CP của hội đồng Chính phủ về việc đổi
mới cơ chế quản lý, Xí nghiệp Giấy Gỗ Diêm toàn quốc được hình thành trên cơ sở
hợp nhất của hai công ty Giấy Gỗ Diêm phía Bắc và phía Nam.
Ngày 6/10/1982, theo quyết định số 519/CNn – TCCB Liên hiệp các xí nghiệp
Giấy Gỗ Diêm toàn quốc được tách thành hai: Liên hiệp các xí nghiệp Giấy số I và
Liên hiệp các xí nghiệp Giấy số II.
Ngày 30/11/1987 các liên hiệp xí nghiệp Giấy số I và Giấy số II được đổi tên trở lại
thành Liên hiệp các Xí nghiệp Giấy Gỗ Diêm số I và Liên hiệp Giấy Gỗ Diêm số II
nhằm đổi mới cơ chế quản lý và hoạt động.
Ngày 13/08/1990 theo quyết đính số 368/CNn -TCLĐ hợp nhất Liên hiệp
các xí nghiệp Giấy Gỗ Diêm I và Liên hiệp các xí nghiệp Giấy Gỗ Diêm II thành
Liên hiệp sản xuất nhập khẩu Giấy Gỗ Diêm toàn quốc, nhằm thực hiện chủ trương
tiếp tục đổi mới tổ chức quản lý các liên hiệp các xí nghiệp quốc doanh, tăng cường
quyền tự chủ cho các đơn vị cơ sở, gắn sản xuất của ngành với thị trường trong và
ngoài nước. Tên thương mại của liên hiệp là ViPimex. Trụ sở liên hiệp đặt tại 18C
Phạm Đình Hổ - Hai Bà Trưng – Hà Nội. Cơ quan thường trực phía Nam đặt tại số
9 – 19 Hồ Tùng Mậu – Quận I – TP HCM.
Ngày 22/03/ 1993 Bộ Công Nghiệp Nhẹ ra quyết định số 104/CNn – TCLĐ để
chuyển đổi tổ chức và hoạt động của liên hiệp sản xuất Xuất nhập khẩu Giấy Gỗ
Diêm thành Tổng Công ty Giấy Gỗ Diêm Việt Nam nhằm chuyển mạnh hoạt động
của liên hiệp phù hợp với cơ chế thị trường, mở rộng quyền tự chủ của các thành
viên trong sản xuật kinh doanh va phù hợp với nghị định số 388/HĐBT ngày
1
20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng. Tên giao dịch đối ngoại là VINAPIMEX . Trụ
phụ thuộc; 10 phòng ban chức năng; 06 đơn vị hạch toán báo sổ; 02 công ty con;
03 đơn vị sự nghiệp và 17 công ty liên kết. Tổng Công ty Giấy Việt Nam có 9.754
CBCNV- LĐ (trong đó trình độ trên Đại học có: 31 người; Đại học và Cao đẳng:
1.330 người; Trung cấp: 524 người; Công nhân: 7.869 người). Năng lực sản xuất tại
Nhà máy Giấy Bãi Bằng là 78.000 tấn Bột giấy/năm và 125.000 tấn Giấy/năm; tại
Công ty Giấy tissue Sông Đuống: 20.000 tấn Bột Giấy/năm và 10.000 tấn Giấy
Tissue/năm; Nhà máy bột, giấy Thanh Hoá với công suất 100.000 tấn bột giấy và
100.000- 120.000 tấn giấy/năm (gồm giấy in, giấy viết và giấy in báo); Nhà máy
Bột giấy Phương Nam, công suất: 100.000 tấn bột giấy/năm và đang triển khai xây
dựng nhà máy bột giấy 250.000 tấn/năm tại Bãi Bằng - Phù Ninh- Phú Thọ với chất
lượng sản phẩm và môi trường đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Tổng công ty Giấy Việt Nam là doanh nghiệp Nhà nước thuộc Bộ Công nghiệp
và chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Công Nghiệp, các Bộ, cơ quan trực thuộc chính
phủ , UBND tỉnh và Thành phố trực thuộc Trung ương. Tổng công ty Giấy là doanh
nghiệp hạch toán kinh tế độc lập, có đầy đủ tư cách pháp nhân, có tài khoản tại ngân
hàng và có con dấu giao dịch theo quy định của Nhà nước.
- Tên công ty: Tổng Công Ty giấy Việt Nam
- Tên viêt tắt tiếng anh:VINAPACO
- Trụ sở chính : 25A – Lý Thường Kiệt – Quận Hoàn Kiếm – Hà Nội
- Điện thoại: 04 8 247 773
- Fax : 04 8 260 381
- Mã số thuế : 0101439900
1.2 Các đơn vị thành viên và các đơn vị sự nghiệp
1.2.1 Đơn vị hành chính sự nghiệp
- Văn phòng Tổng Công ty
- Công ty giấy Việt Trì
- Nhà máy giấy Vạn Điểm
- Nhà máy giấy Hòa Bình
3
- Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ
Nam, được thành lập ngày 1 tháng 8 năm 2006, gồm 6 đơn vị chuyên môn và bộ
phận nghiệp vụ.
- Phòng Quản trị.
- Phòng Bảo vệ.
- Phòng Y tế.
- Khách sạn Giấy Bãi Bằng.
- Nhà Văn hóa Giấy Bãi Bằng.
- Trường mầm non Giấy Bãi Bằng.
- Bộ phận nghiệp vụ.
Tổ chức các hoạt động dịch vụ phục vụ cho hoạt động của Tổng công ty
Giấy Việt Nam: phục vụ bữa ăn công nghiệp, bồi dưỡng chống độc hại bằng
hiện vật, sắp xếp phục vụ nhà ở tập thể; Tổ chức thực hiện công tác y tế doanh
nghiệp, chăm sóc sức khỏe, khám và điều trị bệnh cho cán bộ công nhân viên;
Tổ chức thực hiện công tác bảo vệ, phòng chống cháy nổ và công tác dân quân
tự vệ cho doanh nghiệp.
1.2.4 Nhà máy hóa chất
Tổ chức quản lý sản xuất các loại hoá chất cấp cho các đơn vị của Tổng công ty.
Tổ chức công tác xử lý chất thải., vệ sinh công nghiệp trong phạm vi nhà
máy Hoá chất theo quy định của Tổng công ty.
Thực hiện hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2000 tại
Nhà máy.
Phối hợp với các đơn vị chức năng làm tốt công tác kỹ thuật an toàn, phòng cháy
chữa cháy. Lập biên bản sự cố kỹ thuật, biên bản tai nạn lao động trong đơn vị.
1.2.5 Nhà máy điện
Quản lý thiết bị, tổ chức sản xuất đảm bảo cung cấp toàn bộ nguồn năng
lượng phục vụ cho các nhu cầu sản xuất giấy của Tổng công ty Giấy Việt Nam.
5
Tổ chức sản xuất đảm bảo cung cấp đầy đủ, liên tục, có chất lượng các sản
phẩm điện, hơi, điện, dịch xanh, khí nén cho công đoạn sản xuất bột giấy, giấy, hoá
chất tại Bãi Bằng.
hiệu quả hơn. Đồng thời Tổng công ty đàu tư thực hiện các nhiệm vụ chủ sở
hữu, cổ đông, thành viên góp vốn tại các công ty con, công ty liên kết.
1.4 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2007 - 2011 và phương
hướng kinh doanh tương lai.
Bảng :Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2007 - 2011
Năm
Chỉ tiêu
2007 2008 2009 2010 2011
Giá trị tổng sản lượng công
nghiệp (1000đ)
1,461,752,578 1,634,651,273 1,900,453,221 2,392,754 2,883,2
Doanh thu (1000đ) 1,984,162,785 2,142,562,232 1,800,982 2,100,432,223 2,137,000
Số lượng lao động (người) 8,721 8,830 8,500 8,200 7,915
Thu nhập bình quân
(đ/người/tháng)
4,120,000 4,235,000 4,034,000 4,420,000 4,755,000
(Nguồn : Phòng tài chính kế toán)
Qua bảng trên cho thấy tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2007 đạt
kết quả tốt với doanh thu 1,984 tỉ đồng lương bình quân công nhân toàn công ty
4.120 triệu. Tuy nhiên giai đoạn 2008 – 2010 ảnh hương của khủng hoang kinh tế
nên lượng công nhân bị cắt giảm, tuy nhiên tình hình sản xuất kinh doanh của Tổng
công ty vẫn khá ổn định. Lương bình quân công nhân toàn công ty năm 2011 đạt
mức khá cao so với các ngành nghề khác.
Năm 2011 mặc dù sản xuất kinh doanh gặp rất nhiều khó khăn song Tổng công
ty Giấy Việt Nam từng bước khắc phục những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng
kinh tế, sản xuât kinh doanh tăng trưởng so với năm trước, đảm bảo đủ việc làm và
ổn định thu nhập cho người lao động. Giá trị sản xuất công nghiệp toàn Tổng công
ty đạt 2,883 tỷ đồng, bằng 91% kế hoạch năm và bằng 101% so với thực hiện cùng
kỳ năm trước. Doanh thu toàn Tổng công ty đạt 2,137 tỷ đồng, bằng 106% kế hoạch
năm và bằng 127% so với thực hiện cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận dự kiến đạt 114
Giá trị sản xuất
CN
Tỷ đồng 2,983 3,146 3,318.60 3,674.80 3,821.60
Doanh thu Tỷ đồng 3,345 3,911 4,229.6 4,773.3 6,031.4
Lợi nhuận Tỷ đồng 130.3 143.1 160.8 196.4 248.4
Sản phẩm giấy Tấn 115,500 131,500 149,511 169,534 249,654
Mặt hàng Tấn
Giấy in viết Tấn 105,000 120,300 130,547 150,871 230,786
Giấy vệ sinh Tấn 10,500 11,000 13,000 16,000 19,000
Giấy khác Tấn
sản phẩm bột giấy Tấn
Sản phẩm khai
thác
Tấn 208,573 326,000 338,000 360,000 390,000
gỗ nguyen liệu
Trồng rừng
nguyên
hecta 3,505 7,550 9,070 9,100 9,100
liệu giấy
(Phòng : Tài chính kế toán)
8
PHẦN II
THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI
TỔNG CÔNG TY GIẤY VIÊT NAM
2.1 Cơ cấu tổ chức của Tổng Công ty giấy Việt Nam
9
Ban kiểm soát
Tổng giám đốc
Hội đồng quản trị
Phòng
máy
giấy
Nhà
máy
hoá
chất
Nhà
máy
điện
Xí
nghiệp
bảo
dưỡng
Xí
nghiệp
dịch
vụ
Xí
nghiệp
vận tải
Các đơn vị hạch toán phụ thuộc
3 Chi nhánh
BQLDA Bãi Bằng giai đoạn 2
- 18 Công ty
16 Lâm trường
Văn phòng
P.TG
Đ
P.TGĐ
P.TGĐ
10
Thực hiện chức năng pháp chế trong Tổng công ty; rà soát, kiểm tra việc thực
hiện các loại văn bản Tổng công ty được phép ban hành.
- Phòng Tổ chức lao động:
Tham mưu cho Tổng giám đốc và tổ chức thực hiện các lĩnh vực: Tổ chức, cán
bộ, đào tạo, lao động tiền lương, thanh tra, thi đua khen thưởng, kỷ luật.
- Phòng Tài chính kế toán:
Tham mưu cho Tổng giám đốc và tổ chức thực hiện các lĩnh vực: Tài chính và
kế toán, tổng hợp về vốn, chi phí sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của toàn Tổng công ty. Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn công tác
kế toán, hạch toán kinh tế ở các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc và hạch toán
báo sổ; thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát tài chính theo qui định của Nhà nước.
- Phòng kế hoạch:
Tham mưu cho Tổng giám đốc và tổ chức thực hiện các lĩnh vực: kế hoạch sản
xuất kinh doanh và chiến lược phát triển của Tổng công ty.
- Phòng xây dựng cơ bản:
Tham mưu cho Tổng giám đốc và thực hiện các lĩnh vực: quản lý đầu tư xây
dựng cơ bản và triển khai thực hiện các dự án đầu tư trong phạm vi toàn Tổng công
ty.
- Phòng kỹ thuật:
Tham mưu cho Tổng giám đốc và tổ chức thực hiện các lĩnh vực: quản lý kỹ
thuật công nghệ và môi trường, chất lượng sản phẩm, kế hoạch bảo dưỡng kĩ thuật an
toàn - bảo hộ lao động; xây dựng chiến lược phát triển sản xuất bột và giấy trong Tổng
công ty; nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ sản xuất và bảo vệ môi trường.
- Phòng xuất nhập khẩu và thiết bị phụ tùng:
Tham mưu cho Tổng giám đốc và tổ chức thực hiện các lĩnh vực: xuất khẩu
các mặt hàng của Tổng công ty; nhập khẩu và mua sắm thiết bị, phụ tùng, vật liệu
đáp ứng yêu cầu bảo dưỡng, sửa chữa và thay mới, bảo đảm các dây chuyền sản
xuất của Tổng công ty và các đơn vị thành viênthuộc Tổng công ty.
11
(người)
Tỷ lệ
(%)
Lao động nữ
(người)
Tỷ lệ
(%)
1 Tổng số 7,915 100 3,256 41,14
2 Trên đại học 50 0.63 15 30,0
3 Đại học và Cao đẳng 1,530 19,33 675 44,12
4 Trung cấp 466 5,88 119 25,5
5 Công nhân kỹ thuật bậc 2 - 5 3,419 43,19 1,018 29,77
6 Công nhân kỹ thuật bậc 6 - 7 863 10,9 242 28
7 Lao động phổ thông 1,587 20,05 1,187 74,79
(Nguồn : phòng tổ chức lao động)
Hiện nay Tổng công ty Giấy Việt Nam đang thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ lao
động trình độ cao, được đào tạo chuyên sâu, có đủ trình độ ngoại ngữ và chuyên môn
để đảm nhận công việc tại các dự án mới đã và đang được triển khai của Tổng công
ty. Sau khi nền kinh tế đang dần trở lại ổn đinh sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế
giới, việc phát triển sản xuất kinh doanh là điều tất yếu, do vậy việc thu hút thêm lao
động là rất cần thiết cho Tổng công ty trong giai đoạn tới.
Do cơ chế thị trường và sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ của các doanh
nghiệp thuộc ngành công nghiệp Giấy nói riêng và của các ngành kinh tế khác nói
chung mà một số cán bộ có năng lực, trình độ chuyên môn cao về kỹ thuật và quản
lý của Tổng công ty Giấy Việt Nam đã chuyển sang làm việc cho các đơn vị bên
ngoài với mức thu nhập cao hơn, gây ra không ít xáo trộn về mặt nhân lực cho đơn
vị. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp sản xuất của Tổng công ty Giấy Việt Nam nói
riêng và của ngành giấy nói chung thường đặt tại các tỉnh gần vùng nguyên liệu
(thường là các vùng sâu vùng xa, kinh tế chưa phát triển, điều kiện cuộc sống khó
khăn) nên chưa thật sự hấp dẫn trong việc thu hút lực lượng lao động có trình độ
của việc đào tạo phổ biến này trong hồ sơ nhân sự.
14
- Tham mưu xây dựng kế hoạch, chươgn trình và tổ chức đào tạo nâng cao
bồi dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cho các cán bộ công nhân viên trong
toàn Tổng công ty.
- Thống kê, tổng hợp báo cáo tình hình lao động, đánh giá chất lượng lao
động trên cơ sở đó tham mưu đề xuất trong việc tuyển dụng, khai thác, bố trí sử
dụng lao động hiệu quả.
2.2.1.3 Trả công lao động
- Nghiên cứu, tham mưu đề xuất, xây dựng các qui chế phân phối thu nhập,
chế độ tiền công, tiền lương tiền thưởng trình Tổng giám đốc ban hành áp dụng
đồng bộ trong toàn Tổng công ty. Đồng thời hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và thực
hiện các quy chế trên tại tất cả các đơn vị thanh viên Tổng công ty.
- Quản trị hệ thống phần mềm nhân sự , chấm công lao động, tiền lương.
Trực tiếp thực hiện nghiệp vụ tính lương hoặc quản lý nghiệp vụ tính lương ở các
đơn vị thep phân cấp đã được Tổng giám đốc phê duyệt
- Tham mưu đề xuất và thực hiện các chế độ phúc lợi, đãi ngộ vật chất khác
ngoài tiền lương, tiền công đối với người lao động.
2.2.1.4 Quan hệ lao động
- Ngiên cứu xây dựng thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động trình
Tổng giám đốc và Công đoàn Tổng công ty phê duyệt, đăng ký với các cơ quan
chức năng quản lý. Đông thời phối hợp với các công Đoàn tuyên truyền, phổ biến,
tổ chức thực hiện đúng thỏa ước và nội quy đã ban hành.
- Tham mưu với lãnh đạo Tổng công ty trong việc thực hiện các chế độ
chính sách ( hợp đồng lao động, BHXH, BHYT, BHTN ) đối với người lao động
theo đúng luật và các quy địnhcủa Nhà nước, chính sách của Tổng công ty. Hướng
dẫn các đơn vị, người lao động và trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến
giải quyết chế đọ chính sách đối với người lao động.
- Chủ trì hoặc phối hợp với các bộ phận liên quan trong việc giải quyết các
tranh chấp về quyền lợi, nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi có phát sinh.
- Quản lý hồ sơ, văn bản của Tổng công ty và các văn bản có đăng ký lấy số,
đóng dấu Tổng công ty. Đồng thời tham gia hội đồng hủy hồ sơ, văn bản theo đúng
quy định Nhà nước.
- Chuẩn bị các điều kiện và tổ chức các chuyến đi công tác vủa lãnh đạo
Tổng công ty và các đoàn thể cán bộ quản lý do Tổng công ty cử.
- Quản lý cơ sở vật chất các phòng làm việc của lãnh đạo Tổng công ty các
phòng chuyên gia, phòng họp, phòng khách đảm bảo luôn luôn sạch đẹp. Phục vụ
vật chất tiếp khách tại phòng làm việc của ban giám đốc và phòng khách của Tổng
công ty.
- Quản lý phòng truyền thống, lưu trữ và trưng bày các hiện vật, hình ảnh
- Lưu trữ các loại giấy tờ gốc hiện vật của Tổng công ty
2.1.1.7 Quản trị đời sống
- Quản trị, khai thác có hiệu quả các công trình có sẵn được Tổng giám đốc
giao theo quy định của Tổng công ty và pháp luật của nhà nước.
- Quản lý và thực hiện các công tác vệ sinh môi trường cảnh quan
chung của Tổng công ty
2.1.1.8 Thường trực hội đồng bảo hộ lao động
- Tham mưu cho Tổng giám đốc hoạch định các chính sách an toàn bảo hộ
lao động, môi trưởng của Tổng công ty phù hợp với các quy định pháp luật hiện
hành.
- Thường xuyên định kỳ tổ chức kiểm tra, giám sát việc thự hiên công tác
bảo hộ lao động tại tất cả các đơn vị trong toàn Tổng công ty.
Bảng Mô Hình hoạt động Phòng Tổ chức lao động Tổng công ty giấy Viêt Nam
17
2.3 Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Tổng công ty
2.3.1 Xác định nhu cầu đào tạo và phát triển
• Việc xác định nhu cầu đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Tổng công ty
được tiến hành như sau:
Căn cứ vào kết quả thực hiện công việc của người lao động, khối lượng công
việc cần hoàn thành, nhu cầu học tập của người lao động, nhu cầu cán bộ chuyên
định biên
LĐ
Tuyển
dụng và
bố trí
lao
động
Thống
kê,
phân
tích lao
động
Đánh
giá
thành
tích lao
động
Đào
tạo, bồi
dưỡng
lao
động
k/soát
thực
hiện
trả
lương
Định
mức
lao
Quản
lý cập
nhật
hồ sơ
Quản
lý,
cập
nhật
hồ sơ
18
Trưởng
phòng
N.cứu
xây
dựng
trả
lương
cần đào tạo, gửi lên Ban lãnh đạo Tổng công ty. Sau đó Ban lãnh đạo Tổng công ty
có trách nhiệm xem xét, cân nhắc nhu cầu đào tạo cho phù hợp với mục đích kinh
doanh trong thời gian tới. Từ đó Ban lãnh đạo sẽ ra quyết định đào tạo.
• Hàng năm, Tổng công ty thường xác định nhu cầu đào tạo như sau:
Nhu cầu đào tạo cán bộ, nhân viên:
• Đào tạo nâng cao cho cán bộ:
- Dựa vào nhu cầu cán bộ chuyên môn trong từng ngành nghề; khả năng biến
động cán bộ do một số cán bộ sẽ chuyển công tác, mất sức lao động, đến tuổi về
hưu,… mà Tổng công ty cử một số cán bộ theo học một số lớp học nghiệp vụ ngắn
hạn và các lớp lý luận chính trị.
- Căn cứ vào các quy định của Nhà nước và quy định của Tổng công ty, tháng
3 hoặc tháng 4 hàng năm phòng Tổ chức lao động thông báo các tiêu chuẩn, điều
kiện để được dự thi nâng ngạch cho cán bộ, nhân viên. Trên cơ sở đơn đề nghị xin
Khi xác định được số lao động tuyển mới thì có những chính sách đào tạo đối với
lượng lao động này (những người này sẽ được đào tạo ngay sau khi được tuyển).
Mặt khác, căn cứ vào số lao động làm việc trong các phòng ban để phát hiện ra
số lao động thừa, thiếu qua đó có biện pháp sử dụng lao động hợp lý nhất. Từ đó,
chuyển lao động ở phòng thừa sang phòng thiếu để cân đối nhân lực trong các
phòng ban. Do đó, phải tiến hành đào tạo cho số lao động này để họ thích nghi với
công việc mới.
Lựa chọn phương pháp đào tạo là một trong những bước quan trọng quyết
định đến hiệu quả của công tác đào tạo và phát triển. Trên cơ sở chương trình đào
tạo đã được xây dựng để lựa chọn phương pháp đào tạo cho phù hợp. Tổng công ty
thường áp dụng một số phương pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực sau:
Đối với đào tạo tại Tổng công ty:
• Đối với cán bộ, nhân viên: Đào tạo theo kiểu hội nghị, hội thảo và các bài
giảng, đây thường là những khoá đào tạo ngắn hạn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp
20
vụ, đào tạo ngoại ngữ, vi tính, kiến thức về thị trường chứng khoán và đầu tư chứng
khoán, …. Chương trình học sẽ do các giáo viên, chuyên gia xây dựng dựa trên cơ sở
trao đổi với ban lãnh đạo Tổng công ty để đảm bảo đúng yêu cầu mà Tổng công ty đề
ra. Các dụng cụ cần thiết để chuẩn bị cho việc giảng dạy như: máy móc, tài liệu, máy
chiếu do các trung tâm đào tạo cung cấp. Bên cạnh đó, cán bộ phụ trách đào tạo của
Tổng công ty có trách nhiệm theo dõi, điểm danh số lượng cán bộ, nhân viên theo học.
Đây cũng là một trong những căn cứ để đánh giá kết quả đào tạo sau này.
Đào tạo theo kiểu này, học viên sẽ luôn cập nhập được các kiến thức mới, có
những kinh nghiệm thực tế hơn, không ảnh hưởng bởi việc đi lại xa vì học tại Tổng
công ty và việc quản lý đào tạo là rất thường xuyên.
•Đối với công nhân kỹ thuật: Tổng công ty đang áp dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp kèm cặp, chỉ dẫn: Phương pháp này được áp dụng đối với
những người mới được tuyển dụng vào Tổng công ty, chủ yếu là những công nhân kỹ
thuật mới được đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Công nghệ Giấy và Cơ điện. Đối với
những người này do chưa quen việc và chưa có kinh nghiệm nên thường được giao cho
tạo ngắn hạn này người lao động có thể được tiếp xúc và học tập với các công nghệ
tiên tiến trên thế giới.
Nhìn chung, các phương pháp đào tạo ở Tổng công ty là phù hợp với chương
trình đào tạo và đối tượng đào tạo. Với quy mô đào tạo hàng năm của Tổng công ty
là rất lớn nên phương pháp mở lớp trong Tổng công ty là hoàn toàn hợp lý, cung
cấp cho người học những kiến thức hệ thống và tiết kiệm được nhiều chi phí hơn so
với việc cử người đi học. Tuy nhiên phương pháp đào tạo tại Tổng công ty chủ yếu
là giáo viên thuyết trình, còn học viên ngồi nghe và ghi chép. Như thế giúp giáo
viên truyền đạt được toàn bộ kiến thức trong nội dung chương trình, nhưng không
tạo ra sự hứng thú trong việc tiếp thu bài giảng của học viên. Trong thời gian tới
Tổng công ty nên áp dụng đa dạng hơn nữa các phương pháp đào tạo cả trong công
việc và ngoài công việc để công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ngày càng
mang lại hiệu quả hơn nữa.
22