Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Bớc vào thế kỷ XXI thế kỷ của sự hội nhập hoá và hợp tác hoá ,Việt nam là
một nớc xã hội chủ nghĩa nhng chúng ta cũng không nằm ngoài tiến trình đó .Hội
nhập hoá nh là xu thế tất yếu của thời đại ,hội nhập hoá đem lại những thuận lợi để
phát triển kinh tế nhng mặt khác nó cũng đem lại những thách thức và khó khăn
cho những nớc đang phát triển nh ở Việt nam.
Việt nam với lợi thế của nớc đi sau chúng ta đã học hỏi đợc rất nhiều từ các n-
ớc đi trứơc và cũng rút ra bài học từ chính bản thân mình , chúng ta đã từng bớc
hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới để nâng cao hiệu quả kinh tế và chỗ
đứng trên trờng quốc tế .Vì vậy em đã chọn đề tài Chủ động hội nhập kinh tế
thế giới của Việt nam.Trong khi viết không chánh khỏi những thiếu sót mong đ-
ợc sự bổ sung góp ý của thầy giáo cho đề tài đợc phong phú hơn.
Em xin chân thành cảm ơn thầy !
Sinh viên
Vũ văn Tuyên
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phần nội dung
I. Sự cần thiết hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam
1.1. Bối cảnh quốc tế mới khi Việt Nam tiến hành hội nhập cùng thế giới
Xu hớng toàn cầu hoá và khu vực hoá phát triển ngày càng nhanh.Các nớc
lớn nhỏ đều dành u tiên cho phát triển kinh tế ,theo đuổi chính sách kinh tế
mở.Đồng thời cộng đồng thế giới đứng trớc nhiều vấn đề toàn cầu nh môi trờng
,dân số nghèo đói, dịch bệnh,khủng hoảng và suy thoái của một số nền kinh tế ,an
ninh và trật tự kinh tế ...không một quốc gia riêng lẻ nào có thể giải quyết đợc ,mà
cần phải có sự hợp tác.
Tình hình trên làm nảy sinh và thúc đẩy xu thế hội nhập để phát triển
Nghĩa là hội nhập trở thành xu thế tất yếu khách quan ,lôi kéo tất cả các quốc gia,
không một quốc gia nào có thể phát triển mà không giao lu ,hợp tác với khu vực và
thế giới.
nghệ (KH- CN). Đồng thời đa thế giới bớc sang một nền kinh tế mới, nền kinh tế
tri thức . Do tác động của cách mạng KH-CN ,của sự phân công lao động quốc tế ,
do vai trò và tầm hoạt động mới của các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia ,
quá trình quốc tế hoá nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về
chiều rộng và chiêù sâu trên hai cấp độ toàn cầu hoá và khu vực hoá , đa đến sự
chuyển biến nhanh chóng của thể chế kinh tế thế giới , đa nền kinh tế thế giới bớc
vào cạnh tranh toàn cầu đẩy mạnh việc tìm kiếm sự hợp tác trong cạnh tranh . Tình
hình đó đòi hỏi một sự hợp tác ngày càng sâu rộng , từ đó tạo nên thế phụ thuộc
lẫn nhau giữa các quốc gia dù lớn hay nhỏ , dù phát triển hay không phát triển . Rõ
ràng trong khung cảnh quốc tế hiện nay khi mỗi quốc gia đều tập trung mọi nỗ lực
của mình vào xây dựng kinh tế phát triển đất nớc thì hợp tác kinh tế để phát triển
đã trở thành một yêu cầu khách quan không thể thiếu .Trong lịch sử phát triển của
xã hội có lẽ cha bao giờ lại có một sự hợp tác để phát triển rộng rãi , đan xen và
nhiều tầng cấp nh hiện nay . Nền kinh tế ngày càng phát triển hơn thì những quan
hệ hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới cũng ngày càng phát triển hơn tạo nên
một xu thế nổi bật trong quan hệ quốc nh trong nghị quyết đaị hội VIII đã nhận
định :
<<
Các nớc dành u tiên cho phát triển kinh tế , coi phát triển kinh tế có ý nghĩa
quyết định đối với việc tăng cờng sức mạnh tổng hợp của quốc gia . Các quốc gia
lớn ,nhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác và liên kết khu vực , liên
kết quốc tế về kinh tế , thơng mại
>>
.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Những năm gần đây chúng ta đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng và
mạnh mẽ của quá trình liên kết khu vực , liên kết toàn cầu về kinh tế . Đó là sự ra
đời của các tổ chức hợp tác kinh tế nh ASEAN và khu vực mậu dịch tự do AFTA ,
khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ NAFTA , liên minh Châu Âu EU, tổ chức hợp tác
kinh tế Châu á Thái Bình Dơng , hội nghị á-Âu ASEM ... Các tổ chức liên kết kinh
đẳng để bảo vệ lợi ích của mình , đồng thời tranh thủ những u đãi hợp lí cho mình
phát triển nhằm tạo điều kiện thu hẹp dần khoảng cách giàu nghèo giữa các nớc
phát triển và chậm phát triển chứ không bị động theo sau .
Trong tình hình quốc tế nói trên , bất cứ một nớc nào muốn không bị gạt ra
ngoài lề của dòng chảy phát triển đều phải nỗ lực hội nhập vào xu thế chung , điều
chỉnh chính sách giảm dần hàng rào thuế quan , làm cho việc trao đổi hàng hoá ,
luân chuyển vốn , lao động , công nghệ và kỹ thuật trên phạm vi thế giới ngày càng
thoáng hơn . Việt Nam không phải là một ngoại lệ , vấn đề là phải chọn tiến trình
hội nhập sao cho phù hợp với hoàn cảnh và quá trình phát triển cuả từng nớc .
Bối cảnh kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay .
Đứng trớc sự phát triển vợt bậc của thế giới về kinh tế và KH-CN Việt Nam
vẫn là một trong những nớc đợc xếp vào loại nghèo nhất thế giới . GDP bình quân
đầu ngời còn thấp , cha thoát khỏi ranh giới nghèo khổ , máy móc thiết bị công
nghệ thuộc tất cả các ngành , các lĩnh vực trong nền kinh tế trong nền kinh tế nớc
ta còn thấp hơn mức trung bình thế giới từ 1 đến 3 thế hệ công nghệ , do đó ảnh h-
ởng đến chất lợng sản phẩm , giá thành và khả năng cạnh tranh trên thị trờng .
Trong khi đó xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế đang phát huy những vai trò tích cực
của nó , mở ra những cơ hội cho những nứơc kém phát triển và đang phát triển nh
Việt Nam . Để có thể đa đất nớc phát triển lên thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc
hậu , thì chỉ có con đờng duy nhất là tham gia hội nhập vào nền kinh tế thế giới
nhằm tranh thủ nguồn lực bên ngoài phát huy nội lực phát triển đất nớc . Thực tế
đã chứng minh không thể có một nớc nào dù lớn dù giàu đến đâu cũng không thể
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tự mình sản xuất đợc tất cả những sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế để đáp ứng nhu
cầu của mình . Trên thế giới các quốc gia ở mức độ này hay mức độ khác đều tuỳ
thuộc lẫn nhau , có quan hệ qua lại với nhau . Trong lịch sử không có nớc nào có
thể đạt đợc tốc độ phát triển nhanh mà lại không tích cực mở cửa hội nhập kinh tế .
Vì thế nớc nào đóng cửa với thế giới là đi ngợc lại xu thế của thời đại và khó tránh
khỏi bị roi vào lạc hậu . Trái lại mở cửa hội nhập kinh tế thế giới có thể phải trả
một giá nhất định song đó là một yêu cầu đối với sự phát triển đất nớc . Trớc kia
Đã xác định đợc hội nhập nền kinh tế thế giới là một yêu cầu khách quan, nh-
ng Đảng cũng khẳng định là phải xây dựng đợc một nền kinh tế độc lập tự chủ và
chủ động hội nhập . Chúng ta nhất quán chủ trơng đa phơng hoá , đa dạng hoá ,
tranh thủ hội nhập kinh tế quốc tế nhằm bảo vệ lợi ích của nớc ta , giữ vững độc
lập tự chủ về kinh tế . Bởi có một bất lợi rất lớn trong quá trình hội nhập toàn cầu
hoá đó là toàn cầu hoá tạo ra nguy cơ làm mất đi độc lập tự chủ của một quốc gia
dẫn đến sự phụ thuộc về chính trị . Vì thế độc lập tự chủ kinh tế là nền tảng đảm
bảo sự bền vững của độc lập tự chủ về chính trị . Độc lập tự chủ thực chất là mỗi n-
ớc tự lựa chọn con đờng và mô hình phát triển của mình , tự quyết định các chủ tr-
ơng , chính sách kinh tế xã hội , tự đề ra mục tiêu chiến lợc và kế hoạch cho từng
thời kỳ và các biện pháp thực hiện mục tiêu đó . Độc lập tự chủ hoàn toàn không
có nghĩa là đóng cửa với thế giới .Quan niệm độc lập tự chủ theo kiểu tự cấp tự
túc , xây dựng cơ cấu kinh tế hoàn chỉnh , hớng nội đã đựơc kinh nghiệm của nhiều
nớc trên thế giới , cũng nh kinh nghiệm của bản thân chúng ta chứng minh là
không phù hợp với xu thế chung của thời đại và không có hiệu quả , đẩy đất nớc
vào tình trạng chậm phát triển . Và một khi tình trạng chậm phát triển về kinh tế
không đợc khắc phục thì sẽ làm xói mònlòng tin của nhân dân , làm nảy sinh nhiều
vấn đề xã hội nan giải , tạo nguy cơ từ bên trong đối với trật tự , an toàn xã hội và
điều đó rốt cuộc khiến chúng ta khó giữ vững đợc con đờng phát triển đã lựa chọn
là kết hợp độc lập dân tộc với CNXH vì mục tiêu dân giàu nớc mạnh ,xã hội công
bằng dân chủ văn minh .
Cách đây trên một thế kỷ ,jose Marti , ngời thầy của nền độc lập Cuba đã nói
một câu có ý nghĩa triết lý sâu xa :
Quốc gia nào muốn độc lập và giàu mạnh thì
phải buôn bán với nhiều nớc , còn quốc gia nào chỉ buôn bán với một nớc thôi thì
không tránh khỏi bị phụ thuộc vào nớc duy nhất ấy . Câu nói đó càng làm sáng tỏ
thêm các luận điểm mà Đảng ta đã nêu lên để chỉ đạo tiến trình mở cửa và hội
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Hội nhập kinh tế thế giới Việt Nam có cơ hội mở rộng thu hút các nguồn
vốn nớc ngoài tăng thêm nguồn lực cho phát triển , nhất là khi tích luỹ nội bộ còn
thấp và phần thực huy động vào tích luỹ chỉ dới 20% GDP , chỉ tơng ứng tốc độ
tăng trởng 4-5% của khu vực nông thôn . Muốn tăng trởng nhanh cần bổ xung
thêm vốn từ nớc ngoài dới nhiều hình thức
ODA, FDI và các khoản huy động vốn gián tiếp và vay nợ . Tham gia hội
nhập kinh tế quốc tế là cơ hội để thị trờng nớc ta đợc mở rộng điều này sẽ hấp dẫn
các nhà đầu t . Họ sẽ mang vốn công nghệ vào nớc ta , sử dụng lao động và tài
nguyên vốn có của nớc ta , làm ra các sản phẩm trên thị trờng khu vực và thế giới
với các u đãi mà nớc ta có . Đây cũng là cơ hội thúc đẩy các doanh nghiệp trong và
ngoài nớc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả hơn . Tham gia hội nhập kinh tế
quốc tế là một nhân tố quan trọng buộc các doanh nghiệp Việt Nam chấn chỉnh tổ
chức quản lí sản xuất , đổi mới công nghệ nắm bắt thị trờng , tăng cờng khả năng
cạnh tranh của hàng hoá để đứng vững trong cuộc cạnh tranh khốc liệt không chỉ
trên thị trờng thế giới mà ngay cả trên thị trờng nội điạ.
2.3 Hội nhập kinh tế thế giới Việt Nam có thể học hỏi , giao, lu mở rộng ,
rút kinh nghiệm của các nớc đi trớc .
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam có thể tranh thủ học hỏi, mở rộng giao lu ,
rút kinh nghiệm của các nớc đi trớc trong việc hoạch định chính sách phát triển
kinh tế tránh đợc những sai sót , từ đó có nhũngbiện pháp để rút ngắn thời gian
thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH-HĐH) đất nớc . Với lợi thế của
nớc đi sau, chúng ta có thể tranh thủ kỹ thuật công nghệ đẩy nhanh tiến trình
CNH-HĐH tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho công cuộc xây dựng CNXH . Hội
nhập kinh tế quốc tế còn tạo điều kiện để Việt Nam dần điều chỉnh các chính
sách, chế độ kinh tế theo các chuẩn mực của các tổ chức và các định chế kinh tế
quốc tế , tạo ra môi trờng đầu t hấp dẫn và bình đẳng , tăng sức thu hút vốn đầu
t , qua đó mà các kỹ thuật , công nghệ mới có điều kiện du nhập vào nớc ta .
Đồng thời tạo cơ hội để chúng ta lựa chọn công nghệ nớc ngoài nhằm phát triển
năng lực kinh tế , công nghệ quốc gia nâng cao hiệu quả cạnh tranh của nền
nghèo nàn lạc hậu , còn tụt hậu khá xa so với thế giới nhất là về thu nhập bình
quân đầu ngời và trình độ công nghệ .
Trải qua những cuộc chiến tranh lâu dài khốc liệt và cơ chế quản lí kinh tế
tập trung bao cấp , Việt Nam tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế với một xuất
phát điểm thấp . GDP bình quân đầu ngời còn thấp , cha thoát khỏi ranh giới nghèo
đói . Năm 2001 thu nhập bình quân đầu ngời ~400 $ bằng chỉ tiêu các nớc nghèo
nhất thế giới do liên hợp quốc đặt ra .
So với nhiều nớc trong tổ chức kinh tế mà ta đã và sẽ tham gia thì thu nhập bình
quân đầu ngời của Việt Nam cha bằng 1/3 của Inđo và Philipin , bằng 1/9 của Thái
lan , bằng 1/15 của Malayxia , cha bằng 1/100 của Singapo . Mặt khác tỉ lệ tiết
kiệm trong nền kinh tế thấp , tích luỹ và đầu t cha cao mà còn ở cả cơ cấu ngành
của nền kinh tế , trình độ phát triển lực lợng sản xuất , công nghệ sản xuất còn thấp
so với các nớc trong khu vực và trên thế giới .
Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị còn rất cao và có xu hớng gia tăng : năm
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1996 là 5,88% ,1997 là 6,01% ,1998là 6,85% ,1999là 7.4% , 2000 là 6,49%
Tốc độ tăng trởng kinh tế giảm dần từ 8,15% năm 1997 xuống 4,8% năm
1999 , năm 2000 là 6,5% năm 2001 là 6,85% .
Cơ cấu kinh tế còn chậm thay đổi , nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng khá lớn,
công nghiệp và dịch vụ không những tăng chậm mà còn có biểu hiện chững lại do
khủng hoảng . Kinh tế khu vực và chính sách đầu t kém hiệu quả . Trong thời gian
qua, nền kinh tế Việt nam đã chuyển hớng mạnh mẽ theo hớng kinh tế thị trờng,
tuy nhiên các cơ chế của nền kinh tế thị trờng vẫn còn ở mức sơ khai.
Năng lực công nghệ của nền kinh tế Việt Nam rất lạc hậu so với thế giới .
Trong những năm qua Việt Nam đã rất cố gắng đổi mới thiết bị công nghệ , lựa
chọn những công nghệ tiên tiến của thế giới đặc biệt trong các ngành bu chính viễn
thông và tử ... nhng vẫn còn rất nhiều ngành có thiết bị công nghệ lạc hậu từ 2- 5
thế hệ so với các doanh nghiệp cùng ngành trong nớc , trong khu vực và trên thế
giới . Nhiều công nghệ lạc hậu 40-50 năm nhng vẫn cha đợc thay thế .Công nghệ
là yếu tố quyết định đến năng suất chất lọng của sản phẩm , giúp các doanh ngiệp
nghiệp vụ có bằng cấp , 2,8% có trình độ trung học chuyên nghiệp , 0,7% cao đẳng
, 1,7% đại học và 0,1% có trình độ sau đại học . Đây là một tỷ lệ quá thâp , trong
khi những ngời không có bằng cấp chuyên môn kỹ thuật lại chiếm đến 92,4% . Cơ
cấu đào tạo bất hợp lí nên tình trạng nhiều thầy, thiếu thợ trong nền kinh tế có xu
hớng ngày càng trầm trọng . Sinh viên ra trờng không có việc làm , nhng các doanh
nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nớc ngoài lại không tìm đợc công nhân kỹ thuật
và thợ lành nghề . Theo kết quả điều tra toàn bộ công nghiệp , đến giữa 1998 trong
tổng số lao động công nhân ngạch 4 bậc chỉ có 17,5% số ngòi đạt bậc 4/4 . Trong
ngạch 5 bậc tỷ lệ bạc 5/5 chiếm 20,8% . Ngạch bậc 6 thợ bậc 6/6 chiếm 5,9% thợ
bậc 7/7 chiếm chỉ có 3,2%
Nền kinh tế nớc ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh CNH-HĐH và nhân loại
đang bớc vào nền kinh tế tri thức mà bản thân ngời lao động không biết nghề hoặc
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
biết nghề không đến nơi đến chốn thì rất khó tìm việc ,làm gì thì ngày nay ngời ta
quan tâm chủ yếu đén chất lợng chứ không tập trung vào khai thác số lợng lao
động nh trớc đây .
c/ Hàng hoá Việt Nam về chất lợng cha đủ sức cạnh tranh trên thị trờng
quốc tế .
Do máy móc thiết bị , công nghệ lạc hậu nên chất hàng hoá , dịch vụ nhìn
chung thấp , giá thành cao do đó thiếu sức cạnh tranh trên thị trờng trong nớc và
thế giới . Theo kết quả điều tra toàn bộ công nghiệp thì đến giữa năm 1998 ngành
công nghiệp mới có 26% các doanh nghiệp chiếm lĩnh đợc thị trờng tron g nớc .
58,5% số doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trờng nhng cha vững chắc còn 14,3% số
doanh nghiệp hoàn toàn không có khả năng cạnh tranh ngay trên thị trờng trong n-
ớc . So với hàng nhập khẩu hàng hoá của ta thua kém cả về chất lợng và giá cả mà
biểu hiện rõ nhất là ở giá cả . Ví dụ đờng RS của ta giá xuất xởng là 340-400 $ /
tấn nhng giá nhập khẩu chỉ có 260-300$/ tấn . Nh vậy giá nhập còn rẻ hơn giá
xuất xởng của ta 20-30% . Giá sắt thép trong nớc sản xuất bình quân 300$/ tấn nh-
ng nhập khẩu chỉ có 285$/ tấn , giá xi măng của Việt Nam 840 nghìn đồng /tấn
trong khi nhập của Thái Lan chỉ có 630 nghìn . Hay thể hiện rõ nhất là trong vòng
thành viên của các tổ chức kinh tế thế giới trong đó có các thị trờng lớn có triển
vọng xuất khẩu mà khả năng cạnh tranh của hàng hoá ta không đợc cải thiện thì đó
là một thách thức to lớn cho nền kinh tế nhỏ nh Việt Nam .
d / Chính sách về thuế , luậtkhuyến khích đầu t cha đợc hoàn thiện còn là b-
ớc ngăn cản hội nhập kinh tế kinh tế .
Hiện nay trong hệ thống luật và các chính sách hiện hành còn nhiều điều bất
hợp lí và cha chặt chẽ . Nh về thuế nhập khẩu , hiện nay thuế nhập khẩu có chức
năng bảo vệ sản xuất trong nớc nên thuế suất thờng xuyên đợc thay đổi cho phù
hợp với những mặt hàng trong nớc đã sản xuất đợc , do đó đã góp phần hỗ trợ tích
cực cho thời kỳ đầu phát triển . Nhng chính điều này cũng tạo ra những lệch lạc
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trong định hớng đầu t trong nớc , đặc biệt là trong thu hút đầu t nớc ngoài . Trong
những năm qua đầu t nớc ngoài đã đợc thu hút vào những ngành sản xuất ra các
sản phẩm có mức thuế bảo hộ cao phục vụ cho nhu cầu thị trờng trong nớc chứ
không nhằm xuất khẩu . Do tổ chức quản lí điều hành xuất nhập khẩu còn yếu kém
nên thị trờng khoảng 50% sản phẩm của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
không xuất khẩu mà cung ứng trên thị trờng nội địa , và đây là việclàm đã gây
nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp trong nớc trong việc tiêu thụ sản phẩm .
Điều này dẫn đến vốn đầu t cha thực sự góp phần tăng thêm tiềm lực xuất khẩu
cũng nh làm tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam và cha đẩy nhanh
đợc khả năng thâm nhập thị trờng thế giới của hàng Việt Nam , gây lãng phí trong
việc sử dụng nguồn vốn này .
Trong luật thuế có quy định áp dụng giá tính thuế tối thiểu với 15 nhóm mặt
hàng do nhà nớc quản lí . Việc áp dụng này cha phù hợp với quy định quốc tế mà
Việt Nam đã và sẽ phải cam kết thực hiện khi gia nhập AFTA và WTO cũng nh
trong hiệp định thơng mại Việt Mỹ . Đó là quy định của hoạt động xác định giá
hải quan theo GATT . Luật thuế xuất nhập khẩu cũng quy định một số loại hàng
hoá chuyên dùng phục vụ trực tiếp cho an ninh quốc phòng , nghiên cứu khoa học ,
giáo dục đợc xét miễn giảm thuế nhập khẩu . Tuy nhiên trên thực tế rất khó xác
định rạch ròi các loại hàng hoá này vì thế vừa làm cho thủ tục xét miễn giảm thuế