KINH NGHIỆM VẬN DỤNG MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG NHANH” VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM CỦA NHỮNG CON RỒNG CHÂU Á - Pdf 28

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ

Tiểu luận môn Kinh tế phát triển
KINH NGHIỆM VẬN DỤNG MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG NHANH”
CỦA NHỮNG CON RỒNG CHÂU Á
VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
Họ và tên Mã SV Nhóm 8
Nguyễn Thị Lệ Chinh 0951010377 Lớp KT406(1-1112).1_LT
Nguyễn Thúy Hạnh 0951010066 Giáo viên hướng
dẫn
Nguyễn Thị Hải Yến
Vũ Hồng Hạnh 0951010068
Nguyễn Văn Hiếu (Nhóm trưởng) 0951010075
Nguyễn Thị Thùy Linh 0951010138
Nguyễn Ngọc Trà My 0951010507
Ngô Trọng Quân 0951010547
Lưu Thị San 0951010552
Bùi Minh Tú 0951010252
Phạm Thị Hải Yến 0951010620
Hà Nội, 10/2011
Tiểu luận Kinh tế phát triển 2011
MỤC LỤC
2
Nhóm 8 KTE406.1
KINH NGHIỆM VẬN DỤNG MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG NHANH” CỦA NHỮNG CON RỒNG CHÂU Á
VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
2011
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 : Distribution of FDI by Industry (Stock as at Year – End)
Bảng 2: Tăng trưởng GDP của Hồng Kông những năm gần đây

một ý nghĩa quan trọng trong việc tìm ra một con đường phát triển đúng đắn cho các nước thế
giới thứ ba. Trong khuôn khổ của bài tiểu luận này, chúng tôi chỉ mới đề cập tới được những
yếu tố cơ bản nhất trong quá trình tăng trưởng kinh tế thần kỳ của những “con rồng châu Á”.
Tất nhiên với sự phức tạp của vấn đề nghiên cứu, cùng với sự thiếu kinh nghiệm trong việc
phân tích những vấn đề kinh tế như trên, bài tiểu luận không thể tránh khỏi những thiếu sót
thường thấy. Tuy vậy chúng tôi vẫn mong sẽ đem tới cho người đọc một số kiến giải căn bản
hợp lý như là kết quả của một quá trình làm việc tập trung và nghiêm túc. Những người thực
hiện xin gửi lời cảm ơn chân thành vì những bài giảng và sự hướng dẫn nhiêt tình của cô giáo
Nguyễn Thị Hải Yến.
4
Nhóm 8 KTE406.1
KINH NGHIỆM VẬN DỤNG MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG NHANH” CỦA NHỮNG CON RỒNG CHÂU Á
VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
2011
C hương I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG HỢP NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ
MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG NHANH”
I. Cơ sở lý luận: Mô hình chiến lược “Tăng trưởng nhanh”
1. Khái niệm chiến lược
Chiến lược thường được hiểu là đường hướng và cách giải quyết nhiệm vụ đặt ra mang
tính toàn cụ, tổng thể và trong thời gian dài.
Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội được hiểu là một bản luận cứ có cơ sở khoa học xác
định mục tiêu và đường hướng phát triển cơ bản của đất nước trong khoảng thời gian 10 năm
hoặc dài hơn, là căn cứ để hoạch định chính sách và kế hoạch phát triển. Chiến lược xác định
tầm nhìn của một quá trình phát triển mong muốn, thể hiện sự nhất quán về con đường và các
giải pháp cơ bản để thực hiện.
2. Mô hình chiến lược “Tăng trưởng nhanh”
Mỗi quốc gia có hoàn cảnh lịch sử, xã hội và xuất phát điểm về kinh tế khác nhau nên
không có mô hình chiến lược phát triển kinh tế-xã hội nào chung áp dụng cho mọi quốc gia.
Tổng kết kinh nghiệm của nhiều nước trong quá trình công nghiệp hoá, tổ chức phát triển công

chương 2 của bài tiểu luận.
II. Tình hình nghiên cứu về Mô hình chiến lược “Tăng trưởng nhanh”
Những tài liệu trích dẫn dưới đây là những tài liệu nghiên cứu tương đối đầy đủ và
chuyên sâu về đề tài mà nhóm lựa chọn từ những tài liệu tham khảo
1. Bài học hóa rồng của Ireland – TS Hồ Thiệu Hùng [Viện nghiên cứu giáo dục – Bài
đăng trên tạp chí trên trang Tuổi trẻ, 3 – 9 – 2005]
Nghiên cứu đã chỉ ra lí do vì sao một nước Ireland là thuộc địa của nước Anh, bị coi là
“người bà con nghèo khổ” của châu Âu giàu có và nổi tiếng về nạn đói và nội chiến lại có
những biến đổi thần kì, ngoạn mục khi vào đầu thế kỉ 21, quốc gia này đã là một trong ba nước
giàu nhất thế giới, chỉ đứng sau Luxembourg và vượt xa nước đã từng đô hộ mình là Anh.
6
Nhóm 8 KTE406.1
KINH NGHIỆM VẬN DỤNG MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG NHANH” CỦA NHỮNG CON RỒNG CHÂU Á
VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
2011
TS Hồ Thiệu Hùng cho rằng sự thay đổi có tính chất bước ngoặt ở Ireland được chỉ ra là
có vận dụng một khía cạnh của mô hình tăng trưởng nhanh, đó là rất tích cực thu hút đầu tư
nước ngoài.
Những ngành có tỉ suất lợi nhuận cực cao mà nhiều nước trên thế giới muốn thu hút vào
mình nhưng thất bại như dược, phần mềm, thiết bị y tế đã đều được Ireland thu hút đầu tư một
cách thành công. Hiện nay, 10 Tập đoàn dược phẩm lớn nhất thế giới, 16 trong 20 tập đoàn sản
xuất thiết bị y tế lớn nhất thế giới, 7 trong 10 công ty phầm mềm lớn nhất thế giới đang hoạt
động tại đây. Một trong những thành công của Ireland là đã đáp ứng được những đòi hỏi khá
khắt khe về chất lượng nguồn nhân lực nhờ những chính sách giáo dục táo bạo là miễn phí cả
trung học và cao đẳng – đại học, nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng đủ sức làm việc
trong và phục vụ những ngành kinh tế mũi nhọn.
2. Mô hình phát triển Đông Á và mô hình phát triển Đông Nam Á – GS David Dapice và các
cộng sự ở ĐH Havard (Báo cáo tư vấn cho chính phủ Việt Nam năm 2008)
Nghiên cứu chỉ ra những kinh nghiệm thành công của Hàn Quốc, Đài Loan và một số
nước Đông Á khác trong quá trình nhanh chóng trở thành các xã hội công nghiệp (NICs/NIEs)

kém phát triển như Việt Nam. PGS,TS Đỗ Đức Định đã khẳng định công cuộc đổi mới đều cơ
bản đã thành công, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao do vận dụng có sáng tạo
mô hình tăng trưởng nhanh. Tuy nhiên ông cho rằng việc áp dụng mô hình tăng trưởng nhanh ở
Việt Nam mới chỉ phát huy tính hiệu quả cao về mặt lượng, còn thấp về mặt chất. Để góp phần
đảm bảo không những tăng trưởng nhanh mà còn phát triển cân đối về cả chất và lượng trong
giai đoạn tiếp theo của công cuộc đổi mới 2-3 thập kỉ tới, công trình nghiên cứu đề xuất một
mô hình chiến lược mới – mô hình phát triển nhanh và bền vững với 4 trụ cột chính là 1) đảm
bảo tăng trưởng cao cả về lượng và chất; 2) áp dụng chiến lược công nghiệp hóa phát huy lợi
thế so sánh động; 3) nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; 4) mở rộng hội nhập quốc tế theo
hướng kết hợp nội lực và ngoại lực.
4. Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam nhìn từ góc độ chuyển dịch cơ cấu – Bùi Quang
Bình (Trường Đại học kinh tế, Đại Học Đà Nẵng) – bài đăng trong tạp chí Khoa học và
công nghệ ĐHĐN)
8
Nhóm 8 KTE406.1
KINH NGHIỆM VẬN DỤNG MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG NHANH” CỦA NHỮNG CON RỒNG CHÂU Á
VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
2011
Vấn đề chính mà bài viết đưa ra để giải quyết là những khuyết điểm nhất định bộc lộ rõ
khi các điều kiện bên trong và bên ngoài nước đã thay đổi, và đưa ra những kiến nghị về sự
điều chỉnh mô hình tăng trưởng cho phù hợp với điều kiện mới đảm bảo cho sự phát triển bền
vững ở Việt Nam thông qua việc phân tích cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm đổi mới
cho tới nay để nhận ra điểm mạnh và yếu của mô hình tăng trưởng này.
Kết luận:
Phần lớn các tài liệu hiện nay, với những lý thuyết và mô hình lượng hóa đầy đủ, đều khẳng
định tăng trưởng nhanh và bền vững là con đường duy nhất cho Việt Nam và các nước đang
phát triển khác.Tuy nhiên, vẫn còn thiếu rất nhiều những tài liệu, nghiên cứu đánh giá mức độ
thành công của các quốc gia đã áp dụng những mô hình này, cũng như những bài học rút ra để
có thể áp dụng một cách phù hợp và hiệu quả nhất với tình hình Việt Nam.
Trước tình hình đó , nhóm đã chọn đề tài “Kinh nghiệm vận dụng mô hình “Tăng trưởng

• Thay cho việc kiểm soát nhập khẩu để tiết kiệm ngoại tệ và kiểm soát tài chính là khuyến khích
mở rộng nhanh chóng khả năng xuất khẩu.
• Hạn chế bảo vệ công nghiệp địa phương mà thực chất là nuôi dưỡng ỷ lại, thay thế vào đó là
nâng đỡ và hỗ trợ cho các ngành sản xuất hàng xuất khẩu.
• Đảm bảo môi trường đầu tư cho các nhà tư bản nước ngoài thông qua một hệ thống các chính
sách khuyến khích và kinh tế tự do để thu hút đến mức tối đa vốn đầu tư của các công ty nước
ngoài.
Mục tiêu cơ bản của chiến lược này là dựa vào mở mang đầu tư trong nước và đầu tư trực
tiếp nước ngoài cũng như hỗ trợ của tư bản nước ngoài để tạo ra khả năng cạnh tranh cao của
hàng xuất khẩu.
2. Đánh giá về chiến lược
2.1. Ưu điểm của chiến lược
10
Nhóm 8 KTE406.1
KINH NGHIỆM VẬN DỤNG MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG NHANH” CỦA NHỮNG CON RỒNG CHÂU Á
VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
2011
• Nhờ áp dụng chiến lược này, nền kinh tế nhiều nước đang phát triển trong vài ba thập kỷ qua
đã đạt được một tốc độ tăng trưởng cao, một số ngành công nghiệp (chủ yếu là các ngành chế
biến xuất khẩu) đạt trình độ kỹ thuật tiến tiến, có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Ngoại thương trở thành “đầu tàu” của nền kinh tế.
• Tận dụng được những lợi thế từ thị trường thế giới về vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý
từ những nước tiên tiến.
2.2. Nhược điểm của chiến lược:
• Do tập trung hết khả năng cho xuất khẩu và các ngành có liên quan nên dẫn đến tình trạng mất
cân đối trầm trọng giữa các ngành xuất khẩu và không xuất khẩu.
• Do ít chú ý tới các ngành công nghiệp thiết yếu nhất, nên mặc dù tốc độ tăng trưởng nhanh
nhưng nền kinh tế đã gắn chặt vào thị trường bên ngoài và dễ bị tác động bởi những sự biến đổi
thăng trầm của thị trường các nước lớn.
Nhận thức được điểm yếu này, một số nước đang tìm tòi, lựa chọn một chiến lược phù hợp với

trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của ngành công nghiệp nhẹ và phát triển các ngành mới xuất
khẩu hàng hóa nặng. Những năm 1980 chứng kiến một sự tập trung trở lại vào tự do hóa thương
mại, bao gồm mở cửa thị trường trong nước và giảm trợ cấp xuất khẩu, phát sinh từ áp lực từ phía
các đối tác kinh doanh.
Chúng ta sẽ xem xét các giai đoạn cụ thể trong việc thực hiện chiến lược của Hàn Quốc:
• Giai đoạn 1962 – 1966
Hàn Quốc thực sự bắt đầu một chiến lược mới cho kinh tế nước nhà. Kế hoạch 5 năm lần
thứ nhất (1962-1966) ra đời với khẩu hiệu “phát triển kinh tế là hàng đầu” và “công nghiệp hoá
thay thế nhập khẩu”. Tuy nhiên chiến lược “công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu” thực tế chưa
làm biến đổi nền kinh tế , đặc biệt là chưa tạo ra nhiều công ăn việc làm do sức mua của thị
trường nội địa qua thấp, vốn đầu tư và nguồn cung cấp nguyên liệu đều khan hiếm, kỹ thuật công
nghiệp và trình độ quản lý sản xuất còn thấp kém. Việc tập trung đại bộ phận vốn đầu tư phát triển
công nghiệp đã dẫn đến tình trạng mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế quốc dân.
• Giai đoạn 1967-1976
12
Nhóm 8 KTE406.1
KINH NGHIỆM VẬN DỤNG MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG NHANH” CỦA NHỮNG CON RỒNG CHÂU Á
VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
2011
Từ những hạn chế của kế hoạch 5 năm lần 1, Hàn Quốc đã chuyển sang những chiến lược
mới, chiến lược “công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu”. Kế hoạch 5 năm lần 2 (1967- 1971)
được coi như kế hoạch đặt nền móng cho việc thực hiện chiến lược này.
Trong thời gian này, bên cạnh hàng rào thuế quan bảo hộ, Nhà nước Hàn Quốc thực hiện
biện pháp cấm hoặc hạn chế số lượng nhập khẩu. Năm 1967, có tới 118/1312 mặt hàng nhập khẩu
chính bị cấm và 402 mặt hàng bị hạn chế.
Kế liền sau đó là kế hoạch 5 năm lần 3 (1971-1976) sản xuất xuất khẩu trên thực tế mới trở
thành động lực chính cho nền kinh tế nói chung và xuất khẩu nói riêng đạt tốc độ tăng trưởng lớn.
Trong giai đoạn 1970-1975 kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng với mức độ tăng hàng năm khá cao,
từ 18.9% đến 98.6%. Giá trị xuất khẩu tăng vọt lên 7,8 tỷ USD năm 1976 và chiếm một tỷ trọng
28,5% trong GDP, cao hơn so với 12,6 tỷ và 12,4 % GDP năm 1971 (theo Korea International

triệu USD xuống còn 363.534 triệu USD (giảm 13.9%). Sự phục hồi dần dần của nền kinh tế toàn
cầu nói chung và của Hàn Quốc nói riêng đã đưa giá trị xuất khẩu tăng tới 28.3 % và đạt 466.384
triệu USD vào năm 2010 ( vượt mức năm 2008).
(Nguồn: Korea International Trade Association, )
2. Những thành tựu mà nền kinh tế Hàn Quốc đã đạt được
Hàn Quốc từng được biết đến là một trong những nước nghèo nhất thế giới hơn 30 năm về
trước nhưng đã nghiêm túc thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế từ năm 1962. Hình ảnh đất
nước kiệt quệ do chiến tranh tàn phá đã bắt đầu thay đổi từ năm 1992 khi quốc gia này áp dụng
chính sách phát triển kinh tế theo định hướng xuất khẩu và tích cực tham gia vào thương mại quốc
14
Nhóm 8 KTE406.1
KINH NGHIỆM VẬN DỤNG MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG NHANH” CỦA NHỮNG CON RỒNG CHÂU Á
VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
2011
tế trên toàn thế giới. Hàn Quốc bắt đầu mở rộng quan hệ đối ngoại thông qua việc tăng cường mối
quan hệ với các đồng minh truyền thống và xây dựng quan hệ hợp tác với các nước trong thế giới
thứ ba.
Năm 2010, nền kinh tế Hàn Quốc đã vươn lên vị trí thứ 13 thế giới khi tính GDP theo PPP.
Nếu như năm 1963 GDP trên một đồng vốn là 100 USD thì đến năm 2010 là 1.459 tỷ USD. Nền
kinh tế Hàn Quốc là một nền kinh tế có tốc độ phát triển nhanh nhất trong lịch sử thế giới từ giữa
đến cuối thế kỷ 20, và điều đó đã tạo nên một “kỳ tích sông Hàn” được cả thế giới biết đến và
ngưỡng mộ. Để đạt được điều này, chính phủ Hàn Quốc đã lựa chọn đúng đắn chiến lược phát
triển cho quốc gia mình: sản xuất hướng về xuất khẩu. Ngày nay, Hàn Quốc đang thực hiện cải
thiện môi trường kinh doanh tổng thể với mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế mới của khu vực
Đông Bắc Á. (Nguồn CIA – The World Factbook, www.cia.gov )
3. Đánh giá quá trình thực hiện chiến lược
• Sự đúng đắn khi áp dụng chiến lược của chính phủ Hàn Quốc
Áp dụng chiến lược một cách đúng đắn và phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Việc chọn
chiến lược “sản xuất thay thế nhập khẩu” vào thời kì đầu rồi chuyển sang “sản xuất hướng về xuất
khẩu” ở thời kì sau đã hạn chế được rất nhiều sự mất cân đối giữa các ngành xuất khẩu và không

quyết định có lợi nhất cho vốn đầu tư mà họ bỏ ra.
• FDI giúp các chủ đầu tư nước ngoài dễ chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ và nguồn cung cấp
nguyên liệu chủ yếu của nước chủ nhà.
• FDI giúp chủ đầu tư khai thác lợi thế của các quốc gia khác: thị trường, vị trí địa lý, tài nguyên,
nguồn nhân lực, đất đai… nhằm giảm chi phí để tăng lợi nhuận.
• Chủ đầu tư có thể tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch vì thông qua FDI họ tạo được các xí
nghiệp, công ty nằm trong lòng các nước thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch.
• Các nhà đầu tư mở các công ty con tại những nước khác nhau có thể lợi dụng cơ chế thuế đối
với hoạt động đầu tư ở những nước đó để thực hiện “chuyển giá” nhằm tối đa hoá lợi nhuận.
16
Nhóm 8 KTE406.1
KINH NGHIỆM VẬN DỤNG MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG NHANH” CỦA NHỮNG CON RỒNG CHÂU Á
VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
2011
1.2. Đối với nước nhận đầu tư trực tiếp:
• FDI giúp các nước nhận đầu tư tăng cường khai thác vốn của từng nước chủ đầu tư nước ngoài.
• Các nước nhận đầu tư tiếp thu được công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của
chủ đầu tư nước ngoài.
• Nhờ có vốn đầu tư nước ngoài các nước chủ nhà có điều kiện khai thác tốt nhất những lợi thế
của mình về tài nguyên, vị trí, mặt đất, mặt nước…
• FDI giúp nước chủ nhà đẩy nhanh tiến trình hội nhập của quốc gia với nền kinh tế thế giới vì
đầu tư trực tiếp là nhân tố tác động mạnh đến tiến trình hoàn thiện thể chế, chính sách và môi
trường đầu tư.
• FDI góp phần thay đổi cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp và dịch vụ làm cho tính
hiệu quả của sự phát triển kinh tế được nâng lên.
• FDI cũng góp phần nâng cao mức sống của nước nhận đầu tư thông qua giải quyết việc làm,
tăng thu nhập, tạo đội ngũ lao động có tay nghề.
IV. Singapore và những thành tựu thần kì nhờ chiến lược thu hút vốn đầu tư nước
ngoài FDI
Như chúng ta đã biết, Singapore là một quốc đảo với diện tích nhỏ bé là 712,4 km2, dân số vào

phát huy mô hình chiến lược chú trọng thu hút vốn đầu tư nước ngoài và là 1 trong những nước
chủ nhà có FDI lớn nhất trên thế giới.
2. Các lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài
Trong giai đoạn đầu, lĩnh vực lọc dầu thu hút nhiều nhà đầu tư nhất. Tiếp theo đó là lĩnh
vực dệt may với các nhà đầu tư nước ngoài đến từ Đài Loan và Hồng Kông; tuy nhiên hình
thức đầu tư chỉ dưới dạng các doanh nghiệp có quy mô hộ gia đình chứ chưa phải là các tập
đoàn đa quốc gia lớn.
Kể từ sau những năm 1968, lĩnh vực đầu tư đã mở rộng hơn với: ngành điện-điện tử; hàng
công nghiệp, cơ khí chính xác. Vào đầu những năm 70 cho đến năm 2003, sự phân phối FDI
18
Nhóm 8 KTE406.1
KINH NGHIỆM VẬN DỤNG MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG NHANH” CỦA NHỮNG CON RỒNG CHÂU Á
VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
2011
vào các ngành đã có nhiều thay đổi: lĩnh vực điện tử luôn đứng trong top đầu về thu hút FDI
với 4.22 tỷ S$ (2.5 tỷ USD) vào năm 2003; tiếp đến là lĩnh vực hoá chất với 1.5 tỷ S$ (885
triệu USD); công nghiệp dược phẩm thu hút 851 triệu S$ (504 triệu USD); dịch vụ 2.08 tỷ S$
(1.22 tỷ USD) vào năm 2002; đến năm 2003 giảm 8% xuống còn 1.92 tỷ S$ (1.1 tỷ USD).
Tuy nhiên hiện nay, như một xu thế tất yếu của thế giới, nguồn FDI đã chuyển hướng
sang các ngành dịch vụ là chủ yếu và Singapore cũng không phải ngoại lệ. Cụ thể là năm 2009,
riêng ngành dịch vụ tài chính và bảo hiểm đã thu hút 230,8 tỉ đô Sing, chiếm 41,8% tổng số
vốn FDI đầu tư vào Singapore. Các ngành nhận được nhiều FDI tiếp theo là lĩnh vực sản xuất
với 120,7 tỉ USD, ngành thương mại bán buôn, bán lẻ với 17,2 tỉ USD.
Bảng 1. Distribution of FDI by Industry (Stock as at Year – End)
2008 ($ bil) 2009 ($ bil) Share in 2009 (%)
Total 508.3 552.3 100.0
Manufacturing 104.5 120.7 21.8
Wholesale and Retail Trade 92.5 95.2 17.2
Transport and Storage 36.3 36.5 6.7
Financial and Insurance

học kỹ thuật mà còn có thể sở hữu những thương hiệu nổi tiếng thế giới, các chiến lược
marketing toàn cầu, và tiếp cận với các luồng thông tin quốc tế. Đây thực sự là một cơ hội tốt
cho các doanh nghiệp Singapore được vươn ra bên ngoài thế giới.
4. Đánh giá các yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến việc thành công của chiến lược
thu hút FDI
4.1. Môi trường tổng thể của Singapore
Bên cạnh vai trò to lớn của chính sách công nghiệp, các chính sách kinh tế vĩ mô cũng đã
đóng một vai trò quan trọng, nhất là trong việc hỗ trợ cho các TNC. Kết cấu hạ tầng đã được
xây dựng để đáp ứng nhu cầu của các TNC. Chính sách thương mại của Singapore đã luôn luôn
tự do hơn so với các nước khác thể hiện qua các các rào cản thương mại (thuế quan và phi thuế
quan) rất thấp (thậm chí là 0%) và sự áp dụng rộng rãi các giấy chứng nhận tiêu chuẩn ISO.
20
Nhóm 8 KTE406.1
KINH NGHIỆM VẬN DỤNG MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG NHANH” CỦA NHỮNG CON RỒNG CHÂU Á
VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
2011
Ngoài ra, Singapore có những nhân tố đặc thù tác động tới việc định hình các chính sách về
FDI hoặc có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút FDI, là:
• Singapore là một nước thành phố với nhà nước có quyền lực tương đối mạnh để có thể xây
dựng các chính sách mà không gặp sự phản đối mạnh từ các cấp chính quyền khác hoặc từ các
tầng lớp xã hội.
• Đảng Hành động Nhân dân (PAP) đã chiến thắng trong tất cả các cuộc bầu cử kể từ năm 1959
và quyền lực cũng như tính chính thống của chính phủ PAP trở nên không thể phủ nhận. Điều
này đã cho phép chính phủ trở nên kỹ trị trong việc thực thi một chiến lược FDI.
• Singapore chưa bao giờ gặp phải tình trạng thâm hụt ngân sách chính phủ nên có thể dễ dàng
huy động vốn cho các khoản đầu tư.
• Một nhân tố có ảnh hưởng tích cực đến việc thu hút FDI là tuy có nhiều chủng tộc nhưng ngôn
ngữ làm việc ở Singapore là tiếng Anh.
• Vị trí địa lý nằm ở khu vực có chung một giờ chuẩn đã cho phép các dịch vụ tài chính lấp đầy
khoảng Trống giữa Mỹ và châu Âu trong vòng một ngày 24 giờ.

1. Khái niệm
1.1. Cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế là tương quan giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế.
1.2. Chuyển dịch cơ cấu ngành
Chuyển dịch cơ cấu ngành là quá trình thay đổi của cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái
khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển. Nội dung của
chuyển dịch là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến,
hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn.
5. Ý nghĩa của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
• Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình diễn ra liên tục và gắn liền với sự phát triển kinh
tế của một quốc gia.
• Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thể hiện tính hiệu quả của việc phân bổ các nguồn lực khan
hiếm của quốc gia.
22
Nhóm 8 KTE406.1
KINH NGHIỆM VẬN DỤNG MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG NHANH” CỦA NHỮNG CON RỒNG CHÂU Á
VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
2011
• Việc lựa chọn và chuyển dịch hợp lý cơ cấu ngành thể hiện được các lợi thế tương đối và khả
năng cạnh tranh của một quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu, là cơ sở cho sự chủ động tham gia
và thực hiện hội nhập thắng lợi.
• Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cũng ảnh hưởng đến tính chất bền vững của quá trình tăng
trưởng nên đòi hỏi chuyển dịch cơ cấu phải linh hoạt và phù hợp với nội lực và ngoại lực.
6. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình phát triển
Theo quy luật tăng năng suất lao động của A. Fisher, nền kinh tế được chia làm 3 khu vực:
• Khu vực 1: nông, lâm, ngư nghiệp và khai thác khoáng sản
• Khu vực 2: công nghiệp chế biến và xây dựng
• Khu vực 3: dịch vụ
Qua phân tích, A. Fisher đã rút ra kết luận rằng khu vực 1 dễ thay thế lao động bằng khoa
học kỹ thuật (KHKT) nhất nên tỷ trọng lao động trong nông nghiệp giảm. Thay thế lao động trong

góp 25% vào GDP. Tuy nhiên tới khoảng thời gian mà hệ thống tỷ giá hối đoái liên kết được ra
mắt năm 1983 thì nền kinh tế Hồng Kông đã trải qua chuyển đổi cơ cấu triệt để.
Lần thứ hai là vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 thế kỷ 20 khi Trung Quốc áp
dụng chính sách mở cửa nền kinh tế. Toàn bộ các hoạt động sản xuất của Hồng Kông được
chuyển vào trong đại lục để tận dụng chi phí đất đai và lao động rẻ, còn Hồng Kông đã mở rộng
ngành dịch vụ và trở thành một trung tâm giao dịch, tài chính và thương mại của khu vực Châu Á
- Thái Bình Dương. Chính sách của Trung Quốc quyết định cải tổ nền kinh tế cuối những năm
1970 đã mang lại một cơ hội cho Hồng Kông lập ra sự phân chia lao động xuyên khu vực. Nắm
bắt chính sách mở cửa của chính phủ Trung Quốc, một số lượng doanh nghiệp sản xuất của Hồng
Kông tăng nhanh và rót vốn đầu tư trực tiếp vào các tỉnh miền nam Trung Quốc từ nửa đầu những
năm 1980. Như vậy, hầu hết các tổ chức sản xuất của Hồng Kông được đặt tại tỉnh hàng xóm
Quảng Đông. Các tỉnh nam Trung Quốc thực hiện công nghiệp hoá nhanh chóng đã mở rộng xuất
khẩu sản phẩm sản xuất ra, kéo theo Hồng Kông trở thành trung tâm vận chuyển và hoạt động của
họ.
7. Những thành tựu mà Hồng Kông đã đạt được
24
Nhóm 8 KTE406.1
KINH NGHIỆM VẬN DỤNG MÔ HÌNH “TĂNG TRƯỞNG NHANH” CỦA NHỮNG CON RỒNG CHÂU Á
VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
2011
Với sự tăng trưởng kinh tế không ngừng, cho tới năm 2010 Hồng Kông đã trở thành nước
có nền kinh tế theo định hướng dịch vụ lớn nhất thế giới ( chiếm hơn 90% GDP )
GDP năm 2010: 215 tỷ USD với mức tăng trưởng là 0,7% ( đứng thứ 39 trên thế giới ).
Dịch vụ chiếm 92,3% tổng GDP, công nghiệp chiếm 7,6% và nông ngiệp chiếm 0,1%. Kinh tế
Hồng Kông chủ yếu là dịch vụ. Tỉ trọng của khu vực này trong GDP của Hồng Kông lên đến
hơn 90%. Trong quá khứ, chế tạo là khu vực quan trọng nhất của nền kinh tế do Hồng Kông đã
tiến hành công nghiệp hóa sau chiến tranh thế giới thứ hai cho tới những năm 1980 Hồng Kông
trải qua một quá trình chuyển dịch nhanh chóng sang một nền kinh tế dịch vụ. Phần lớn các
hoạt động sản xuất được chuyển qua Trung Hoa đại lục trong thời kỳ này và công nghiệp hiện
nay chỉ còn chiếm 7,6% nền kinh tế. (Nguồn OECD)

trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế một cách triệt để vào những năm 1980. Kể từ năm 1980
trở lại đây cơ cấu nền kinh tế Hồng Kông chỉ chú trọng phát triển các ngành dịch vụ, dịch vụ
chiếm hơn 90% nền kinh tế. Kết quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế đã mang lại
25
Nhóm 8KTE406.1

Trích đoạn Một số giải pháp nhằm thực hiện chiến lược sản xuất hướng xuất khẩu cho Việt Nam Một số giải pháp cho việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam 1 Thực trạng cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của các nhà đầutư nước ngoà
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status