Sử dụng bài tập thí nghiệm để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tư duy trong dạy học phần sinh học cơ thể Sinh học 11 - Pdf 28

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ THỊ HỒNG BÍCH
Sử dụng bài tập thí nghiệm để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tư duy trong dạy học
phần sinh học cơ thể - Sinh học 11
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN SINH
HỌC
MÃ SỐ: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐẶNG THỊ DẠ THỦY
Huế, năm 2014
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các
số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các
đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ
một công trình nào khác.
Họ tên tác giả
Lê Thị Hồng Bích
3
4

Hoàn thành luận văn này, tôi bày tỏ long biết ơn sâu
sắc đến Cô giáo – TS. Đặng Thị Dạ Thủy, giảng viên Khoa
Sinh học, Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Huế đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên
cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy giáo, cô giáo

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
3. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7. CẤU TRÚC CỦA BÁO CÁO
8. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
9. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1. Thí nghiệm và bài tập thí nghiệm
1.1.1.1. Thí nghiệm và vai trò của thí nghiệm trong dạy học sinh học
1.1.1.2. Bài tập thí nghiệm
1.1.1.3. Các dạng bài tập thí nghiệm
1.1.1.4. Vai trò của bài tập thí nghiệm
1.1.2. Kĩ năng học tập của học sinh
1.1.2.1. Kĩ năng học tập
1.1.2.2. Một số kĩ năng nhận thức
1.1.2.3. Các yêu cầu khi sử dụng BTTN trong dạy học Sinh học
6
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Mục tiêu, cấu trúc và nội dung chương trình Sinh học 11, trung học phổ
thông.
1.2.1.1. Mục tiêu chương trình Sinh học 11, trung học phổ thông
1.2.1.2. Phân tích cấu trúc nội dung chương trình Sinh học 11
1.2.2. Hệ thống thí nghiệm trong dạy học Sinh học ở THPT
1.2.3. Thực trạng dạy học Sinh học ở trường trung học phổ thông
1.2.3.1. Thực trạng dạy Sinh học ở trường trung học phổ thông

3.2.3. Bố trí thực nghiệm
3.2.4. Tiêu chí đánh giá việc rèn luyện các kỹ năng tư duy thực nghiệm
3.2.4.1. Tiêu chí đánh giá việc rèn luyện kỹ năng phân tích thí nghiệm
3.2.4.2. Tiêu chí đánh giá việc rèn luyện kỹ năng so sánh kết quả thí nghiệm
3.2.4.3. Tiêu chí đánh giá việc rèn luyện kỹ năng phán đoán kết quả thí nghiệm
3.2.4.1. Tiêu chí đánh giá việc rèn luyện kỹ năng thiết kế thí nghiệm
3.3. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
8
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Viết đầy đủ Chữ viết tắt
1 Thí nghiệm TN
2 Bài tập thí nghiệm BTTN
3 Trung học phổ thông THPT
4 Giáo viên GV
5 Học sinh HS
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Bảng hệ thống TN trong dạy học chương trình Sinh học 11 ở THPT.
Bảng 1.2. Kết quả điều tra về phương pháp dạy học của giáo viên
9
Bảng 1.3. Kết quả điều tra về việc sử dụng BTTN trong các khâu của quá trình dạy
học Sinh học ở các trường THPT
Bảng 1.4. Kết quả điều tra ý kiến của GV về sự cần thiết của việc rèn luyện kỹ năng tư
duy cho HS
Bảng 1.5. Kết quả điều tra thực trạng rèn luyện một số kỹ năng tư duy cho HS

Hình 2.12. Thí nghiệm ở ốc sên
Hình 2.13. Thí nghiệm ở chuột bạch
Hình 2.14. Sinh sản vô tính ở cây hoa đá
Hình 2.15. TN trao đổi nước ở thực vật
Hình 2.16. Trao đổi nước ở thực vật
Hình 2.17. Thí nghiệm về hô hấp ở thực vật
Hình 2.18. TN tính hướng nước của rễ cây đậu xanh
Hình 2.19: Thí nghiệm chậu cây treo nghiêng
Hình 2.20. Thí nghiệm ở lá rau khoai
Hình 2.21. Thí nghiệm về tập tính của động vật
Hình.2.22. Thí nghiệm ở bồ câu và chuột bạch
Hình 2.23. TN về hoocmon ở thực vật
Hình 2.24. TN về hô hấp ở thực vật
Hình 2.25. Phim TN hô hấp ở thực vật
Hình 2.26. Thí nghiệm ở đậu xanh
Hình 2.27. TN quang hợp ở thực vật
Hình 2.28. Thí nghiệm trao đổi nước ở thực vật
Hình 2.29. Thí nghiệm về trao đổi nước ở thực vật
Hình 2.30. Thí nghiệm ở cây mướp đắng
Hình 2.31. Thí nghiệm ở củ khoai lang
Hình 2.32. Thí nghiệm ở ốc sên
Hình 2.33. Dụng cụ và nguyên liệu của thí nghiệm hô hấp ở thực vật
Hình 2.34. Dụng cụ, vật liệu và hóa chất cho TN tách chiết sắc tố
Hình 2.35. Thí nghiệm về trao đổi nước
11
Hình 2.36. Thí nghiệm ở cây đậu xanh
Hình 2.37. Thí nghiệm về quang hợp
Hình 2.38. Mẫu vật thí nghiệm
Hình 2.39. Dụng cụ thí nghiệm
Hình 2.40. Dụng cụ thí nghiệm hocmon thực vật

bộ kiến thức sinh học 11 gắn liền với thực tiễn, đòi hỏi cần có sự thực hành và sâu sát
với thực tế, điều này có thể thực hiện bằng các bài tập thí nghiệm (BTTN) hay các
hoạt động quan sát tiến hành được trên lớp, ở phòng TN, vườn trường, ở nhà
Tuy nhiên, trong dạy học Sinh học ở phổ thông hiện nay, phần lớn giáo viên
(GV) chưa gắn việc giảng dạy lí thuyết với thực hành, có tâm lí ngại sử dụng TN trong
các giờ dạy và có xu hướng dạy chay. Vì vậy, học sinh (HS) chưa được tạo điều kiện
để bồi dưỡng phát triển năng lực tư duy, năng lực thực nghiệm, năng lực hoạt động tự
lực sáng tạo. Với cách học như hiện nay, HS không mấy chú trọng khâu thực hành,
hầu hết kiến thức thu được đều ở dạng lí thuyết, cách học tích luỹ tri thức trong sách
giáo khoa, coi trọng ghi nhớ các sự kiện, công thức, quy trình, quen làm theo các mẫu
13
đã cho, học theo lối học thuộc lòng. HS chưa có điều kiện để bồi dưỡng phương pháp
nhận thức, rèn luyện tư duy khoa học, phát triển năng lực tự giải quyết vấn đề, chưa
kích thích được tính tư duy sáng tạo và yêu thích học tập môn Sinh học.
Một trong những phương hướng để gắn lí thuyết với thực hành, giúp HS nắm
vững các kiến thức, kỹ năng cơ bản về lý thuyết và thực nghiệm của môn Sinh học là
việc sử dụng BTTN trong dạy học. Thông qua các BTTN, HS được bồi dưỡng, phát
triển năng lực tư duy, năng lực thực nghiệm, năng lực hoạt động tự lực, sáng tạo, bộc
lộ rõ khả năng sở trường, sở thích về sinh học.
Như vậy, giải BTTN là một hình thức hoạt động nhằm nâng cao chất lượng học
tập, đây cũng là một trong những biện pháp để phát hiện và bồi dưỡng những HS khá,
giỏi về sinh học. Vì vậy, loại bài tập này có tác dụng toàn diện trong việc đào tạo,
nâng cao chất lượng dạy học Sinh học ở THPT.
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Sử dụng bài
tập thí nghiệm để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tư duy trong dạy học phần sinh
học cơ thể - Sinh học 11”
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu thiết kế và sử dụng các BTTN trong dạy học phần Sinh học cơ thể -
Sinh học 11 để rèn luyện một số kỹ năng tư duy cho HS góp phần nâng cao chất lượng
dạy và học Sinh học ở trường THPT.

tiến dạy học hướng vào việc sử dụng TN, BTTN trong dạy học của các tác giả trong và
ngoài nước.
- Nghiên cứu các tài liệu TN sinh học để làm cơ sở cho việc thiết kế, phân loại
BTTN trong dạy học Sinh học ở trung học.
- Nghiên cứu các tài liệu về phương pháp và biện pháp dạy học làm cơ sở để đề
xuất các biện pháp sử dụng BTTN nhằm nâng cao hiệu quả dạy - học Sinh học ở
THPT.
6.2. Phương pháp chuyên gia [2]
Trao đổi trực tiếp, xin ý kiến của những giáo sư đầu ngành về lĩnh vực nghiên
cứu, giúp việc định hướng triển khai nghiên cứu đề tài.
6.3. Phương pháp điều tra cơ bản
Điều tra về thực trạng của việc sử dụng các BTTN trong dạy học Sinh học ở
trường THPT.
- Đối với GV:
15
+ Dùng phiếu điều tra để lấy số liệu về thực trạng dạy học bộ môn Sinh học .
+ Tham khảo giáo án của một số GV.
+ Dự giờ và trao đổi kinh nghiệm với một số GV.
- Đối với HS:
Sử dụng phiếu điều tra để điều tra hứng thú học tập bộ môn Sinh học của HS.
6.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Để đánh giá kỹ năng tư duy ở HS, chúng tôi tiến hành xây dựng bộ tiêu chí.
Căn cứ vào các tiêu chí được đặt ra để tiến hành đo mức độ đạt được của mỗi kỹ năng
theo thời gian.
6.5. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng một số công cụ toán học để xử lý các kết quả điều tra và kết quả thực
nghiệm sư phạm. Tham số sử dụng để xử lý: phần trăm (%).
7. CẤU TRÚC CỦA BÁO CÁO
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, báo cáo tổng
kết gồm có 3 chương:

Việc vận dụng phương pháp thực hành TN vào dạy học đã được nhiều nhà giáo
dục trên thế giới quan tâm nghiên cứu như: B.P Exipop, M.A Danilop, M.N Scattin,
I.F Kharlamov, I.I Samova, M.N Veczelin (Nga), Skinner (Mỹ), Okon (Ba Lan).
Skinner (1904-1990) trong tác phẩm “Công nghệ dạy học” (1968) đã cho rằng: dạy
học là quá trình tự khám phá, và ông đã đưa ra mô hình dạy học khám phá bằng việc
sử dụng TN thực hành.
Dạy học bằng phương pháp TN đã được sử dụng ở nhiều nước tiên tiến trên thế
giới từ (Anh, Pháp, Mỹ, Đức ), bắt đầu từ đầu thế kỉ XX và phát triển rầm rộ từ nửa
sau của thế kỉ này. Ở Pháp vào những năm 1980-1990, đã có nhiều trường hợp sử
dụng phương pháp TN trong dạy học và được xem là phương pháp trọng tâm của các
môn khoa học tự nhiên ở các trường trung học. Năm 1980, ông Pie Giôliô Quiri - Viện
trưởng viện hàn lâm Pháp đã khởi xướng phương pháp Lamap “Bàn tay nặn bột”, bắt
nguồn từ thực trạng xuống cấp của sinh viên các ngành khoa học tự nhiên. Với phương
pháp này Viện hàn lâm mong muốn mang đến một cơ hội để người học tiếp cận khoa
học bằng các bài học thực tiễn chứ không phải các bài giảng thuần tuý lí thuyết. Theo
phương pháp này, lớp học được chia thành nhiều nhóm (4 HS/nhóm). Mỗi nhóm được
17
giao các tài liệu và các yêu cầu khác nhau liên quan đến các bài học. Căn cứ vào yêu
cầu, các nhóm sẽ lựa chọn các vật dụng cần thiết cho việc thực hành TN. Các vật dụng
thường đơn giản, dễ tìm. Các nhóm sẽ thảo luận cách thức thực hiện các bài TN, trình
bày các hiểu biết mà mình khám phá được. Trong suốt quá trình các nhóm làm việc,
GV đóng vai trò là người quan sát hướng dẫn.
Tại một số nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Bộ giáo dục và
đào tạo các nước này cũng đã đưa phương pháp Lamap vào chương trình học chính
khoá trong trường phổ thông [24].
9.2. Ở Việt Nam
Ở nước ta, có rất nhiều nhà lý luận dạy học nghiên cứu về phương pháp TN,
nhằm cải tiến phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của
HS như: Nguyễn Ngọc Quang, Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Văn
Duệ, Trần Bá Hoành, Nguyễn Quang Vinh, Trịnh Nguyên Giao, Lê Văn Lộc, Nguyễn

Đặng Nhật Kim Ngọc (2014) với nghiên cứu “Sử dụng bài tập thí nghiệm để
rèn luyện cho học sinh kỹ năng tư duy trong dạy học Sinh học 8” (Luận văn Thạc sĩ
giáo dục học). Tác giả đã chứng tỏ được hiệu quả của việc sử dụng BTTN trong rèn
luyện các kỹ năng tư duy cho HS [20].
Như vậy, việc sử dụng phương pháp thực hành TN hay sử dụng BTTN trong
dạy học đã được nghiên cứu và chú ý từ rất sớm. Tuy nhiên, việc nghiên cứu sử dụng
BTTN để rèn luyện kĩ năng tư duy thực nghiệm trong các khâu của quá trình dạy học,
nâng cao chất lượng dạy học trong môn Sinh học còn rất hạn chế. Vì vậy, việc đi sâu
nghiên cứu lí luận, đề xuất quy thiết kế BTTN và đề xuất giải pháp sử dụng các BTTN
trong dạy học Sinh học là rất cần thiết.
19
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1. Thí nghiệm và bài tập thí nghiệm
1.1.1.1. Thí nghiệm và vai trò của thí nghiệm trong dạy học sinh học
TN là sự tác động vào đối tượng nghiên cứu bằng những điều kiện nhân tạo
nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của một hoặc một vài yếu tố xác định, tập trung theo dõi
một vài khía cạnh nhất định.
Sinh học là môn khoa học thực nghiệm gắn liền với TN và thực hành. TN trong
dạy học có thể tiến hành trên lớp, phòng TN, vườn trường, ở nhà,… có thể do GV biểu
diễn hoặc do HS thực hiện. TN vừa là phương tiện, vừa là nguồn cung cấp kiến thức
mới có vai trò quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển tư duy, sáng tạo của HS.
Vai trò của TN trong dạy học Sinh học :
- TN là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan, là nguồn cung cấp thông
tin, là điểm xuất phát cho quá trình nhận thức của HS.
- TN là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn.
- TN là phương tiện duy nhất giúp HS hình thành kỹ năng, kỹ xảo thực hành và
tư duy khoa học.

TN.
- Căn cứ vào vào mục đích của quá trình dạy học, BTTN có các dạng:
+ BTTN hình thành kiến thức mới:
Trong khâu nghiên cứu bài học mới, BTTN được dùng như là một bài tập tình
huống, bài tập nhận thức, đặt ra vấn đề mới mà khi giải xong HS sẽ lĩnh hội được kiến
thức mới và hình thành nên kỹ năng mới.
HS phải tự mình tiến hành TN, quan sát hiện tượng, phân tích TN… để rút ra
kết luận có giá trị nhận thức mới. Vai trò của GV là hướng dẫn HS phân tích kết quả,
tìm ra mối quan hệ nhân quả bằng các câu hỏi định hướng. Bài tập này thường đưa ra
trước khi nghiên cứu một nội dung mới, vấn đề mới.
+ Bài tập thí nghiệm củng cố - hoàn thiện kiến thức:
21
Các BTTN được sử dụng trong khâu hoàn thiện kiến thức thường được tiến
hành sau khâu dạy bài mới, vào cuối tiết học, giờ thực hành, ngoại khóa, ôn tập cuối
chương, cuối học kỳ hoặc ôn tập cuối năm… Các bài tập này có tác dụng lớn trong
việc chính xác hóa các khái niệm , tăng cường tính vững chắc, tính hệ thống các kiến
thức và rèn luyện kỹ năng kỹ xảo. Trong đó, việc xác lập các mối quan hệ giữa các
biểu tượng về sự vật hiện tượng cụ thể với các khái niệm trừu tượng có vai trò quan
trọng.
+ BTTN kiểm tra đánh giá:
Trong dạy học Sinh học, việc kiểm tra đánh giá được tiến hành thường xuyên
và định kì với nhiều hình thức: kiểm tra miệng, viết, trắc nghiệm khách quan… Công
việc kiểm tra đó cũng có thể thực hiện thông qua các BTTN vì vừa có tác dụng kiểm
tra được kiến thức, vừa kiểm tra được kỹ năng, vừa sinh động hấp dẫn đối với HS [2],
[18], [20].
- Với mục tiêu hình thành và phát triển kỹ năng tư duy cho HS, BTTN có các
dạng:
+ Bài tập rèn luyện kỹ năng phân tích TN: Đối với bài tập này yêu cầu HS
phải phân tích được mục đích của các TN, các điều kiện tiến hành TN, kết quả TN,
trên cơ sở đó giải thích được kết quả của các TN đã tiến hành. Từ đó rút ra được kiến

Thông qua BTTN sẽ tạo ra HS khả năng tổng hợp kiến thức lý thuyết và thực
nghiệm, các kĩ năng hoạt động trí óc và thực hành một cách khéo léo, các vốn hiểu biết
về vật lý, kỹ thuật và thực tế đời sống nhằm phát huy tốt nhất khả năng suy luận, tư
duy lôgic. Với BTTN, HS có thể đề xuất các phương án TN khác nhau gây ra không
khí tranh luận sôi nổi [8], [24].
Tóm lại, BTTN vừa là mục đích, vừa là nội dung, vừa là phương pháp dạy học
hiệu nghiệm nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của HS và rèn luyện được các kĩ
năng, kĩ xảo cần thiết. BTTN có tác dụng toàn diện về ba mặt: giáo dục, giáo dưỡng,
giáo dục kĩ thuật tổng hợp, đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học
hiện nay.
1.1.2. Kĩ năng học tập của học sinh
1.1.2.1. Kĩ năng học tập
23
Kĩ năng học tập là khả năng của con người thực hiện có kết quả các hành động
học tập phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh nhất định, nhằm đạt tới mục đích, nhiệm
vụ đề ra.
Đối với HS trung học phổ thông, có hệ thống kĩ năng học tập chung như sau:
1. Các kĩ năng học tập phục vụ chức năng nhận thức liên quan đến việc thu
thập, xử lí, sử dụng thông tin: kĩ năng làm việc với SGK, kĩ năng quan sát, kĩ năng tiến
hành TN, kĩ năng phân tích - tổng hợp, kĩ năng so sánh, kĩ năng phán đoán - suy luận,
kĩ năng khái quát hóa, kĩ năng vận dụng các kiến thức đã học
2. Các kĩ năng học tập phục vụ chức năng tự tổ chức, tự điều chỉnh quá trình
học tập liên quan đến việc quản lí phương tiện học tập, thời gian, sự hỗ trợ từ bên
ngoài và chất lượng: kĩ năng tự kiểm tra, kĩ năng tự đánh giá, kĩ năng tự điều chỉnh
3. Các kĩ năng phục vụ chức năng tương tác trong học tập hợp tác: kĩ năng hợp
tác, kĩ năng học nhóm
Trong hệ thống kĩ năng trên, chúng tôi quan tâm đến việc xây dựng và thiết kế
các BTTN để rèn luyện một số kĩ năng tư duy thực nghiệm trong nhóm hệ thống kĩ
năng nhận thức [15].
1.1.2.2. Một số kĩ năng nhận thức

suy luận quy nạp. Suy luận diễn dịch là suy luận lập từ cái chung đến cái riêng, cái đơn
nhất. Suy luận quy nạp là suy luận trong đó lập từ cái riêng, cái đơn nhất đến cái
chung.
Trong dạy học bằng phương pháp TN, cần phải chú ý rèn luyện tư duy thực
nghiệm bằng phương pháp suy luận quy nạp.
d. Kĩ năng thiết kế thí nghiệm
Khi thiết kế TN, HS có thể dựa vào các dụng cụ, thiết bị TN đã cho sẵn, hoặc
có thể tự nghĩ ra dụng cụ, thiết bị để thiết kế một TN nhằm kiểm tra một phán đoán,
một mệnh đề nào đó. Trong dạy học Sinh học, việc rèn luyện cho HS tự mình đề ra các
phương án TN, tự bố trí TN và tự giải thích TN là một vấn đề rất quan trọng. Qua đó
giúp các em phát huy được tính sáng tạo, tính tự lập trong học tập và nghiên cứu khoa
học [3], [23].
1.1.2.3. Các yêu cầu khi sử dụng BTTN trong dạy học Sinh học
- Phải phù hợp với nội dung chương trình, bài học.
- Gần gũi với đời sống thực tiễn của HS.
25
- Phải phù hợp với trình độ của HS.
- Các dụng cụ, thiết bị TN đơn giản, dễ tìm, các thao tác TN không quá khó.
- Tạo khả năng để HS đưa ra nhiều giải pháp khi giải bài tập.
- Rèn luyện được một kĩ năng nào đó.
- Khắc sâu một kiến thức lí thuyết nhất định.
Khi xây dựng BTTN cần chú ý:
- Xác định được chủ đề của BTTN.
- Xác định được mục đích dạy học thông qua BTTN.
- Nội dung của BTTN cần phải đầy đủ thông tin, dữ kiện, yếu tố cấu thành TN
để phân tích và giải bài tập.
- Nhiệm vụ HS cần giải quyết [7], [20].
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Mục tiêu, cấu trúc và nội dung chương trình Sinh học 11, trung học
phổ thông.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status