Hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm ở các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tp HCM - Pdf 28

1
Chương 1: TỔNG QUAN VỂ HỆ THỐNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI
DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm chung về kế toán trách nhiệm
Kế toán trách nhiệm là hệ thống kế toán tập hợp kết quả theo từng lĩnh vực thuộc
trách nhiệm cá nhân nhằm giám sát và đánh giá kết quả của từng bộ phận trong tổ chức.
Mục tiêu của hệ thống kế toán trách nhiệm là nhằm đảm bảo sử dụng hữu hiệu và
hiệu quả các nguồn lực của tổ chức. Tính hữu hiệu bao gồm việc hoàn thành các mục tiêu
của tổ chức với chi phí thấp thể hiện bằng lượng đầu ra đạt được trên một đơn vị đầu vào.
Tính hiệu quả được đo lường mà không tính tới việc đầu ra có phù hợp với mục tiêu của
tổ chức hay không.
1.2. Chức năng và sự cần thiết của thông tin kế toán cho các đối tượng sử dụng
1.2.1.Chức năng của kế toán trách nhiệm
Hệ thống kế toán trách nhiệm là một “công cụ” để đo lường kết quả hoạt động của
một khu vực nào đó trong tổ chức, qua đó giúp nhà quản trị kiểm soát và đánh giá trách
nhiệm quản trị ở từng cấp quản trị khác nhau. Các chức năng của kế toán trách nhiệm đều
gắn liền với sự phân cấp về quản lý. Chức năng này được thể hiện như sau:
Sự phân cấp quản lý trải rộng giúp các ban quản lý cấp cao sẽ không phải giải
quyết các vấn đề chi tiết mà họ có thể tập trung vào những công việc chiến lược, việc lập
các kế hoạch dài hạn và điều phối các hoạt động của các bộ phận trong tổ chức, đảm bảo
việc thực hiện các mục tiêu chung. Sự phân cấp quản lý còn giúp cho các nhà quản lý có
sự độc lập tương đối trong việc điều hành công việc, phát triển kỹ năng, nâng cao kiến
thức chuyên môn, tăng khả năng xử lý tình huống để tăng tốc độ hoạt động của mỗi bộ
phận. Ngoài ra sự phân cấp quản lý còn gắn liền với xác định nhiệm vụ ở các cấp quản lý,
nên từ đó có cơ sở để đánh giá thành quả ở các cấp quản lý tốt hơn, nhờ đó, thúc đẩy các
nhà quản lý bộ phân điều hành bộ phận của mình theo phương cách phù hợp với những
mục tiêu cơ bản của toàn bộ tổ chức.
- Giúp xác định sự đóng góp của từng đơn vị, bộ phận vào lợi ích của toàn bộ tổ
chức. Sự phân cấp quản lý trải rộng việc quyết định cho nhiều cấp quản lý.
1
2

chung. Mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp được gắn với các trung tâm trách nhiệm.
Khi kế toán trách nhiệm có thể kiểm soát được công tác tài chính và công tác quản lý, sẽ
2
3
điều chỉnh hoạt động hướng đến các mục tiêu chung của doanh nghiệp. Đồng thời, bản
thân các giám đốc trung tâm trách nhiệm được khích lệ hoạt động sao cho phù hợp với
các mục tiêu cơ bản của toàn doanh nghiệp.
1.3. Nội dung kế toán trách nhiệm
1.3.1. Phân cấp quản lí và xác định trung tâm trách nhiệm
Kế toán trách nhiệm là công việc không thể tách rời các trung tâm trách nhiệm.
Các trung tâm này được hình thành thông qua việc phân cấp quản lý.
1.3.1.1. Phân cấp quản lý
Phân cấp quản lý là việc người quản lý giao quyền ra quyết định cho cấp quản lý
thấp hơn trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Và cấp dưới đó chỉ ra quyết định
trong phạm vi trách nhiệm của mình. Tùy theo từng doanh nghiệp, mức độ phân chia có
thể khác nhau, gồm nhiều cấp độ hay chỉ một cấp và việc giao quyền quyết định có thể
nhiều hay ít.
Mỗi cấp độ sẽ có người quản lý riêng và có thể thuộc về một trong các trung tâm
từ thấp lên cao như sau: trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và
trung tâm đầu tư. Người quản lý sẽ điều phối các nguồn lực và hoạt động trong trung tâm
mình để thực hiện các chỉ tiêu do cấp trên đã giao.
Có nhiều cách phân quyền quản lý mà chủ yếu là phân chia theo chức năng kinh
doanh, theo sản phẩm sản xuất kinh doanh, và theo khu vực địa lý. Đối với doanh nghiệp
phân chia theo chức năng kinh doanh ta có các phòng ban như tiếp thị, sản xuất, nghiên
cứu và phát triển, tài vụ… Đối với cách phân chia theo sản phẩm hay khu vực địa lý, các
phòng ban được chia theo các loại sản phẩm kinh doanh, khu vực địa lý, và thường mỗi
sản phẩm kinh doanh và khu vực đó gắn với các đầu vào và đầu ra riêng để xác định hiệu
quả kinh doanh của nó.
a. Ưu điểm phân cấp quản lý:
Người quản lý sẽ giao bớt việc cho nhân viên theo từng cấp từ trên xuống dưới phù

nhà quản lý từng trung tâm để đánh giá khả năng làm việc của họ. Đưa ra các biện pháp
phù hợp để phát triển những điểm mạnh và hạn chế những điểm yếu của cấp dưới.
b. Khuyết điểm phân cấp quản lý:
Việc phân cấp càng nhiều thì các nhà quản trị cấp cao càng khó kiểm soát đối với
các cấp thấp hơn cách nhiều bậc.
Phân cấp trách nhiệm giữa các trung tâm cũng có thể khiến cho các cấp quản lý
trung tâm chỉ quan tâm đến lợi ích của trung tâm mình mà không lưu tâm đến lợi ích
chung của toàn công ty. Do đó sẽ có những quyết định có lợi cho trung tâm họ nhưng
đồng thời lại bất lợi đối với trung tâm khác, gây ảnh hưởng đến lợi ích toàn công ty.
4
5
Do đó để kiểm soát việc phân cấp hiệu quả, doanh nghiệp cần phân chia cấp bậc
kết hợp với phân quyền cho hợp lý với tình hình hoạt động kinh doanh và những chiến
lược chung của doanh nghiệp.
1.3.1.2. Xác định trung tâm trách nhiệm
Trung tâm trách nhiệm là một chức năng hay một bộ phận trong tổ chức, đặt dưới
sự lãnh đạo của một nhà quản trị, chịu trách nhiệm trực tiếp với kết quả của chức năng đó
hay bộ phận đó. Thường có bốn loại trung tâm trách nhiệm: Trung tâm chi phí, trung tâm
doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư.
a. Trung tâm chi phí
Trung tâm chi phí: là trung tâm trách nhiệm mà người quản lý chỉ chịu trách nhiệm,
hoặc chỉ có quyền kiểm soát đối với chi phí phát sinh ở trung tâm, không có quyền hạn
đối với việc tiêu thụ và đầu tư vốn. Được xếp vào loại trung tâm chi phí là các phân
xưởng sản xuất, các phòng ban chức năng. Trung tâm chi phí được chia thành hai nhóm:
Trung tâm chi phí tiêu chuẩn và trung tâm chi phí dự toán.
 Trung tâm chi phí tiêu chuẩn:
Là trung tâm chi phí mà các yếu tố chi phí và các mức hao phí về các nguồn lực sử
dụng để sản xuất một đơn vị sản phẩm đều được xây dựng định mức cụ thể. Ở trung tâm
chi phí tiêu chuẩn, chỉ tiêu chi phí tính cho một đơn vị là yếu tố cơ bản để xác định tổng
chi phí tiêu chuẩn. Nhà quản trị trung tâm chi phí tiêu chuẩn có trách nhiệm kiểm soát chi

thuộc, các chi nhánh…
d. Trung tâm đầu tư
Trung tâm đầu tư là trung tâm trách nhiệm mà nhà quản trị ngoài việc phải chịu
trách nhiệm với chi phí, doanh thu, lợi nhuận còn phải chịu trách nhiệm với vốn đầu tư và
khả năng huy động các nguồn tài trợ. Nhà quản trị có quyền ra quyết định đầu tư vốn và
sử dụng vốn lưu động. Được xếp vào trung tâm đầu tư là Hội đồng quản trị, các công ty
con độc lập…
Việc chọn lựa một trung tâm thích hợp nhất cho một đơn vị trong tổ chức là điều
không dễ dàng. Cơ sở để xác định một bộ phận trong tổ chức là trung tâm loại gì, là căn
cứ trên loại nguồn lực hoặc trách nhiệm mà nhà quản lý trung tâm trách nhiệm đó được
giao.
1.3.2. Xây dựng các chỉ tiêu sử dụng để đánh giá trách nhiệm từng bộ phận
1.3.2.1. Chỉ tiêu tỷ lệ lợi nhuận trước thuế và trả lãi trên giá trị tài sản sử dụng
bình quân trong kỳ
Khi thiết kế các trung tâm trách nhiệm, phải xuất phát từ quan điểm nhìn nhận toàn
bộ tổ chức là một trung tâm đầu tư. Vì vậy, với chỉ tiêu này nhà quản trị có thể đo lường
mức lợi nhuận ở phạm vi toàn bộ tổ chức. Tổ chức phải đạt được mức lợi nhuận từ hoạt
6
7
động kinh doanh thỏa đáng để đáp ứng nhu cầu đầu tư và đổi mới cơ sở vật chất, nhu cầu
tiền mặt cần thiết cho sự tăng trưởng, đối phó với bất trắc ngoài dự kiến và thỏa mãn sự kì
vọng của các nhà đầu tư.
Công thức:
Tỷ lệ lợi nhuận trước thuế và
trả tiền lãi/Tài sản bình quân
=
Tỷ lệ này càng cao thì càng tốt. Để tỷ lệ này cao thì tăng lợi nhuận và không thay
đổi giá trị tài sản sử dụng hoặc đầu tư thêm tài sản với điều kiện tốc độ tăng của lợi
nhuận nhanh hơn tốc độ tăng của tài sản đầu tư thêm.
1.3.2.2. Trung tâm chi phí

- Tỷ lệ thực hiện kế hoạch chi phí = x 100%
Doanh thu cao chưa chắc đã đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Nếu mục tiêu của
doanh nghiệp là lợi nhuận thì ngoài việc sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ thực hiện kế hoạch
doanh thu, để đánh giá trách nhiệm của trung tâm doanh thu, ta còn phải sử dụng chỉ
tiêu tỷ lệ thực hiện kế hoạch chi phí bỏ ra để có doanh thu, và đánh giá thêm về khả
năng sinh lợi trên doanh thu thông qua tỷ lệ lãi gộp. Tỷ lệ này cho biết trong kỳ
trung tâm đã được bao nhiêu phần trăm kế hoạch, tỷ lệ này càng thấp càng tốt.
- Tỷ lệ lãi gộp = x 100%
Tỷ lệ lãi gộp cho biết cứ một trăm đồng doanh thu thì tạo ra được bao nhiêu đồng lãi
gộp và tỷ lệ này càng cao thì khả năng sinh lời càng cao.
1.3.2.4. Trung tâm lợi nhuận
Trách nhiệm của trung tâm là tổ chức hoạt động kinh doanh sao cho lợi nhuận đạt
cao nhất. Nhà quản trị được giao vốn và những quyền hạn nhất định trong việc sử dụng
số vốn đó để tạo ra lợi nhuận. Do vậy, bên cạnh trách nhiệm phải tạo ra lợi nhuận cao
còn phải kiểm soát chi phí phát sinh. Kế toán quản trị đánh giá trung tâm qua việc thực
hiện chỉ tiêu lợi nhuân, giá bán và lượng bán.
Khi đánh giá kết quả của trung tâm lợi nhuận, trước tiên kế toán quản trị sẽ thực hiện
đánh giá theo chỉ tiêu cơ bản sau:
- Mức lợi nhuận thực hiện so với kế hoạch được giao:
o Số tuyệt đối: Mức tăng/giảm lợi nhuận = LN thực tế - LN kế hoạch
o Số tương đối: Tỷ lệ thực hiện kế hoạch lợi nhuận = LN thực tế/LN kế hoạch
Nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận là doanh thu và chi phí nên để đánh giá
chính xác kết quả của trung tâm lợi nhuận, kế toán quản trị trước hết sẽ xác định phạm vi
chi phí mà nhà quản trị trung tâm có thể kiểm soát được, rồi áp dụng phương pháp phân
tích biến động chi phí như phương pháp áp dụng ở cá trung tâm chi phí. Đối với chỉ tiêu
doanh thu, kế toán đánh giá qua hai khía cạnh:
- Có đạt được mức tiêu thụ dự toán hay không?
8
9
- Giá bán có đúng như dự toán hay không?

Để khắc phục những hạn chế của ROI và để khuyến khích các nhà quản trị các trung
tâm đầu tư tận dụng mọi cơ hội kinh doanh có đem lại lợi nhuận cho tổ chức nói chung,
kế toán quản trị sử dụng một chỉ tiêu bổ sung để đánh giá kết quả của trung tâm đầu tư, đó
là chỉ tiêu lãi thặng dư (RI)
9
10
Lãi thặng dư là một chỉ tiêu tuyệt đối, phản ánh phần lãi kinh doanh bộ phận vượt
trội chỉ tiêu lãi bộ phận. Chỉ tiêu lãi bộ phận do quản lý cấp cao giao cho trung tâm đầu
tư, căn cứ trên các nhân tố như chi phí đầu tư cho các hoạt động kinh doanh của bộ phận
và mức ROI bình quân của toàn doanh nghiệp. Chỉ tiêu “Lãi kinh doanh bộ phận” được
tính bằng cách nhân mức ROI bình quân với giá trị vốn đầu tư ở từng bộ phận.
Lãi thặng dư (RI) được tính như sau:
RI = Lợi nhuận – Chi phí vốn
RI = Lợi nhuận – (Vốn đầu tư x Tỷ suất chi phí vốn)
Trong đó, chi phí vốn là những phí tổn mà trung tâm phải bỏ ra để có được vốn đầu
tư như: lãi vay, cổ tức phải trả,…Tỷ suất chi phí vốn đầu tư thường do tổ chức quy định
chung cho toàn doanh nghiệp.
Sử dụng chỉ tiêu lãi thặng dư làm thước đo kết quả bộ phận có ưu điểm là đánh giá
đúng kết quả của các trung tâm đầu tư, vì chỉ tiêu này đã đặt các trung tâm đầu tư lên
cùng một mặt bằng so sánh. Ngoài ra, lãi thặng dư còn khuyến khích các nhà quản lý bộ
phận chấp nhận bất kỳ cơ hội kinh doanh nào được dự kiến sẽ mang lại ROI cao hơn mức
ROI bình quân.
Tuy nhiên RI cũng có hạn chế là được tính bằng con số tuyệt đối nên khó có thể
đánh giá được hoạt động của các trung tâm đầu tư có quy mô vốn khác nhau.
Như vậy, cả ROI và RI đều có những hạn chế, cho nên chúng thường được sử dụng
phối hợp với nhau trong quá trình đánh giá sự thực hiện của các trung tâm đầu tư.
1.3.3.Xây dựng các báo cáo trách nhiệm của các trung tâm trách nhiệm
1.3.3.1. Mục tiêu, đặc điểm và yêu cầu của báo cáo kế toán trách nhiệm
a. Mục tiêu
Ghi nhận việc thực hiện mục tiêu và so sánh với mục tiêu được phân công của mỗi

 Báo cáo phải được thực hiện thường xuyên, liên tục
 Hình thức phải tương đối đơn giản, dễ hiểu và có sự so sánh.
1.3.3.2. Các loại báo cáo trách nhiệm
Thông tin kế toán trách nhiệm cung cấp cho nhà quản lý trong doanh nghiệp
cơ sở để đánh giá trách nhiệm quản trị của từng đơn vị, bộ phận gắn với từng trung tâm
trách nhiệm cụ thể thông qua trách nhiệm quản trị nguồn lực của bộ phận, mức tiêu hoa
của các nguồn lực và mức độ hoàn thành công việc của họ.Căn cứ vào nội dung và hình
thức báo cáo, có thể chia báo cáo trách nhiệm làm hai nhóm:
a. Nhóm báo cáo thực hiện
Là loại báo cáo phản ánh cụ thể, chi tiết tình hình hoạt động, tình hình tài chính, kết
quả sản xuất kinh doanh của từng bộ phận, từng chức năng, từng lĩnh vực hoạt động của
doanh nghiệp. Các trung tâm cấp thấp hơn phải báo cáo lên cấp cao hơn tình hình thực
11
12
hiện chỉ tiêu chủ yếu của trung tâm mình định kỳ. Qua đó cấp nhận được báo cáo kiểm
soát được hoạt động của cấp dưới trực thuộc.
Báo cáo thực hiện gồm:
+ Báo cáo chi phí: Là báo cáo thực hiện của các trung tâm chi phí. Báo cáo này có
thể được chi tiết theo yếu tố và khoản mục tùy thuộc vào yêu cầu của việc đánh
giá trách nhiệm ở các trung tâm chi phí.
+ Báo cáo doanh thu: Là báo cáo thực hiện ở các trung tâm doanh thu để báo cáo
tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ ở từng
trung tâm cũng như tổng hợp doanh thu của toàn doanh nghiệp. Báo cáo này có
thể chi tiết theo từng lĩnh vực hoạt động, theo từng chi nhánh, khu vực, cửa hàng
tiêu thụ hoặc theo từng nhóm mặt hàng, sản phẩm cụ thể,… tùy thuộc vào đặc
điểm, tình hình tiêu thụ của từng đơn vị.
+ Báo cáo lợi nhuận bộ phận: Là công cụ đánh giá tình hình thực hiện của các
trung tâm lợi nhuận và trách nhiệm của những người đứng đầu trung tâm đó. Bộ
phận là tất cả các đơn vị hay hoạt động trong tổ chức mà xác định được doanh
thu, chi phí và lợi nhuận.

Báo cáo cho Giám đốc Nhà máy
1. Chi phí sản xuất của Phân
xưởng 1
2. Chi phí sản xuất của Phân
xưởng 2
3. Chi phí sản xuất của Phân
xưởng 3



Cộng (
Các báo cáo của các trung tâm chi phí được trình bày theo các cấp quản lý tương
ứng với các bộ phận thuộc trung tâm. Báo cáo sẽ được thực hiện theo luồng thông tin từ
dưới lên trên và trách nhiệm chi tiết đến từng bộ phận sẽ tùy thuộc vào cơ cấu bộ máy tổ
chức quản lý của từng công ty. Báo cáo của cấp càng thấp thì càng chi tiết, cấp càng cao
thì càng súc tích, tổng hợp.
 Báo cáo trách nhiệm của các trung tâm doanh thu: Là báo cáo nhằm đánh giá trách nhiệm
và thành quả hoạt động dựa trên báo cáo thực hiện doanh thu thực tế so với doanh thu dự
toán ban đầu, kèm theo phân tích ảnh hưởng của các nhân tố như giá bán, sản lượng tiêu
thụ, cơ cấu sản phẩm tiêu thụ và biến động của doanh thu trong trung tâm đó.
Bảng 1.2: Báo cáo trách nhiệm của trung tâm doanh thu
Báo cáo trách Doanh Doanh Chênh lệch Ảnh hưởng biến động của
13
14
nhiệm trung tâm
doanh thu
thu
thực
tế
thu dự

a
2
b
2
b
2
- a
2
X
2
Y
2
Z
2
3. Chi nhánh 3
a
3
b
3
b3 - a3 X
3
Y
3
Z
3
Cộng toàn công ty
a1+a2
+a3
b
1

+
Z
3
 Báo cáo trách nhiệm của các trung tâm lợi nhuận: Là báo cáo nhằm đánh giá trách nhiệm
của trung tâm dựa trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và thường được trình bày
theo dạng số dự đảm phí nhằm xác định số dư của từng bộ phận trong phạm vi được phân
cấp và kiểm soát về chi phí, doanh thu, đồng thời, đánh giá được đóng góp của từng bộ
phận vào lợi nhuận chung của công ty.
Bảng1.3: Báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận
Báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận Dự toán Thực tế Biến động
1. Doanh số
2. Biến phí
- Sản xuất
- Lưu thông và quản lý
3. Số dư đảm phí
4. Định phí trực tiếp
5. Số dư bộ phận kiểm soát được
6. Định phí không kiểm soát được
7. Số dư bộ phận
8. Chi phí chung của công ty phân bổ
9. Lợi nhuận trước thuế
 Báo cáo trách nhiệm của các trung tâm đầu tư: Là báo cáo dùng để đánh giá trách nhiệm
của trung tâm đầu tư.
Bảng 1.4. Báo cáo trách nhiệm của trung tâm đầu tư
Nội dung Kế hoạch Thực hiện Chênh lệch
1. Doanh thu thuần
2. Biến phí
3. Số dư đảm phí
14
15

cầu quản trị nội bộ, đánh giá trách nhiệm tại Công ty.
15
16
- Trên cơ sở đó, tổ chức công tác KTTN đảm bảo thông tin kế toán quản trị phục vụ
đầy đủ việc đánh giá trách nhiệm của từng đơn vị, bộ phận, cá nhân liên quan đến kết
quả cuối cùng của Công ty.
1.4.1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng: Nghiên cứu những nội dung cơ bản và tổ chức công tác KTTN tại
công ty CP dược Danapha.
- Về phạm vi: Tất cả các bộ phận tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.4.1.3. Phương pháp khảo sát và xử lý số liệu
Hệ thống hóa, thống kê, so sánh, phân tích…tìm hiểu thực tế liên quan KTTN…
1.4.1.4. Kết quả khảo sát và kết luận của công trình
- Kết quả khảo sát: Luận văn không thu thập số liệu cụ thể mà chỉ đi sâu tìm hiểu các
phần hành kế toán, các bộ phận tham gia vào các phần hành. Cách thức xây dựng việc
dự toán và các báo cáo kế toán phục vụ quản trị nội bộ. Đi đến đánh giá ưu, nhược
điểm.
- Kết luận: Hệ thống KTTN là công cụ quản lý hiệu quả và cần thiết để thu thập, xử lý
và cung cấp thông tin giúp nhà quản lý kiểm soát và đánh giá tốt hơn trách nhiệm của
các đơn vị, cá nhân. Đưa ra một số biện pháp cụ thể để triển khai công tác KTTN tại
Công ty.
1.4.2. Tổ chức công tác KTTN tại công ty cổ phần Vinaconex 25
- Tác giả: Nguyễn Thị Kim Đính
- Thời gian, địa điểm: Đà Nẵng, năm 2012
1.4.2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Kế thừa nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước để nghiên cứu thực tiễn và tổ chức
KTTN tại Công ty Cổ phần Vinaconex 25.
1.4.2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Những nội dung cơ bản về KTTN, nghiên cứu thực trạng công tác kế
toán phục vụ quản trị nội bộ và vận dụng lý thuyết KTTN để tổ chức công tác KTTN tại

được vai trò của dự toán trong hệ thống kế toán trách nhiệm khi các trung tâm đều có
báo cáo với nội dung đều so sánh giữa kết quả thực tế và định mức. Chương 1 cũng
đồng thời đưa ra các mẫu biểu báo cáo trách nhiệm của các trung tâm chi phí, trung
tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư.
- Đồng thời nhóm cũng đưa ra một số đề tài nghiên cứu về kế toán trách nhiệm trước
đó và nêu lên những ưu khuyết điểm của nó để từ đó có hướng cho việc phân tích đề
tài.
- Việc nghiên cứu cơ sở lý luận của tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm sẽ là nền tảng
để nhóm có thể đánh giá thực trạng và hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm ở các
doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
======Hết chương 1======
18
19
Chương 2: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM Ở MỘT SỐ
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
Kết quả khảo sát mô hình tổ chức quản lí kinh doanh và kế toán
Trong phần này, nhóm sẽ trình bày rõ công việc khảo sát trong thời gian qua như
sau:
 Xây dựng các biến sử dụng trong nghiên cứu:
 Biến phụ thuộc (hay biến nghiên cứu) là mục tiêu khảo sát của đề tài. Nội dung khảo
sát tập trung trả lời 2 câu hỏi:
• Có hay không việc áp dụng hệ thống kế toán trách nhiệm tại các doanh nghiệp
sản xuất thông qua việc lập báo cáo bộ phận.
• Xem xét tính hữu hiệu và hiệu quả tại các công ty có tổ chức thực hiện kế toán
trách nhiệm thông qua các thông tin chi tiết về doanh thu, chi phí, lợi nhuận được
trình bày trên báo cáo bộ phận.
 Biến độc lập (hay biến nhân tố): Trong phạm vi của đề tài, nhóm khảo sát 3 yếu tố
ảnh hưởng là quy mô, lĩnh vực kinh doanh và hình thức tổ chức kế toán.
• Biến thứ nhất là nhân tố “Quy mô”, biến quy mô được đo lường bằng giá trị tài sản thuần
của mỗi doanh nghiệp được chọn làm mẫu. Hiện nay việc áp dụng hệ thống kế toán trách

mối liên hệ giữa biến nhân tố này với biến nghiên cứu, chúng ta sẽ dựa trên kết quả khảo
sát thống kê số lĩnh vực kinh doanh của các doanh nghiệp để phân tích. Thông qua khảo
sát để biết được những công ty nào hoạt động đơn ngành hay đa lĩnh vực thường tổ chức
hệ thống kế toán trách nhiệm.
Tên công ty
Số lượng ngành nghề
kinh doanh
Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam 14
Công ty Cổ phần Dệt may Hòa Thọ 2
Công ty Kinh Đô 8
Công ty Vận tải quốc tế I.T.I 1
(Nguồn: Báo cáo tài chính các công ty tại năm phân tích)
Các công ty trong các nghiên cứu đi trước đều kinh doanh đa lĩnh vực. Từ đó, nhóm xây
dựng giả thuyết nghiên cứu thứ hai cho đề tài:
Giả thuyết H2: Các công ty hoạt động kinh doanh đa lĩnh vực sẽ có xu hướng tổ
chức hệ thống kế toán trách nhiệm nhiều hơn các công ty kinh doanh đơn ngành.
• Cuối cùng, nhóm lập biến thứ ba là tổ chức bộ máy kế toán. Để đo lường biến này nhóm
dùng hình thức tổ chức kế toán tập trung hay phân tán. Việc xem xét hình thức tổ chức kế
toán sẽ cho biết được doanh nghiệp có tổ chức phân việc, phân quyền thực hiện công việc
một cách chặt chẽ và hợp lý hay không. Với hình thức tổ chức bộ máy kế toán đó, doanh
nghiệp có xu hướng tổ chức kế toán trách nhiệm hay không?
Tên công ty Hình thức tổ chức bộ
20
21
máy kế toán
Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam Phân tán
Công ty Cổ phần Dệt may Hòa Thọ Tập trung
Công ty Kinh Đô Phân tán
Công ty Vận tải quốc tế I.T.I
(Nguồn: Báo cáo tài chính các công ty tại năm phân tích)

chức Hệ thống kế toán trách nhiệm hay mức độ tương quan của từng nhân tố đến
việc tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm. Và mức độ cung cấp thông tin trên báo
cáo bộ phận để đánh giá tính hữu hiệu và hiệu quả của các công ty có tổ chức hệ
thống kế toán trách nhiệm.
 Kết quả khảo sát sau khi thực hiện thống kê trên phần mềm thống kê SPSS
 Kết quả khảo sát sau khi thực hiện thống kê trên phần mềm thống kê SPSS
 Kết quả khảo sát quy mô của doanh nghiệp
Bảng 2.1.Tính phân bố Hệ thống kế toán trách nhiệm trên các doanh nghiệp
được khảo sát
Hệ thống kế toán trách nhiệm
Frequenc
y Percent
Valid
Percent
Cumulative
Percent
Valid Không 27 54.0 54.0 54.0
Có 23 46.0 46.0 100.0
Total 50 100.0 100.0
Kết quả khảo sát cho thấy, trong số 50 doanh nghiệp khảo sát thì có 23 công ty có lập báo
cáo bộ phận tỷ lệ 46% và có 27 công ty không lập báo cáo bộ phận tỷ lệ 54%. Như vậy
trong 50 doanh nghiệp đó chỉ có 23 công ty có tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm.
Bảng 2.2.Phân loại Quy mô theo Tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm
22
23
Giá trị tài sản thuần * Báo cáo bộ phận Crosstabulation
Báo cáo bộ phận
TotalKhông Có
Giá trị tài sản
thuần

23
24
doanh nghiệp, tức là những công ty có quy mô càng lớn thì càng có tổ chức hệ thống kế
toán trách nhiệm.
Bảng 2.3. Phân loại Số lĩnh vực kinh doanh theo Tổ chức hệ thống kế toán
trách nhiệm
Số lĩnh vực kinh doanh * Báo cáo bộ phận Crosstabulation
Báo cáo bộ phận
TotalKhông Có
Số lĩnh vực kinh
doanh
1 Count 2 0 2
% within Bao cao bo
phan
7.4% .0% 4.0%
2 Count 13 8 21
% within Bao cao bo
phan
48.1% 34.8% 42.0%
3 Count 11 12 23
% within Bao cao bo
phan
40.7% 52.2% 46.0%
4 Count 1 3 4
% within Bao cao bo
phan
3.7% 13.0% 8.0%
Total Count 27 23 50
% within Bao cao bo
phan

% within Bao cao bo
phan
100.0% 100.0% 100.0%
Kết quả thống kê cho thấy, về hình thức kế toán tập trung có 20 công ty trong đó
có 9 công ty có tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm và 11 công ty không tổ chức hệ
thống kế toán trách nhiệm. Hình thức tổ chức phân tán có 30 công ty trong đó có 14 công
ty có tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm và 16 công ty không có tổ chức hệ thống kế
25

Trích đoạn Giới thiệu sơ lược về các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh Tình hình chung của tổ chức bộ máy hoạt động Thực trạng hệ thống các trung tâm trách nhiệm tại các doanh nghiệp Trong chương 3, nhóm tác giả đưa ra các nhận xét chung về tình hình tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm thông qua kết quả khảo sát ở chương 2 Và dựa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status