Tóm tắt luận án Nghiên cứu thực trạng hen phế quản ở học sinh tiểu học - trung học cơ sở thành phố Thái Nguyên và hiệu quả kiểm soát hen bằng ICS + LABA - Pdf 28



1

ðẶT VẤN ðỀ

Hen phế quản (HPQ) là bệnh khá phổ biến trong các bệnh ñường
hô hấp ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới. Bệnh do nhiều
nguyên nhân gây nên và có xu hướng ngày càng tăng. Theo báo cáo của
Tổ chức Y tế Thế giới 2004 (WHO), trên thế giới có hơn 300 triệu
người bệnh HPQ, với 6-8% người lớn, hơn 10% ở trẻ em dưới 15 tuổi,
ước tính ñến năm 2025 con số này tăng lên ñến 400 triệu người.
Khu vực ðông Nam châu Á - Tây Thái Bình Dương, tình hình HPQ
trẻ em trong 10 năm (1984-1994) tăng lên ñáng kể: Nhật Bản từ 0,7%-
8%, Xingapo từ 5-20%, Inñônêsia 2,3-9,8%, Philippin 6-18,8% . Ở Việt
Nam tuy chưa có thống kê ñầy ñủ, theo công bố của một số tác giả
cho thấy tỷ lệ hen phế quản cũng gia tăng nhanh chóng năm 1998 tỷ
lệ hen phế quản ở trẻ em dưới 15 tuổi là 2,7%, năm 2002 là 9,3%,
năm 2005, 2006 là 10,42% và 8,74%.
Thời gian qua, việc phòng và ñiều trị HPQ theo hướng dẫn của
GINA (Global Initiative for Asthma) ñã ñạt kết quả tốt. Tuy nhiên,
nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng kiểm soát và ñiều trị
HPQ vẫn còn thiếu sót, nhiều bệnh nhân ñược chẩn ñoán HPQ chỉ
ñược ñiều trị cắt cơn mà không ñược ñiều trị dự phòng nên cơn HPQ
tái phát nhiều lần khiến bệnh ngày càng nặng, chi phí cho ñiều trị tốn
kém, tăng tỷ lệ nhập viện cấp cứu, hiệu quả ñiều trị không cao .
Vì vậy chúng tôi tiến hành ñề tài nhằm 3 mục tiêu sau:
1. Mô tả thực trạng HPQ ở học sinh TH, THCS thành phố Thái Nguyên.
2. Xác ñịnh một số yếu tố nguy cơ gây HPQ ở học sinh tiểu
học, trung học cơ sở thành phố Thái Nguyên.
3. ðánh giá hiệu quả kiểm soát HPQ ở học sinh tiểu học, trung
3

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1 Dịch tễ học HPQ
1.1.1 ðộ lưu hành HPQ
HPQ là một trong những bệnh phổi mạn tính phổ biến nhất
trên thế giới, bệnh gặp ở mọi lứa tuổi và ở tất cả các nước. Trong
vòng 20 năm gần ñây tỷ lệ mắc bệnh ngày càng tăng, ñặc biệt ở trẻ
em. Tỷ lệ trẻ em có triệu chứng HPQ thay ñổi từ 0-30% tuỳ theo ñiều
tra ở từng khu vực trên thế giới.
Theo GINA 2004 thì tỷ lệ HPQ trên thế giới như sau: 12 nước
có tỷ lệ HPQ trên 12%, 16 nước có tỷ lệ HPQ từ 8-12%, 23 nước có
tỷ lệ HPQ từ 5-8%, 33 nước có tỷ lệ HPQ dưới 5%. Tỷ lệ hen cao tập
trung vào các nước châu Âu như Xcôtlen, Giơsây, Guơsây, xứ
Wales, ðảo Man, Anh, Niu Dilân và châu Úc (Ôxtrâylia). Tỷ lệ hen
thấp là Nga, Trung Quốc, Anbania, Inñônêsia, Ma Cao
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương các nghiên cứu dịch tễ
học gần ñây cho thấy: Tỷ lệ HPQ ở HS 6-7 tuổi tại Băng Cốc từ
11,0% năm 1995 lên 15,0% năm 2001 và ở Chiềng Mai từ 5,5% năm
1995 tăng lên 7,8% năm 2001. Tỷ lệ HPQ ở HS từ 13-14 tuổi tại
Chiềng Mai 12,7% năm 1995 và 8,7% năm 2001, ở Băng Cốc 13,5%
năm 1995 và 13,9% năm 2001. Tại ðài Loan HS 12-15 tuổi, tỷ lệ
hen ñược bác sĩ chẩn ñoán năm 1995 là 4,5% và 2001 là 6%, ở
Xingapo từ 1994-2001, tỷ lệ hen ở HS 12–15 tuổi tăng 9,9% ñến

1.2 Các yếu tố nguy cơ gây HPQ
Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng ñến HPQ có thể chia thành 2
loại: các yếu tố gây bệnh HPQ và các yếu tố kích thích làm khởi phát
cơn HPQ. Vai trò chính xác của một số yếu tố chưa rõ ràng. Một số
yếu tố khác như dị nguyên rơi vào cả 2 loại trên. Yếu tố gây bệnh
HPQ gồm yếu tố chủ thể (chủ yếu là yếu tố di truyền) và yếu tố gây
cơn HPQ thường là yếu tố môi trường.
Các yếu tố nguy cơ gây HPQ
- Yếu tố chủ thể
• Gene 5

- Gene tạo cơ ñịa dị ứng Atopy.
- Gene tạo cơ ñịa tăng phản ứng của ñường dẫn khí.
• Béo phì
• Giới tính
- Yếu tố môi trường
• Dị nguyên
- Trong nhà: mạt nhà, vật nuôi có lông (chó, mèo, chuột), dị
nguyên từ gián, nấm, mốc, bào tử.
- Ngoài nhà: phấn hoa, nấm, mốc, bào tử.
• Nhiễm trùng (chủ yếu là virus)
• Chất gây dị ứng từ nghề nghiệp
• Khói thuốc lá: thụ ñộng, chủ ñộng
• Ô nhiễm không khí trong, ngoài nhà
• Chế ñộ ăn
Cơ chế ảnh hưởng ñến quá trình phát triển và biểu hiện HPQ
của các yếu tố rất phức tạp và chúng có tương tác lẫn nhau. Nhiều ña

ñược khuyến cáo là lựa chọn hàng ñầu trong kiểm soát HPQ hiện nay.
Những nghiên cứu gần ñây cho thấy ở những bệnh nhân HPQ
không kiểm soát ñược bằng ICS liều thấp hoặc cao nên phối hợp với
LABA (Long Acting β
2
Agonist) có hiệu quả hơn là tăng liều ICS.
LABA có tác dụng giãn phế quản kéo dài tới 12 giờ và ICS ñược
dùng 2 lần trong ngày, do vậy phối hợp 2 thuốc này rất phù hợp
nhằm kiểm soát tốt hơn các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân
HPQ mà không cần tăng liều ICS hoặc giữ nguyên ñược tình trạng
kiểm soát các triệu chứng khi giảm liều ICS.
1.3.3 Seretide là thuốc phối hợp hiệu quả trong ñiều trị dự phòng HPQ
Thuốc Sertide trong thành phần gồm Salmeterol và Fluticasone
propionate. Salbutamol chứa Salmeterol (thuộc nhóm LABA) và
Fluticasone propionate (thuộc nhóm ICS), 2 chất này có tác dụng
trên các mặt khác nhau của cơ chế bệnh sinh trong HPQ: Salmeterol
kiểm soát triệu chứng, trong khi Fluticasone propionate phòng ngừa
các cơn HPQ tái phát do kiểm soát tình trạng viêm. 7

Chương 2
ðỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ðối tượng nghiên cứu
Học sinh tiểu học và trung học cơ sở (từ 6-15 tuổi ).
Bố mẹ hoặc người nuôi dưỡng học sinh (trong trường hợp học
sinh 6-7 tuổi).
2.2 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2007 ñến tháng 10/2010.

α/2)
= 1,96
p: tỷ lệ HPQ học sinh 10,42% (theo Phạm Lê Tuấn 2003)
q=1-p; d: Sai số mong muốn = 1%
Từ ñó ta có:
34579,0.1,0.
01,0
96,1
2
2
= học sinh.
2.4.2 Nghiên cứu bệnh chứng: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho
nghiên cứu bệnh chứng ñể xác ñịnh yếu tố nguy cơ.
( )
( ) ( ) ( )
{
}
( )
2
21
2
2211)1(2/1
1112
pp
ppppZppZ
n

−+−+−
=
−−

=
+
=
pp
p

p
1
tỷ lệ phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ ở nhóm bệnh
p
2
tỷ lệ phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ ở nhóm chứng (khoảng
60% người tiếp xúc với khói thuốc lá không bị HPQ).

Tỷ xuất chênh OR mong ñợi là 2.
(
)
(
)
(
)
}
{
( )
2
2
6,075,0
6,016,075,0175,084,067,0167,0.296,1

−+−+−

n là cỡ mẫu tối thiểu cần tính
α mức ý nghĩa thống kê, là xác suất của việc phạm phải sai lầm
loại 1, ước tính là 0,01.
β là xác suất của việc phạm phải sai lầm loại 2, ước tính là 0,1.
Z
2
ñược tra từ bảng giá trị với α= 0,01, β = 0,1;
( )
9,14
2
,
=
βα
Z
p
1
là tỷ lệ bệnh nhân ước tính ñược KSH trước ñiều trị, ước tính 5%
p
2
là tỷ lệ bệnh nhân ước tính ñược KSH sau ñiều trị, ước tính 30% 9(
)
(
)
( )

2.8 Xử lý số liệu
Phân tích và xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê y học sử
dụng phần mềm Epi-Info vesion 6.04 và SPSS 13.0. 10

Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Tỷ lệ hen phế quản
Bảng 3.1 Tỷ lệ HPQ theo giới: Số phiếu phát ra 4329, thu về 4329, xử
lý 4292 phiếu ñủ thông tin. Tỷ lệ mắc bệnh chung là 9,5%. Tỷ lệ HPQ ở
học sinh nam là 10,4% cao hơn học sinh nữ là 8,6%, với p< 0,05.
Bảng 3.2 Tỷ lệ HPQ theo tuổi: Tỷ lệ HPQ ở nhóm 6-10 tuổi là
10,1% ở nhóm 11-15 tuổi là 9,0% (p>0,05).
Bảng 3.3 Tỷ lệ hen theo mức ñộ nặng nhẹ
Tỷ lệ hen bậc 1 là 66,7%, hen bậc 2 là 20,8% và bậc 3 là 12,5%.
Bảng 3.6 Hiểu biết của người bệnh về kiểm soát HPQ và thực
trạng KSH: Tỷ lệ bệnh nhân biết thuốc cắt cơn HPQ là 64,9%, bệnh
nhân biết HPQ là bệnh có thể kiểm soát ñược 3,4%, ñã từng ñược
bác sĩ ñiều trị kiểm soát 1,9%.
18.8
4.8
74.1
29.4
84.3
49
38.5
15.4
0


11

Bảng 3.9 Tiền sử gia ñình có người bị dị ứng

Tình trạng
bệnh

TSGð
HPQ
(n=161)
không
HPQ
(n=322)
OR 95% CI p
Có DU 49 47
Không DU 112 275
2,56 1,58-4,15 <0,05
Bảng 3.10 Tiền sử bản thân bị dị ứng
Tình trạng
bệnh

TSBT
HPQ
(n=161)
không
HPQ
(n=322)
OR 95% CI p
Có DU 95 48

- Chất tẩy, rửa nặng mùi trong nhà 22 13,7
- Thuốc 11 6,8 12

Bảng 3.13 Các dị nguyên gây khởi phát HPQ: các dị nguyên gây
khởi phát HPQ: bụi nhà 34,8% và lông thú 30,4% chiếm tỷ lệ cao.
3.3 Hiệu quả kiểm soát HPQ bằng ICS + LABA (seretide)
Qua nghiên cứu 68 bệnh nhân bị HPQ với thời gian can thiệp
12 tuần bằng ICS + LABA chúng tôi thu ñược kết quả sau:
3.3.1 Các ñặc ñiểm của ñối tượng nghiên cứu
Bảng 3.14 Các ñặc ñiểm chung của ñối tượng nghiên cứu

Tỷ lệ
ðặc ñiểm ñối tượng
n (68) Tỷ lệ %
Nam 45 66,2 Giới
Nữ 23 33,8
6-10 43 63,2
11-15 25 36,8
Tuổi
Tuổi trung bình (năm) 9,8 ± 2,4
Chiều cao trung bình (mét) 1,3 ± 0,14
< 5 năm 33 48,5
≥ 5 năm 35 51,5
Tuổi HPQ
Tuổi hen TB (năm) 4,6 ± 2,2
3 33 48,5 Bậc HPQ
2 35 51,5

(1&2)
p
1&2
Bậc 2 (n=35) 9,0 ± 1,8 1,0 ± 1,5 0 8,0 < 0,05
Bậc 3 (n=33) 13,3 ± 3,4 4,5 ± 2,5 0,5 ± 1,1 8,8 < 0,05
Tổng số (68) 11,1 ± 3,4 2,7 ± 2,7 0,2 ± 0,8 8,4 < 0,05

Bảng 3.19 Tỷ lệ BN còn các triệu chứng ban ñêm sau ñiều trị
Trước ñiều trị 69,1% bệnh nhân HPQ có triệu chứng về ñêm,
sau 2 tuần còn 27,9%, sau 4 tuần không còn bệnh nhân nào có triệu
chứng về ñêm. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Bảng 3.20 Số ñêm có triệu chứng trung bình trên một bệnh nhân
Thời ñiểm
Bậc HPQ
Trước ñiều trị
(
)
SDX ±

Sau 2 tuần
(
)
SDX ±

Sau
4tuần
Thay
ñổi
p
HPQ bậc 2 (n=35) 1,5 ± 1,9 0,1 ± 0,2 0 1,4 <0,05

HPQ bậc 3 (n=33) 0,89 ± 0,25 0,16 ± 0,12 0 0,73 <0,05
Tổng số (n=68) 0,69 ± 0,28 0,09 ± 0,11

0 0,60 <0,05 14

63.2
48.5
13.6
22.1
0
0
0
0 0
0
20
40
60
80
Trước ñiều trị Sau 2 tuần Sau 4 tuần
Tỷ lệ HS AHTL
Tỷ lệ HS nghỉ học
Tỷ lệ HS cấp cứu
Biểu ñồ 3.4 Tỷ lệ HS bị ảnh hưởng thể lực, nghỉ học, cấp cứu
trước và sau ñiều trị 4 tuần
101.3
75.7
87.3

Chung
(
)
SDX ±

Thay ñổi
(Lít/phút)

Bắtñầu n=68)(1)

187,1 ± 44,4 151,5 ± 38,3 169,9 ± 44,9 Sau 2t (n=68)(2)

205,4 ± 48,8 186,4 ± 46,6 196,2 ± 48,3 26,3
Sau 4t (n=68)(3)

215,4 ± 50,5 196,7 ± 48,9 206,3 ± 50,3 36,4
Sau 8t (n=68)(4)

224,0 ± 53,1 206,7 ± 54,4 215,6 ± 54,0 45,7
Sau12t(n=68)(5)

235,1 ± 55,6 219,7 ± 57,1 227,7 ± 56,5 57,8
15


100
Sau ñiều trị 2 tuần Sau ñiều trị 4 tuần Sau ñiều trị 8 tuần Sau ñiều trị 12 tuần
Không KS
KS 1 phần
Kiểm soát

Biểu ñồ 3.7 Hiệu quả kiểm soát HPQ sau ñiều trị
Bảng 3.30 Hiệu quả kiểm soát HPQ qua bảng ñiểm ACT

ACT

Thời gian
<20 ñiểm ≥ 20 và <25 ≥ 25 ñiểm
Sau 4 tuần 4 (5,9%) 64 (94,1%) 0
Sau 8 tuần 3 (4,4%) 46 (67,7%) 19 (27,9%)
Sau 12 tuần 1 (1,5%) 7 (10,3%) 60 (88,2%)

Bảng 3.31 Số cơn hen kịch phát trong 12 tuần ñiều trị: Sau 12
tuần có 5,9% bệnh nhân tái phát 1cơn hen phế quản.
Bảng 3.34 Sự chấp nhận của người bệnh ñối với thuốc dự phòng:
94,1 % bệnh nhân ñánh giá thuốc có hiệu quả tốt, 100% bệnh nhân nhận
xét thuốc dễ dùng, tiện lợi, 85,3% bệnh nhân chấp nhận giá thành, có 16

14,7% bệnh nhân cho rằng thuốc ñắt. 95,6% bệnh nhân trả lời giá thành
dự phòng rẻ hơn so với ñiều trị. 95,6% bệnh nhân yên tâm ñiều trị.
Bảng 3.35 Sự tuân thủ của người bệnh trong ñiều trị: 100% bệnh
nhân thay ñổi hành vi lối sống, tránh các yếu tố nguy cơ gây hen,


Ở bảng 3.6 và biểu ñồ 3.2 cho thấy 38,5% học sinh nghỉ học,
15,4% cấp cứu vì hen trong năm qua, 1,9% bệnh nhân ñược KSH.
Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Lai C.K.W nghiên cứu tại
châu Á Thái Bình Dương.
4.2 Yếu tố nguy cơ gây HPQ
Yếu tố chủ thể: Học sinh có TS gia ñình bị HPQ có nguy cơ
mắc HPQ cao gấp 7,84 lần so với HS ở gia ñình không có tiền sử
HPQ (p<0,05). Học sinh có TS gia ñình dị ứng có nguy cơ mắc HPQ
cao gấp 2,56 lần so với HS không có TS gia ñình dị ứng (p<0,05).
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương ñương với các tác giả:
Leung và CS nghiên cứu tại Hồng Kông cho thấy HS có TS gia
ñình có người hen nguy cơ hen gấp 6,8 lần (95%CI 3,3-13,9) so với HS
trong gia ñình không có người bị hen. Nghiên cứu của Dong G.H và CS
cho thấy bố mẹ bị dị ứng nguy cơ hen cho con là 3,2 lần (OR, 3.12; 95%
CI, 2.61-3.73).

Phan Quang ðoàn tìm hiểu một số nguyên nhân hay gây
HPQ năm 2001, thấy bệnh nhân HPQ gia ñình có người HPQ 39,7%.
ðỗ Thùy Hương năm 2006, tìm hiểu một số yếu tố dịch tễ của HPQ ở
trẻ em, tiền sử HPQ trong gia ñình bệnh nhân HPQ là 40%.
Học sinh có tiền sử dị ứng có nguy cơ mắc HPQ cao gấp 8,22
lần so với học sinh không có tiền sử dị ứng (p<0,05). Học sinh có
tiền sử VMDU có nguy cơ mắc HPQ cao gấp 15,54 lần so với học
sinh không có tiền sử VMDU (p<0,05)
.
Nghiên cứu của Leung và CS,

dị ứng bản thân nguy cơ hen
gấp 10,3 lần so với HS không có TS dị ứng.

Nghiên cứu của Mai Lan Hương về số ngày có triệu chứng
trung bình (8,33 với HPQ bậc 2; 12,7 với HPQ bậc 3) và sau 4 tuần
bệnh nhân HPQ bậc 2 không còn triệu chứng ngày, sau 8 tuần bệnh
nhân HPQ bậc 3 không còn triệu chứng ngày
.
Nghiên cứu của
Nguyễn Thu Hà theo dõi hiệu quả của Seretide trong dự phòng HPQ
của 31 bênh nhân HPQ tại Câu lạc bộ Phòng chống HPQ Hà Nội
cũng cho thấy sau 2 tuần số bệnh nhân có triệu chứng ban ngày giảm
53,12%. Nghiên cứu của Lê Anh Tuấn và Nguyễn Năng An về ñiều
trị dự phòng Seretide. Trước ñiều trị 71,9% bệnh nhân có triệu chứng
ngày, sau 2 tuần giảm còn 9,4%
. 19

Bảng 3.19 Tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng về ñêm sau 2 tuần
cải thiện 59,6%. Số ñêm có triệu chứng trên một bệnh nhân trong 4
tuần qua (bảng 3.20) giảm trung bình 2,8 ñêm. Sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê với p < 0,05. Sau 4 tuần không còn bệnh nhân nào có
triệu chứng ñêm.
Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng thuốc cắt cơn sau 2 tuần (bảng 3.21)
ñạt hiệu quả 47,1%. Số lần dùng thuốc cắt cơn trung bình (bảng
3.22) trước ñiều trị 0,69 lần/1 bệnh nhân/1 tháng, sau 2 tuần thay ñổi
0,6 lần, sau 4 tuần không bệnh nhân nào cần dùng thuốc cắt cơn. Sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Barnes và CS nghiên cứu 4
thử nghiệm ban ñầu ñược chọn ngẫu nhiên, mù ñôi, nghiên cứu song

Ở bảng 3.25 bảng 3.27 và bảng 3.28 trị số PEF buổi sáng sau 2
tuần tăng 26,3lít/phút; sau 12 tuần tăng 57,8 lít/phút. Trị số PEF tối
tăng 20,6 lít/phút sau 12 tuần. Trước ñiều trị ñộ dao ñộng PEF sáng tối
là 27,6% ñiều này chứng tỏ hen chưa ñược KS. Sau 2 tuần, 4 tuần ñộ
dao ñộng PEF giảm nhanh có ý nghĩa thống kê với p<0,05, sau 12 tuần
ñộ dao ñộng PEF 10,8% ñạt chỉ số người bình thường. So với nghiên
cứu của Bergmannn K.C., sau 12 tuần ñiều trị bằng liệu pháp phối
hợp Salmeterol/ Fluticasone propionate. Mức tăng PEF buổi sáng
trung bình 48,4 lít/ phút sau 6 tuần và 51,3 lít/ phút sau 12 tuần.

Woodcock và CS kết quả sau 52 tuần cải thiện PEF buổi sáng, 58,2
lít /phút (Salmeterol /Fluticasone propionate) so với 33,9 lít/phút
(Fluticasone propionate một mình); Nghiên cứu của Phan Quang
ðoàn khi theo dõi hiệu quả dự phòng của Seretide trên 55 học sinh bị
HPQ, sau 4 tuần thấy cải thiện chỉ số CNHH có ý nghĩa thống kê
(p<0,05). Sau ñiều trị PEF tăng 60,4 lít/phút. Nghiên cứu của Nguyễn
Thu Hà trên 31 bệnh nhân HPQ nhận thấy sau 14 ngày PEF tăng
37,6 lít/ phút.

Có nhiều cách khác nhau ñể ñánh giá mức ñộ KSH, ngoài các
tiêu chuẩn của GINA ñã ñược ñánh giá chúng tôi còn ñánh giá mức
ñộ KSH theo bộ trắc nghiệm KSH (ACT). Ở bảng 3.30 sau 4 tuần
can thiệp 94,1% bệnh nhân KSH ñạt mục tiêu, sau 12 tuần 88,2%
bệnh nhân KSH hoàn toàn, 10,3% bệnh nhân KSH ñạt mục tiêu.
Hiệu quả kiểm soát HPQ và tỷ lệ khởi phát cơn HPQ (biểu ñồ
3.7; bảng 3.32). Sau 2 tuần ñiều trị có 42,7% bệnh nhân ñã ñược kiểm
soát, 27,9% bệnh nhân chưa ñược kiểm soát và 29,4% bệnh nhân kiểm
soát 1 phần. Sau 4 tuần 94,1% bệnh nhân ñã ñược kiểm soát, 5,9%
thường là bệnh nhân quên 2 liều xịt buổi tối trong ngày, 2 liều xịt 22

buổi sáng vẫn ñược xịt và trong 3 tháng bệnh nhân chỉ quên mất 4-6
lần xịt buổi tối nên chúng tôi thấy số liều thuốc bỏ quên không lớn ñể
ảnh hưởng tới kết quả ñiều trị. Tuy nhiên chúng tôi cũng xin bàn
luận với sự tuân thủ ñiều trị ñều ñặn và ñủ liều, thay ñổi hành vi lối
sống và phòng tránh các yếu tố nguy cơ tốt nên kết quả ñiều trị ñạt
tối ưu.
Như vậy việc phối hợp ICS với LABA trong một dụng cụ hít
ñã mang lại những cải thiện có ý nghĩa lâm sàng, cải thiện CNHH,
cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân cũng như ñạt hiệu quả
kinh tế hơn so với thuốc ñiều trị khác. Sự phối hợp 2 thuốc trên trong
một dụng cụ hít có hiệu quả bổ trợ lẫn nhau và ñồng vận, cải thiện tốt
những bất thường về mặt sinh lý của sự tắc nghẽn và tăng ñáp ứng
ñường thở. Phối hợp 2 thuốc này có vai trò hợp lý trong ñiều trị bệnh
HPQ từ nhẹ tới trung bình, tăng thêm sự thuận tiện, cải thiện sự tuân
thủ của bệnh nhân, tăng hiệu quả kiểm soát, giảm tỷ lệ các cơn HPQ
nặng, giảm phí tổn của biện pháp ñiều trị.

KẾT LUẬN
1. Thực trạng HPQ ở học sinh tiểu học, trung học cơ sở thành
phố Thái Nguyên

Tỷ lệ HPQ ở học sinh tiểu học, trung học cơ sở thành phố Thái
Nguyên là 9,5%. Trong ñó tỷ lệ HPQ ở học sinh nam là 10,4% cao
hơn tỷ lệ HPQ ở học sinh nữ là 8,6% (p<0,05).


sau 4 tuần không còn bệnh nhân nào có triệu chứng về ñêm (p<0,05).
Tỷ lệ bệnh nhân phải dùng thuốc cắt cơn cải thiện 47,1% sau 2 tuần
can thiệp (p< 0,05). Số lần dùng thuốc cắt cơn TB giảm 0,6 lần sau 2 tuần,
sau 4 tuần không còn bệnh nhân nào phải dùng thuốc cắt cơn (p<0,05).
Hoạt ñộng thể lực cải thiện 65% sau 2 tuần can thiệp.
Chỉ số PEF buổi sáng tăng sau 2 tuần, 4 tuần, 8 tuần, 12 tuần.
Sau 12 tuần chỉ số PEF trung bình ñạt 101,3%. 24

Trị số PEF buổi sáng tăng TB 26,3 lít/ phút sau 2 tuần; 57,8 lít/
phút sau 12 tuần. Trị số PEF buổi tối tăng 20,6 lít/ phút sau 12 tuần.
42,7% bệnh nhân ñã ñược kiểm soát sau 2 tuần can thiệp. Sau
4 tuần, sau 8 tuần và sau 12 tuần số bệnh nhân ñược KSH tương ứng
là 94,1; 95,6%; 98,5%.
ðánh giá KSH theo bảng ñiểm ACT sau 4 tuần can thiệp
94,1% bệnh nhân KSH ñạt mục tiêu, không có bệnh nhân nào KSH
hoàn toàn, sau 8 tuần 27,9% bệnh nhân KSH hoàn toàn, 67,6% bệnh
nhân KSH ñạt mục tiêu, sau 12 tuần 88,2% bệnh nhân KSH hoàn toàn,
10,3% bệnh nhân KSH ñạt mục tiêu.KHUYẾN NGHỊ

1. Tỷ lệ HPQ ở học sinh lứa tuổi học ñường cao. Vì vậy cần có
thông tin với các cơ quan chức năng như Sở Y tế, Phòng Giáo dục
thành phố biết ñể phối hợp xây dựng chương trình kiểm soát HPQ tại
y tế học ñường, thành lập các câu lạc bộ phòng chống HPQ ở các
trường có tỷ lệ HPQ cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status