3
LỜI CAM ĐOAN
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Tôi xin đảm
bảo những số liệu và kết quả trong luận án này là trung thực,
khách quan và chưa có ai công bố trong bất kỳ một công trình
nghiên cứu nào khác.
TÁC GIẢ
5
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
AIRIAP Asthma Insights and Reality in Asia – Pacific: Thực trạng kiểm
soát hen tại châu Á- Thái Bình Dương
ACT Asthma Control Test: Bộ công cụ đánh giá kiểm soát hen
BN Bệnh nhân
CNHH Chức năng hô hấp
CS Cộng sự
CSHQ Chỉ số hiệu quả
DU Dị ứng
ĐT Điều trị
GINA Global Initiative for Asthma: Chiến lược toàn cầu về HPQ
HPQ Hen phế quản
HS Học sinh
ICS Inhaled Corticosteroid: Corticosteroid hít
ISAAC International Study for Asthma and Allergy in children: Nghiên
cứu Quốc tế về hen và dị ứng ở trẻ em.
KSH kiểm soát hen
KS Kiểm soát
LABA Long Acting 2 Agonist: Thuốc đồng vận (cường) 2 tác dụng
kéo dài
LLĐ Lưu lượng đỉnh
NKHH Nhiễm khuẩn hô hấp
PEF Peak expiratory flow: Lưu lượng đỉnh
2.13 Xử lý số liệu 53
2.14 Đạo đức nghiên cứu: 53
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 54
3.1 Thực trạng hen phế quản 54
3.2 Một số yếu tố nguy cơ gây HPQ 57
3.3 Hiệu quả kiểm soát HPQ bằng ICS + LABA (seretide) 60
7
Chương 4 BÀN LUẬN 73
4.1. Tỷ lệ HPQ 73
4.2 Yếu tố nguy cơ gây HPQ 77
4.3 Hiệu quả can thiệp 88
KẾT LUẬN 105
KHUYẾN NGHỊ 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
8
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Tỷ lệ HPQ trên thế giới
4
Bảng 1.2 So sánh tình hình kiểm soát HPQ ở một số nước theo AIRIAP 22
Bảng 1.3 Kết quả nghiên cứu việc sử dụng thuốc theo mức độ nghiêm
trọng của triệu chứng hen giữa các vùng
23
Bảng 2.1 Mức độ kiểm soát HPQ
38
Bảng 2.2 Phân độ nặng của bệnh theo GINA 2006 44
Bảng 2.3 Tiếp cận xử trí dựa trên mức độ kiểm soát cho trẻ trên 5 tuổi,
thanh thiếu niên và người lớn 45
Bảng 3.26 Thay đổi chỉ số PEF buổi tối trước điều trị và sau điều trị 66
Bảng 3.27 Thay đổi trị số PEF buổi tối trước và sau điều trị 67
Bảng 3.28 Độ dao động của PEF sáng - tối trước và sau điều trị 68
Bảng 3.29 Biến đổi bậc hen sau điều trị 69
Bảng 3.30 Hiệu quả kiểm soát HPQ qua bảng điểm ACT 70
Bảng 3.31 Mối tương quan giữa biến đổi PEF và ACT ở thời điểm sau 12
tuần so với sau 4 tuần. 70
Bảng 3.32 Số cơn hen kịch phát trong 12 tuần điều trị 70
Bảng 3.33 Tác dụng không mong muốn của thuốc 71
Bảng 3.34 Sự chấp nhận của người bệnh đối với thuốc dự phòng 71
Bảng 3.35 Sự tuân thủ của người bệnh trong điều trị 72
10
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Laba và ICS tác dụng hiệp đồng
28
Sơ đồ 2.1 Quá trình nghiên cứu 35
Sơ đồ 2.2 Chọn mẫu nghiên cứu 36
Sơ đồ 2.3 Tổ chức can thiệp 43
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ HPQ theo các trường 55
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ học sinh nghỉ học, cấp cứu vì hen trong năm qua. 56
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ bệnh nhân còn triệu chứng ban ngày, còn triệu chứng
ban đêm, sử dụng thuốc cắt cơn trước và sau điều trị 64
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ HS bị ảnh hưởng thể lực, nghỉ học, cấp cứu trước và
sau điều trị 4 tuần 64
Biểu đồ 3.5 Sự thay đổi chỉ số PEF sáng và PEF tối trước và sau ĐT 67
Biểu đồ 3.6 Sự thay đổi trị số PEF sáng, tối trước và sau điều trị. 68
Biểu đồ 3.7 Hiệu quả kiểm soát HPQ sau điều trị 69
Việt Nam là 48%); bệnh nhân mất ngủ trong 4 tuần qua là 47%, (Việt Nam là
71%) [79].
Thời gian qua, việc phòng và điều trị hen phế quản theo hướng dẫn của
GINA đã đạt được nhiều kết quả do hiểu rõ cơ chế bệnh sinh của hen phế quản,
nhận diện và phòng tránh các yếu tố nguy cơ gây hen phế quản sớm, đặc biệt là
nâng cao việc kiểm soát bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh
[66]. Tuy nhiên, theo báo cáo của nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài
nước về thực trạng kiểm soát và điều trị hen phế quản vẫn còn nhiều thiếu sót,
nhiều bệnh nhân được chẩn đoán hen phế quản chỉ được điều trị cắt cơn mà
không được điều trị dự phòng nên cơn hen phế quản tái phát nhiều lần khiến
bệnh ngày càng nặng, chi phí cho điều trị tốn kém, tăng tỷ lệ nhập viện cấp
cứu, hiệu quả điều trị không cao [20], [79], [95], [103].
Thái Nguyên là một thành phố công nghiệp, nằm trong khu vực miền
núi phía Bắc, trong những năm qua cùng với sự phát triển chung của đất
nước, quá trình đô thị hoá, công nghiệp hóa diễn ra khá nhanh chóng. Tỷ lệ
hen phế quản và các yếu tố nguy cơ gây hen phế quản ở đây như thế nào?
Hiệu quả kiểm soát hen phế quản bằng ICS + LABA ở đây ra sao? Để trả lời
những câu hỏi này, chúng tôi tiến hành đề tài nhằm 3 mục tiêu sau:
1. Mô tả thực trạng hen phế quản ở học sinh tiểu học, trung học cơ sở
thành phố Thái Nguyên năm học 2007-2008.
2. Xác định một số yếu tố nguy cơ gây hen phế quản ở học sinh tiểu
học, trung học cơ sở thành phố Thái Nguyên.
3. Đánh giá hiệu quả kiểm soát hen phế quản ở học sinh tiểu học,
trung học thành phố Thái Nguyên bằng ICS + LABA (Seretide).
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1 Dịch tễ học về hen phế quản
1.1.1 Độ lưu hành của hen phế quản
Hen phế quản (HPQ) là một trong những bệnh phổi mạn tính phổ biến
2004 thì tỷ lệ HPQ trên thế giới như sau: 12 nước có tỷ lệ HPQ trên 12%, 16
nước có tỷ lệ HPQ từ 8-12%, 23 nước có tỷ lệ hen từ 5-8%, 33 nước có tỷ lệ
HPQ dưới 5%. Tỷ lệ hen cao tập trung vào các nước châu Âu như Xcôtlen,
Giơsây, Guơsây, xứ Wales, đảo Man, Anh, Niu Dilân và châu Úc (Ôxtrâylia).
Tỷ lệ này cũng tương tự tỷ lệ hen cao ở các nghiên cứu trên và các nước tỷ lệ
hen thấp là Nga, Trung Quốc, Anbani, Inđônêsia, Ma Cao [89].
Bảng 1.1 Tỷ lệ HPQ trên thế giới [89]
Quốc gia % Quốc gia % Quốc gia %
Xcôtlen 18.4 Ivôry 7.8 Italia 4.5
Giơsây 17.6 Côlômbia 7.4 Ôman 4.5
Guơsây 17.5 Thổ Nhĩ Kỳ 7.4 Pakixtan 4.3
Xứ Wales 16.8 Li Băng 7.2 Tunisia 4.3
Đảo Man 16.7 Kenya 7.0 Vecđơ 4.2
Anh 15.3 Đức 6.9 Latvia 4.2
Niu Dilân 15.1 Pháp 6.8 Ba Lan 4.1
Úc 14.7 Na Uy 6.8 Angiêri 3.9
Cộng hòa Ailen 14.6 Nhật Bản 6.7 Hàn Quốc 3.9
Canađa 14.1 Thụy Điển 6.5 Bănglađet 3.8
Pêru 13.0 Thái Lan 6.5 Ma Rốc 3.8
Trinidad và Tobago
12.6 Hồng Kông 6.2 Palettin 3.6
5
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương tỷ lệ HPQ trẻ em trong 10 năm (từ
1984-1994) tăng lên đáng kể: Nhật Bản từ 0,7% lên 8%, Xingapo từ 5 lên
20%, Inđônêsia 2,3 lên 9,8%, Philippin 6 lên 18,8%, các nước Malaixia, Thái
Lan, Việt Nam đều đã tăng lên gấp 3 đến 4 lần [6].
Các nghiên cứu dịch tễ học gần đây cho thấy: Tỷ lệ hen ở HS 6-7 tuổi ở
Băng Cốc từ 11,0% năm 1995 lên 15,0% năm 2001 và ở Chiềng Mai từ 5,5%
năm 1995 tăng lên 7,8% năm 2001. Tỷ lệ hen ở HS từ 13-14 tuổi tại Chiềng
Mai 12,7% năm 1995 và 8,7% năm 2001, ở Băng Cốc 13,5% năm 1995 và
thụ động ở trẻ em Nhật Bản cho kết quả tỷ lệ hen là 7,6% [118].
Việt Nam là một nước thuộc khu vực Đông Nam Á có tỷ lệ HPQ tăng
nhanh trong những năm gần đây. Theo Lê Văn Khang, Phan Quang Đoàn,
Nguyễn Năng An "Bước đầu phát hiện tỷ lệ HPQ trong một số vùng dân cư
Hà Nội" (1998) cho thấy tỷ lệ HPQ ở trẻ em dưới 15 tuổi là 2,7% [21].
Nghiên cứu của khoa Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng Bệnh viện Bạch Mai năm
1998 kết quả tỷ lệ HPQ ở nước ta là 6 - 7% [4].
Những nghiên cứu mới đây về tỷ lệ HPQ học sinh tuổi học đường Hải
Phòng năm 2002 là 9,3% [27]. Tỷ lệ HPQ ở học sinh tuổi học đường nội,
ngoại thành Hà Nội năm 2005 là 10,42% [34], nghiên cứu ở học sinh một số
trường trung học phổ thông tại Hà Nội năm 2006 là 8,74% [14]. Nghiên cứu
tình hình hen, viêm mũi dị ứng ở học sinh một số trường trung học phổ thông
nội thành Hà Nội năm 2003 cho thấy tỷ lệ HPQ là 10,3% [22].
Với những thống kê chưa đầy đủ, ước tính tỷ lệ HPQ của Việt Nam là
4-5% thì chúng ta có khoảng 4 triệu người bị HPQ và chắc chắn tỷ lệ HPQ
không phải là thấp [6].
1.1.2 Gánh nặng do hen phế quản
Gánh nặng do HPQ không chỉ đối với người bệnh mà còn ảnh hưởng
tới kinh tế, hạnh phúc của gia đình và gánh nặng chung của toàn xã hội. Đối
với người bệnh sức khỏe giảm sút, ảnh hưởng đến học tập, lao động và công
7
tác, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, hạnh phúc của bản thân và gia đình,
nhiều trường hợp tử vong hoặc tàn phế.
Nghiên cứu của AIRIAP tại châu Á Thái Bình Dương trong đó có Việt
Nam cho thấy: tỷ lệ bệnh nhân nghỉ học, nghỉ làm trong một năm là 30-32%,
(ở Việt Nam là 16-34%); tỷ lệ nhập viện cấp cứu trong năm là 34%, (trong đó
Việt Nam là 48%); bệnh nhân mất ngủ trong 4 tuần qua là 47%, (ở Việt Nam
là 71%) [79].
1.2 Các yếu tố nguy cơ gây HPQ
Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến HPQ có thể chia thành 2 loại: các
Một số đặc điểm có liên quan đến nguy cơ HPQ tăng cao, tuy nhiên bản
thân chúng không phải là yếu tố nguyên nhân thực sự. Sự khác biệt rõ ràng về tỷ
lệ HPQ toàn bộ giữa các chủng tộc và sắc tộc cho thấy có sự khác biệt về gene,
tuy nhiên có sự trùng lặp đáng kể về các yếu tố môi trường và kinh tế xã hội. Về
mối liên quan giữa HPQ và tình trạng kinh tế xã hội cho thấy tỷ lệ HPQ ở các
nước đã phát triển cao hơn so với nước đang phát triển, ở nhóm dân số nghèo
cao hơn so với nhóm dân số giàu trong cùng một quốc gia. Điều này phản ánh sự
khác biệt về lối sống, môi trường sống, điều kiện tiếp cận các dịch vụ y tế [66].
1.2.1 Các yếu tố nguy cơ gây bệnh HPQ (yếu tố chủ thể)
1.2.1.1 Yếu tố di truyền (Gen tạo cơ địa tăng phản ứng của đường dẫn khí)
Trong bệnh HPQ người ta chú ý nhiều đến yếu tố di truyền. Có đến 40 -
60% các trường hợp bị HPQ liên quan đến yếu tố này. Người ta ước tính nếu bố
hoặc mẹ bị HPQ nguy cơ mắc HPQ ở con 30%, nếu cả 2 bố mẹ cùng bị bệnh thì
nguy cơ này tăng lên tới 50%, nếu không ai bị HPQ thì tỷ lệ này còn 10-15%
[6], [78], [91].
HPQ được xác định bởi các tiêu chuẩn chủ quan (các triệu chứng lâm
sàng), các tiêu chuẩn khách quan (tăng tính phản ứng phế quản hoặc nồng độ IgE
9
trong huyết thanh) hoặc cả hai. Vì biểu hiện lâm sàng phức tạp của HPQ, nên cơ
sở di truyền của bệnh thường được xác định bằng các tiêu chuẩn có thể đo lường
khách quan được như: Cơ địa dị ứng Atopy (biểu hiện bằng test lẩy da (+), nồng
độ IgE và hoặc nồng độ IgE đặc hiệu, hay đáp ứng lâm sàng với các dị nguyên
trong môi trường thường gặp). Tăng tính phản ứng phế quản (khuynh hướng co
thắt đường thở quá mức khi tiếp xúc với các yếu tố kịch phát, mà vốn dĩ không
hay rất ít tác động trên người bình thường), và các đo lường dị ứng khác, mặc dù
những tình trạng này không đặc hiệu cho HPQ [67].
Với tiến bộ của sinh học phân tử và di truyền người ta thấy rằng HPQ
có yếu tố di truyền. Nghiên cứu về di truyền học cho thấy rằng nhiều gene có
liên quan đến sinh bệnh học của HPQ, các vùng nhiễm sắc thể gene có tính
nhạy cảm hen đã được nhân rộng, và rất nhiều gene khác nhau có thể liên
yếu tố quan trọng hình thành HPQ ở mỗi cá thể, người ta cho rằng 50% các
trường hợp HPQ là do cơ địa dị ứng [100].
Các nghiên cứu cho rằng có sự liên quan giữa tỷ lệ dị ứng và HPQ hoặc
giữa số lượng IgE và HPQ. Như vậy tầm quan trọng của dị ứng như một
nguyên nhân của HPQ đã được nhấn mạnh và đó được coi như một trong các
yếu tố nguy cơ, thậm chí là yếu tố nguy cơ rất quan trọng cần thiết bộc lộ
HPQ [49]. Mặc dù HPQ và dị ứng có thể kế thừa độc lập, nhưng sự trùng hợp
giữa HPQ và dị ứng là rõ ràng, như một người bị Eczema thì sẽ tăng cao nguy
cơ HPQ trong gia đình họ. Nguy cơ bị HPQ của một học sinh cao hơn khi có
cả tiền sử HPQ của bố mẹ và gia đình có tiền sử dị ứng. Tương tự khi tăng
phản ứng phế quản và dị ứng cùng tồn tại trong bố mẹ thì tỷ lệ HPQ tăng
trong các con [67]. Nghiên cứu đánh giá yếu tố nguy cơ dị ứng với tiền sử gia
đình dị ứng cho thấy tỷ lệ con bị dị ứng từ 38-58% với 1 trong 2 bố mẹ dị ứng
và từ 60-80% với cả 2 bố mẹ dị ứng. Hơn nữa, con của những người mà bố
mẹ bị dị ứng không chỉ có nguy cơ cao bị bệnh dị ứng mà còn có biểu hiện dị
11
ứng sớm hơn. Ví dụ con của 2 bố mẹ có cơ địa dị ứng sẽ phát triển bệnh dị
ứng trong vòng 18 tháng đầu của cuộc đời là 42 % [6], [47]. Một nghiên cứu
khác cho thấy, một đứa trẻ không có bố hoặc mẹ bị dị ứng thì nguy cơ bị dị
ứng của con là 20%; nếu chỉ có bố bị dị ứng thì nguy cơ bị dị ứng cho con là
40%; nếu chỉ có mẹ bị dị ứng thì nguy cơ cho con là 50%; nếu cả hai bố mẹ
cùng bị dị ứng thì yếu tố nguy cơ dị ứng cho con là 90% [121]. Dị ứng là yếu
tố nguy cơ mạnh nhất trong HPQ. Người có cơ địa dị ứng có nguy cơ mắc
HPQ gấp 10 – 20 lần so với người không có cơ địa dị ứng [6].
1.2.1.3 Tuổi, giới
HPQ có thể gặp ở mọi lứa tuổi và ở cả 2 giới, nhưng gặp nhiều nhất là
ở trẻ em. Trẻ em dưới 10 tuổi tỷ lệ HPQ nam/nữ là 2/1 [47]. Lý do vì sao có
sự khác biệt liên quan đến giới tính như vậy chưa rõ. Điều này được giải thích
ở trẻ nam kích thước đường thở hẹp hơn, tăng trương lực đường thở và có thể
trọng lượng IgE cao hơn học sinh nữ, dẫn đến tăng giới hạn đường thở trong
là những tấm thảm, ga và đệm trong phòng ngủ, những loại đồ dệt như chăn,
chiếu, gối thảm dệt có rất nhiều loại bọ nhà khác nhau được phân bố trên
khắp thế giới, đặc biệt ở những nước có khí hậu nóng ẩm. Các loại bọ nhà đều
mang đặc tính chung là có tính kháng nguyên cao, vì vậy khả năng gây mẫn
cảm và các bệnh dị ứng ở người. Theo số liệu của nhiều tác giả loài
Dermatophagoides pteronyssinus là loài phổ biến chiếm 70 – 80 % trong tổng
số các loài bọ nhà có trong mẫu bụi. Bọ nhà có tính kháng nguyên khi có 2 –
10 microgam bọ nhà trong 1 gram bụi nhà (tương ứng với 100 – 500 con bọ
nhà trong 1 gram bụi nhà hoặc là trên 0,5 microgram/1 gram bụi nhà đối với
loài bọ D. Pteronyssinus, nhưng ngưỡng để gây triệu chứng HPQ không được
xác định rõ [55], [59], [67].
13
Ở Việt Nam qua nghiên cứu của Nguyễn Năng An, Phan Quang Đoàn,
Vũ Minh Thục, tại khu vực Hà Nội bọ nhà có ở 57,1% trong tổng số các mẫu bụi
nghiên cứu. Mật độ trung bình có 246 con bọ nhà trong 1 gram bụi nhà, chủ yếu
là D.Pteronyssinus, thỉnh thoảng có rất ít Glycyphagus domesticus, số lượng bọ
nhà D.Pteronyssinus trong 1 gram bụi có nhiều ở những nhà có bệnh nhân HPQ
và ít ở những nhà không có bệnh nhân HPQ. Số lượng bọ nhà trong một gram
bụi tăng thì các triệu chứng HPQ cũng tăng theo [6].
Nghiên cứu của Phan Quang Đoàn tại khu vực Hà Nội chỉ ra rằng 80% số
mẫu bụi có bọ nhà. Ở những mẫu bụi có bọ nhà, mỗi gram bụi có 1200-1500
con, chủ yếu là D.Pteronyssinus, D.Farinae. Chúng sống được từ 8-12 tuần ở
môi trường thích hợp: nhiệt độ 20-25 độ C, độ ẩm 80 - 85% [10].
- Lông vũ: Các loại lông của gia súc, gia cầm như lông chó, mèo, cừu,
thỏ, gà, vịt đều có khả năng gây HPQ cho người.
Trong các loại dị nguyên trên, dị nguyên mèo có khả năng gây mẫn
cảm đường hô hấp mạnh nhất. Dị nguyên chính được tìm thấy từ da mèo, đặc
biệt da vùng mặt, các chất bài tiết tuyến bã và nước tiểu, nhưng không có
trong nước bọt. Những dị nguyên từ lông mèo (Fel d1) có kích thước rất nhỏ
có đường kính 3 – 4 micromet chúng bay trong không khí và dễ dàng vào
nước đã xác lập được thời điểm “mưa” của từng loại phấn hoa. Ở Việt Nam,
“mưa” phấn hoa sữa thường vào cuối thu sang đông [2], [102].
1.2.2.2 Nhiễm trùng
Nhiễm trùng đường hô hấp: Các nhiễm trùng đường hô hấp có liên
quan chặt chẽ với HPQ. Nhiễm trùng đường hô hấp cấp gây ra sự trầm trọng
của HPQ ở cả người lớn và trẻ em. Nguyên nhân có thể là virus như:
Rhinovirus, Coronavirus, Influenza, Parainfluinza, Adenovirus, virus Hợp
bào hô hấp. Các virus gây nhiễm khuẩn đường hô hấp chiếm 50-80%, chủ yếu
là virus Hợp bào hô hấp hay gặp ở trẻ em [67]. Trong thời kì tuổi học sinh
15
(tuổi nhi đồng), một số virus có liên quan đến sự phát triển phenotype hen.
Virus Hợp bào hô hấp và virus Á cúm gây ra kiểu triệu chứng như viêm tiểu
phế quản rất giống HPQ ở trẻ em. Một số nghiên cứu tiến cứu dài hạn trên trẻ
em nhập viện vì nhiễm virus Hợp bào hô hấp thấy rằng có đến 40% các trẻ em
này sẽ tiếp tục khò khè hay phát thành HPQ sau này [107]. Mối tương tác
giữa cơ địa dị ứng và nhiễm virus khá phức tạp, trong đó cơ địa dị ứng có thể
ảnh hưởng đến đáp ứng đường hô hấp dưới đối với nhiễm virus, nhiễm virus
có thể ảnh hưởng đến sự phát triển dị ứng, và mối tương tác giữa hai phần này
có thể sẽ xảy ra khi cá nhân tiếp xúc đồng thời với dị nguyên và virus [66].
Các vi khuẩn như Chlamydia, Pneumoniae có vai trò quan trọng trong
sự xuất hiện bệnh HPQ [67].
1.2.2.3 Ô nhiễm không khí
Vai trò của ô nhiễm không khí gây ra HPQ vẫn còn bàn cãi. Sự bùng
phát các cơn HPQ xảy ra trong các đợt không khí bị ô nhiễm, có lẽ là do nồng
độ các dị nguyên đặc hiệu và các chất ô nhiễm mà cá nhân bị dị ứng tăng lên.
Người ta cũng thấy được mối liên quan tương tự giữa ô nhiễm không khí
trong nhà và HPQ. Trong một môi trường nóng và ẩm ướt với tỷ lệ thông khí
thấp, rất phù hợp để phát triển bụi nhà [55].
- Các chất ô nhiễm ngoài nhà: khói công nghiệp (hỗn hợp các hạt SO2),
khói quang hoá (ozone và nitrogen oxides), các chất ô nhiễm môi trường như:
acid béo đa vòng 6 không no (margarin và dầu thực vật), ít acid béo đa vòng 3
không no (mỡ cá), làm tăng nguy cơ bị HPQ và bệnh dị ứng [57].
- Phản ứng dị ứng với thức ăn có thể là yếu tố khởi phát cơn khó thở,
thường ít gặp và chủ yếu ở trẻ nhỏ, trong đó có các thức ăn giàu đạm như:
tôm, cua, cá, ốc, trứng sữa, nhộng tằm, các loại hải sản là những dị nguyên
chính gây nên phản ứng dị ứng. Ngoài ra, các chất bảo quản thực phẩm