1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn hai mươi năm thực hiện chính sách đổi mới kinh tế, các doanh
nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đã có những thành công, từng bước khẳng định
vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Mỗi năm các doanh nghiệp nhỏ và vừa
tạo thêm nửa triệu việc làm mới, sử dụng tới 51% lao động xã hội và đóng góp
hơn 40% GDP. Các doanh nghiệp (DN) này không những góp phần giải quyết
việc làm mà còn tăng thu nhập cho nền kinh tế quốc dân, làm cho nền kinh tế
năng động hơn trong môi trường hội nhập cạnh tranh ngày nay. Chính vì vậy,
việc thúc đẩy sự phát triển của các DNNVV là một chiến lược quan trọng trong
công cuộc phát triển kinh tế xã hội của một nước đang phát triển như Việt Nam.
Theo số liệu thống kê của chính phủ năm 2013, nước ta hiện có khoảng hơn
500.000 DN đang hoạt động trên cả nước, trong đó số lượng các DNNVV
chiếm lên tới 97%. Đặc điểm của thị trường hiện đại là cạnh tranh mang tính
toàn cầu và ngày càng khốc liệt, cạnh tranh về giá đã nhường bước cho cạnh
tranh về chất lượng và tốc độ, khách hàng ngày càng trở nên khó tính hơn, đòi
hỏi cao hơn và được chiều chuộng hơn thông qua cạnh tranh. Do vậy việc tìm
ra các giải pháp cạnh tranh giúp các DN này đứng vững trong thị trường là một
việc vô cùng cấp thiết.
Hiện nay, có rất nhiều phương pháp, công cụ giúp các DN cải tiến sản
xuất, giảm thiểu chi phí và nâng cao lợi nhuận, trong đó sản xuất tinh gọn
(SXTG) có thể được xem là một công cụ hiệu quả giúp các DN loại bỏ tối đa
các loại lãng phí và đáp ứng nhu cầu của khách hàng tốt hơn. Trên thế giới, đặc
biệt tại Nhật Bản, các DN đã áp dụng SXTG từ khá lâu và đạt nhiều thành công
lớn góp phần phát triển DN. Tuy nhiên, ở Việt Nam, số lượng các DN biết đến
SXTG còn rất hạn chế. Hơn nữa, số lượng doanh nghiệp đã và đang áp dụng
phương pháp này phần lớn trong số đó đều liên doanh với nước ngoài (đặc biệt
là Nhật Bản). Vậy tại sao SXTG ở Việt Nam lại chưa thể phát triển rộng rãi và
đạt được thành tựu như các nước khác?
Bên cạnh đó, tác giả còn khẳng định SXTG và 6 sigma là các công cụ mới thay
3
thế cho TQM đồng thời tác giả cũng chỉ ra rằng đôi khi tập trung quá nhiều vào
công cụ đào tạo con người mà bỏ qua ý thức, hiểu biết của họ
- Michael A. Lewis: "SXTG và lợi thế cạnh tranh bền vững" (Lean production
and sustainable competitive advantage), 2000. Với nghiên cứu này, tác giả
phân tích chi tiết SXTG, 6 sigma, TQM. Đồng thời đi sâu vào 3 trường hợp cụ
thể để kết luận rằng SXTG góp phần nâng cao lợi thế cạnh tranh bền vững của
DN, và tác giả cũng đưa ra một số đề xuất cho các nghiên cứu sau này.
- Hiroshi Katayama, Davide Bennett: "SXTG trong thế giới cạnh tranh thay đổi
viễn cảnh Nhật Bản" (Lean production in a changing competitive world: a
Japanese perspective), 1996. Nhóm tác giả đã phân tích các khái niệm cơ bản
của SXTG và xu hướng của Nhật Bản, giải thích được tại sao trong giai đoạn
khủng hoảng các yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài lại ảnh hưởng đến
khả năng tồn tại của SXTG ở Nhật Bản. Nhóm tác giả cũng đi khảo sát 4
trường hợp cụ thể để tìm ra các vấn đề trong việc áp dụng SXTG ở Nhật Bản và
đưa ra một số khái niệm mới phù hợp với điều kiện môi trường.
- Jirapat Wanitwattanakosol, Apichat Sopadang: "Khung áp dụng hệ thống
SXTG trong các DNNVV” (A framework for implementing lean manufacturing
system in small and medium enterprises). Trong đề tài này, tác giả đã tập trung
nghiên cứu đưa ra khung áp dụng SXTG cho các DN trong môi trường sản xuất
đa dạng cao và số lượng thấp. Khung áp dụng này gồm 2 giai đoạn. Giai đoạn
đầu có 3 bước: tổ chức lại công ty bằng cách kết hợp các ứng dụng của công
nghệ thông tin (máy tính) với quy trình kinh doanh đồng thời xây dựng chuỗi
giá trị (VSM) và quan hệ mật thiết với các nhà cung cấp để duy trì lợi thế, tăng
tính cạnh tranh. Trong giai đoạn 2, DN sử dụng phương pháp JIT và các
phương pháp khác để giảm thiểu chi phí sản xuất.
- R. C. Barker: "Thiết kế hệ thống SXTG bằng cách sử dụng phân tích dựa trên
thời gian" (The Design of Lean Manufacturing System Using Time - based
- Năm 2004, Mekong Capital đã cung cấp một tài liệu bằng tiếng Việt, "Giới
thiệu về Lean manufacturing cho các doanh nghiệp Việt Nam". Bản báo cáo đã
trình bày tương đối đầy đủ lý thuyết về SXTG tuy nhiên do được cung cấp bởi
một tổ chức nước ngoài và chỉ đề cập đến lý thuyết đơn thuần.
5
- Nghiên cứu Sản xuất tinh gọn tại doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam-Thực
trạng và giải pháp, của nhóm tác giả: Đỗ Thị Cúc, Tạ Thị Hương Giang, Hoàng
Thị Thu Hà, Đại học kinh tế, 2012. Nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp
nghiên cứu thực chứng khảo sát tại 3 doanh nghiệp lắp ráp và cơ khí, chỉ ra
những tồn tại và đưa ra các giải pháp góp phần thúc đẩy SXTG tại các DNNVV
ở Việt Nam.
Nhìn chung, các nghiên cứu trong nước cũng chỉ ra lợi ích của các DN
khi áp dụng SXTG thông qua một số ngành nghề cụ thể, nhưng cho đến nay vẫn
chưa có nghiên cứu nào nêu rõ được hiện trạng áp dụng SXTG trong các
DNNVV cũng như nguyên nhân của việc áp dụng SXTG chưa phổ biến trong
các DN này.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý thuyết về sản xuất tinh gọn.
- Phân tích hiện trạng sản xuất tinh gọn tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt
Nam.
- Trên cơ sở phân tích thực trạng để thấy được vấn đề sản xuất tinh gọn chưa
phát triển rộng rãi ở Việt Nam, tìm ra nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp
phát triển sản xuất tinh gọn nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh
nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
SXTG là một đề tài khá rộng nên chúng tôi tập trung nghiên cứu việc áp
dụng SXTG trong ngành dệt may, cơ khí và lắp ráp đối với các DN nhỏ và vừa
ở Việt Nam (khảo sát thực tế tại 3 doanh nghiệp dệt may và gửi bảng hỏi theo
Mẫu 2 qua phương thức email đến 12 doanh nghiệp khác trong 3 lĩnh vực may
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liêu tham khảo, công
trình nghiên cứu được kết cấu làm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về sản xuất tinh gọn và năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng áp dụng sản xuất tinh gọn tại các doanh nghiệp
nhỏ và vừa ở Việt Nam.
7
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy áp dụng sản xuất tinh gọn nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam.
8
Chưa phù
hợp
Phù hợp Sơ đồ: Phương pháp nghiên cứu
Bước 2
Bước 3
Kiểm tra tính khả thi
của giải pháp với
chuyên gia tại DN
Đề xuất giải pháp khả thi
Kết luận
Tìm ra vấn đề
Mô hình nhân quả (5 whys)