Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Học viện ngân hàng hà nội
Khoa kế toán kiểm toán
---------------
Tiểu luận
lý thuyết tiền tệ ngân hàng
Đề tài :
Lịch sử phát triển hệ thống ngân
hàng Việt Nam.
Giáo viên hỡng dẫn : Trần Thị Lộc
Sinh viên : Nguyễn Thị Hơng Lý
Lớp : 2022
Hà Nội 9 -2001
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
MụC LụC
Lời mở đầu.................................................................................................................
2
Phần A : Sơ qua lịch sử phát triển hệ thống ngân hàng trên thế giới...............
3
Phần B : Lịch sử phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam...............................
6
Chơng I : Nền tài chính tiền tệ nớc ta trớc khi thành lập ngân hàng quốc
gia Việt Nam
.........................................................................................................
6
I - Giai đoạn trớc cách mạng tháng 8-1945...............................................
6
II - Thời kỳ sau cách mạng tháng 8-1945....................................................
33
Lời mở đầu
Thế kỷ 21 đang bớc những bớc đi đầu tiên - nền kinh tế Việt Nam
cũng đang tiến những bớc tiến để hoà mình vào thiên niên kỷ thứ III -
thời đại của nền kinh tế tri thức.
Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm dựng nớc và giữ nớc,
đất nớc Việt Nam mới đã đi qua 2 cuộc chiến tranh ác liệt- những gì của
ngày hôm qua của quá khứ, của lịch sử sẽ còn mãi đó trong tiềm thức của
mỗi ngời dân. Cho dù hôm nay nớc ta đang đứng trớc những thế và lực
mới để phát triển - đang cố gắng tận dụng hết những điều đó để có thể
hoà mình vào guồng quay đầy quyết liệt của nền kinh tế thế giới .
Nh chúng ta đã biết hiện nay xu hớng toàn cầu hoá, quốc tế hoá
đang ngày một rầm rộ - mặc dù trên thế giới vẫn còn những cuộc biểu
tình lớn để chống lại điều này song nó vẫn diễn ra nh là một tất yếu.
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Làm sao để mỗi đất nớc đứng vào sân chơi toàn cầu hoá mà vẫn giữ
cho mình đợc bản sắc riêng - đó chính là điều mỗi quốc gia luôn cân
nhắc. Lịch sử của dân tộc thì không ai đợc phép quên và lịch sử của một
dân tộc thì có nhiều giai đoạn khác nhau - mỗi giai đoạn có một ký ức
rạng rỡ, đáng tự hào. Thế kỷ XX- thế kỷ vang dội của cách mạng Việt
Nam - thế kỷ của thời đại Hồ Chí Minhvĩ đại sẽ luôn là giai đoạn lịch sử
hào hùng nhất - vẻ vang nhất trong những trang vàng lịch sử Việt Nam !
Trong niềm tự hào đó - ngành ngân hàng Việt Nam đã băng qua khói
lửa chiến tranh để phát triển và ngày 6/5/2001 là ngày ngành tròn 50 tuổi.
Chúng ta thờng nói nhiều đến các vấn đề liên quan trong lĩnh vực ngân
hàng nh lãi suất, sự hiệu quả của vốn cho vay, lạm phát... Những vấn đề
đó là vấn đề hàng ngày đợc quan tâm nhất - Nhng ắt hẳn trong tiềm thức
của biết bao thế hệ cán bộ ngân hàng vẫn luôn ngời sáng quá khứ anh
hùng.
(theo một tỷ lệ nhất định ) để đề phòng khách rút tiền bất ngờ còn lại để
cho vay nh thế có lợi hơn nhiều. Từ đây hàng loạt ngân hàng bắt đầu
tham gia quá trình cung ứng cho nền kinh tế.
Ta có thể minh hoạ sự khác nhau trong hai thời kỳ qua bảng cân đối
của ngân hàng nh sau:
Ngân hàng sơ khai Ngân hàng khi duy trì tỷ lệ dự trữ
Cho đến giai đoạn từ thế kỷ V đến thế kỷ XVII- đây là giai đoạn
phát triển và hoàn thiện các nghiệp vụ của một ngân hàng thơng mại.
Trong giai đoạn này hoạt động thanh toán bù trừ ở dạng sơ khai trong
cùng một ngân hàng và sau đó là hoạt động thanh toán giữa các ngân
hàng. Nghiệp vụ chuyển ngân và bảo lãnh hình thành vào khoảng cuối thế
kỷ X và sau đó, vào giai đoạn từ thế kỷ XI- XVII nghiệp vụ chiết khấu
thơng phiếu bắt đầu phát triển. Cho đến thế kỷ thứ XVII các nghiệp vụ
kinh doanh của ngân hàng đã hoàn thiện nh : nhận gửi cho vay, phát hành
tiền, chiết khấu chuyển ngân, thanh toán bù trừ và bảo lãnh.
Sở dĩ ngân hàng có thể phát triển nhanh chóng nh thế là do nền kinh
tế phát triển nhanh chóng và hoạt động thơng mại trong nớc và quốc tế
cùng diễn ra khá tấp nập - Trên thế giới các hệ thống ngân hàng đã hình
thành : Hệ thống ngân hàng Anh, Pháp, Hoa Kỳ... Nh vậy trên thế giới hệ
thống ngân hàng của các quốc gia t bản già cỗi đã bắt đầu vận hành
5
Nợ
TGKH :100
Tổng :100
Có
Dự trữ tiền mặt : 200
Cho vay : (200-100)
Tổng cộng : 100
thống ngân hàng sẽ tiếp thu để tự trang bị cho mình những sức mạnh mới
để có thể cạnh tranh với những tổ chức tài chính phi ngân hàng đang có
những đổi thay mạnh mẽ.
Nhìn lại sơ qua lịch sử hệ thống ngân hàng của các nớc trên thế giới
để thấy đợc sự phát triển của nó và để đặt mình trong khía cạnh liên quan
nào đó. Hệ thống ngân hàng Việt Nam tuy ra đời khác biệt, phát triển
trong những giai đoạn đặc biệt ( hai cuộc kháng chiến tr ờng kỳ ) nhng
ngày nay cùng với các hệ thống ngân hàng khác đang đặt mình trong
guồng quay của cơ chế kinh tế mới mà trong đó xu hớng quốc tế hoá
ngày một rõ ràng. Phải đặt mình trong một tổng thể thì ngân hàng Việt
Nam mới có thể tự vơn lên để hoà nhập đợc. Học hỏi -sáng tạo-tự chủ đó
luôn luôn sẽ là phơng thức của bất cứ ngành nào trong nền kinh tế và
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nhất là ngành ngân hàng ngành kinh doanh tiền tệ - ngành có tác động to
lớn đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Ngân hàng Việt Nam đã đi qua chặng đờng 50 năm (1951- 2001) là
khoảng thời gian ngắn ngủi so với lịch sử lâu dài của đồng tiền nhng đây
là giai đoạn vẻ vang nhất của sự nghiệp một ngành nghề trong thời đại
Hồ Chí Minh vĩ đại. Ngân hàng Việt Nam đã băng qua khói lửa của hai
cuộc chiến tranh để trởng thành, khó khăn gian khổ thật nhiều nhng
những chặng đờng đã đi qua thì không thể quyên và chúng mang tầm vóc
của những bớc ngoặt lịch sử lớn. Qua 50 năm không chỉ với ỹ nghĩa là
con số tròn mà qua 50 năm đất nớc ta đang đứng trớc thế và lực mới để
phát triển. Nhìn lại lịch sử không chỉ để ta tự hào về truyền thống tốt đẹp
mà còn để rút ra bài học kinh nghiệm để giúp đất nớc ta tiến xa hơn trong
thế kỷ mới.
50 năm - có bao nhiêu điều đáng nhớ, bằng những hiểu biết của
mình em xin trình bày những vấn đề sau đây.
Chơng I
hành tiền.
Ngân hàng Đông Dơng bảo quản tiền gửi của ngân khố và sử
dụng số tiền đó để kinh doanh. Nó là ngân hàng ngoại thơng cho
chính phủ Đông Dơng nên nó tập trung trong tay đầy đủ ngoại tệ,
vàng bạc của chính phủ ký gửi. Nhờ vào đó quyền lực của nó càng
thêm ghê ghớm, sức mạnh tài chính của nó càng lớn mạnh, ngân
sách của nó càng đầy chặt hơn trớc đó hàng trăm lần.
Ngân hàng Đông Dơng đã sử dụng quyền lực của mình một cách
triệt để và đợc sự trợ giúp bảo hộ đặc biệt của chính phủ Pháp khiến nó
càng mở rộng phạm vi của mình. Nh đồng chí Trờng Chinh đã nói:
Chiếm độc quyền phát hành, thiết lập một hệ thống ngân hàng đồ sộ cho
vay lãi, t bản tài chính Pháp khác nào một con bạch tuộc già thò vòi sang
Đông Dơng hút máu, hút mủ nhân dân Việt Nam, và Việt Nam thật ra là
thuộc địa của ngân hàng Đông Dơng.
II -Thời kỳ sau cách mạng tháng 8 - 1945 đến 5/6/1951
Cách mạng tháng tám thành công, chính quyền dân chủ nhân dân
mới đợc thành lập đã phải đơng đầu với tình huống gay go phức tạp do
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thù trong giặc ngoài. Trong khi đó nền kinh tế tài chính ở tình trạng đổ
nát cuộc sống nhân dân cơ cực sau hậu quả của nạn đói khủng khiếp
1945 đã làm chết 2 triệu đồng bào ta.
Trớc tình trạng ngàn cân treo sợi tóc với ngân sách quốc gia trống
rỗng Đảng, chính quyền đã ra sức chèo chống, phát động phong trào tăng
gia sản xuất, tiết kiệm, từng bớc thực hiện xây dựng nền Tài Chính Tiền
Tệ độc lập tự chủ. Trớc hết cần phải phát hành đồng tiền riêng của Việt
Nam sau đó tiến hành thành lập ngân hàng Quốc Gia Việt Nam khi có
điều kiện.
Trong quá trình cách mạng ta đã không chiếm ngân hàng Đông D-
ơng (do điều kiện lịch sử qui định) chính phủ ta buộc phải tạm thời cho l -
3. ở Nam Bộ chính phủ trung ơng cho phép phát hành giấy bạc
riêng. Tiền Nam Bộ phát hành và lu thông chủ yếu ở khu căn cứ
Tây Nam Bộ.
Mặc dù buổi đầu có bao nhiêu khó khăn chồng chất Đảng và Nhà N-
ớc ta đã giải quyết thành công một loạt vấn đề có tính chất lý luận tiền tệ,
đa Đất Nớc ra khỏi khó khăn, ổn định tài chính tiền tệ Đảng ta xác định
thực chất của vấn đề chiếm lĩnh ngân hàng trong cách mạng là vấn đề
nắm quyền phát hành giấy bạc.
Lịch sử đã chứng minh chủ trơng hình thành 3 khu vực tiền tệ riêng
biệt là chủ trơng độc đáo, vừa mang tính lý luận sâu sắc và mang tính
thực tiễn sinh động. Sự hình thành các khu vực tiền tệ đã có tác dụng làm
cho lu thông tiền tệ phù hợp với lu thông hàng hoá, đồng thời còn khắc
phục đợc tình trạng giao thông vận tải khó khăn trong điều kiện chiến sự,
bảo đảm kịp thời cho nhu cầu kháng chiến ở từng vùng. Bên cạnh đó, chủ
trơng này còn là giải pháp hữu hiệu chống lại âm mu phá hoại tiền tệ của
địch, ngăn chặn những hành động lợi dụng chênh lệch giá cả giữa khu
vực này với khu vực kia để làm ảnh hởng tới tình hình quản lý kinh tế tài
chính và thị trờng ở các khu vực khác nhau. Mặt khác nền kinh tế Nớc ta
là nền kinh tế hàng hoá nhỏ, chủ yếu là hàng hoá do nông nghiệp và thủ
công nghiệp sản xuất. Do vậy lu hành đồng tiền ở 3 khu vực riêng biệt
phù hợp từng điều kiện kinh tế khác nhau.
Tuy đồng tiền đợc nhân dân tín nhiệm nhng không vì thế mà phát
hành bừa bãi, yếu tố chính trị của đồng tiền phải đợc gắn với yếu tố kinh
tế của nó về lâu dài yếu tố kinh tế sẽ trở thành cơ bản quan trọng nhất.
Điểm lại giai đoạn lịch sử khi ngân hàng Quốc Gia Việt Nam ch a ra
đời ta thấy rõ rằng Đảng, chính phủ ta ngay từ đầu đã rât quan tâm coi
trọng đến mặt trận tài chính - tiền tệ. Khát vọng độc lập tự chủ của nhân
dân ta thể hiện qua sự nghiệp đấu tranh vũ trang cách mạng và nó cũng
biểu hiện trong quá trình nhân dân ủng hộ hết lòng cho các chính sách tài
10
để nâng cao sản xuất của nhân dân và phát triển kinh tế của
Nhà Nớc.
Quản lỹ ngân quỹ quốc gia.
Quản lý ngoại tệ và thanh toán các khoản giao dịch với nớc
ngoài.
Quản lý kim dung bằng các thể lệ hành chính, thể lệ Vàng
Bạc, thể lệ về quỹ của các doanh nghiệp quốc gia.
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Đấu tranh tiền tệ với địch.
Nói chung NHQGVN làm những công việc để thi hành chính sách
tiền tệ, chính sách tín dụng và chính sách ngân hàng của chính phủ.
Ngay từ khi mới thành lập NHQGVN đã đợc xác định là cơ quan
ngang bộ. Tổng giảm đốc ngân hàng là một thành viên trong hội đồng
chính phủ nhng NHQGVN thực hiện chức năng nửa quản lý hành chính
kinh tế, nửa kinh doanh. Hồ Chủ Tịch đã chỉ thị: ngân hàng là một xí
nghiệp kinh doanh, phải làm gơng mẫu thực hiện tự túc .
Cùng với việc xác định cơ cấu tổ chức, định danh của ban quản lý,
NHQGVN đã ra đời một cách trọn vẹn với chức năng, quyền hạn đợc xác
định rõ.
3. Những hoạt động trong những ngày đầu thành lập.
Sau khi giấy bạc tài chính đã hết vai trò lịch sử của mình, NHQGVN
có công việc đầu tiên đó là thực hiện thắng lợi việc phát hành giấy bạc
ngân hàng quốc gia và thu hồi lại giấy bạc tài chính đợc phát hành trớc
đó.
Ta đã biết rằng để phù hợp với tình hình kháng chiến Đảng và Nhà
Nớc cho phép duy trì hệ thống tiền tệ ở 3 khu vực riêng biệt nên việc thu
hồi, phát hành giấy bạc mới gặp nhiều khó khăn trở ngại. Để ngăn chặn
tình trạng đầu cơ buôn tiền giữa các vùng và âm mu phá hoại của địch ta
đã chủ trơng phát hành giấy bạc giữa các vùng theo từng bớc khác nhau:-
Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, Miền Bắc đợc hoàn toàn giải
phóng Ngân hàng quốc gia Việt Nam có nhiệm vụ tiếp quản các vùng đợc
giải phóng và khôi phục kinh tế sau chiến tranh (1954 -1957). Chỉ trong
một thời gian ngắn Ngân hàng quốc gia Việt Nam đã tiến hành một loạt
các công việc nhằm củng cố thị trờng tiền tệ thống nhất ở Miền Bắc. Từ
đây Ngân hàng quốc gia Việt Nam phục vụ cho giai đoạn mới, giai đoạn
cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc.
2. Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam - một trong những công cụ đắc lực
của Đảng và nhà nớc trong công cuộc cải tạo và xây dựng CNXH ở
miền bắc
2.1 Giai đoạn 1955-1957
Tiếp quản các vùng đất mới đợc giải phóng không chỉ đơn thuần
tiếp quản về mặt hành chính mà tiếp quản về mặt kinh tế xã hội cũng
cực kỳ quan trọng
Từ nay thị trờng tiền tệ ở Miền Bắc đã thuần nhất, việc phát
hành tiền ta để chiếm lĩnh thị trờng có ý nghĩa rất quan trọng trên
các mặt chính trị, kinh tế xã hội.
14