NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT ĐỐI PHƯƠNG THỨC
KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ NGƯỜI HỌC
Th.S Hoàng Quang Nam
Căn cứ kế hoạch Hội thảo số 20/KH-ĐHHV ngày 12 tháng 02 năm 2015 của
Hiệu trưởng trường ĐH Hùng Vương, với mục đích của cuộc hội thảo nhằm phát
hiện các nguyên nhân, các giải pháp cụ thể nhằm đổi mới kiểm tra đánh giá theo
hướng tiếp cận năng lực người học, nâng cao hiệu quả giáo dục. Sau khi nghiên cứu
một số tài liệu, tổng kết kinh nghiệm cá nhân qua một thời gian công tác, tôi xin
trình bày tham luận về vấn đề: “Những kiến nghị, đề xuất đổi mới phương thức
kiểm tra, đánh giá người học” như sau:
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (24/12/1996) và các chủ
trương của Đảng, Nhà nước về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta đã
đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc.
Cụ thể:
- Đã xây dựng được hệ thống giáo dục và đào tạo tương đối hoàn chỉnh từ
mầm non đến đại học. Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, đào tạo được cải thiện rõ rệt
và từng bước hiện đại hóa. Số lượng học sinh, sinh viên tăng nhanh, nhất là ở giáo
dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Chất lượng giáo dục và đào tạo có tiến bộ.
Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất
lượng, với cơ cấu ngày càng hợp lý. Chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo đạt mức
20% tổng chi ngân sách nhà nước. Xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh; hệ thống
giáo dục và đào tạo ngoài công lập góp phần đáng kể vào phát triển giáo dục và đào
tạo chung của toàn xã hội. Công tác quản lý giáo dục và đào tạo có bước chuyển
biến nhất định.
- Cả nước đã hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học
vào năm 2000; phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010; đang tiến tới phổ
cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; củng cố và nâng cao kết quả xóa mù chữ cho
người lớn. Cơ hội tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với đồng bào dân
tộc thiểu số và các đối tượng chính sách; cơ bản bảo đảm bình đẳng giới trong giáo
- Việc phân định giữa quản lý nhà nước với hoạt động quản trị trong các cơ
sở giáo dục, đào tạo chưa rõ. Công tác quản lý chất lượng, thanh tra, kiểm tra, giám
sát chưa được coi trọng đúng mức. Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức
xã hội và gia đình chưa chặt chẽ. Nguồn lực quốc gia và khả năng của phần đông
gia đình đầu tư cho giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu.
Trên cơ sở những tổng kết đánh giá đó, trước những thách thức trong thời kỳ
mới, Hội nghị BCH TW lần thứ 8 khóa XI đã tiến hành thảo luận và đến ngày 4-11-
2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế. Nghị quyết đã đề ra định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
đào tạo với quan điểm:
1- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà
nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi
trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
2- Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề
lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung,
phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh
đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo
dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người
học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học.
Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển
những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết
chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ
thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp
phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp.
3- Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang
phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận
gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã
giáo dục và đào tạo.
7- Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của
toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo.
8- Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công
nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý.
9- Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào
tạo.
Trên cơ sở Nghị quyết số 29/NQ-TW, đổi mới giáo dục theo hướng coi trọng
phát triển phẩm chất, năng lực của người học cũng đòi hỏi phải đổi mới kiểm tra,
đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực người học.
Kiểm tra, đánh giá là khâu then chốt cuối cùng của mỗi quá trình dạy học.
Đây cũng là khâu quan trọng tác động lớn đến quá trình nâng cao chất lượng đào
tạo. Việc kiểm tra đánh giá khách quan, nghiêm túc, đúng cách, đúng hướng sẽ là
động lực mạnh mẽ khích lệ sự vươn lên trong học tập của sinh viên, thúc đẩy sự tìm
tòi sáng tạo không ngừng của sinh viên.
Để có thể đưa ra các giải pháp cụ thể, tôi đã tiến hành đánh giá sơ bộ thực
trạng kiểm tra, đánh giá người học hiện nay của trường Đại học Hùng Vương. Kết
quả như sau:
- Thực tế cho thấy, một bộ phận lớn sinh viên đã tốt nghiệp vẫn chưa được xã
hội chấp nhận do không đủ năng lực để phục vụ được các nhiệm vụ thực tiễn. Điều
đó làm nảy sinh vấn đề đó là phương pháp giảng dạy hiện nay vẫn còn chú trọng
định hướng vào nội dung học (nặng về lý thuyết) hơn định hướng vào năng lực
người học (thực hành) và sự bất cập trong hệ thống đánh giá kết quả học tập là một
vấn đề rất đáng quan tâm.
- Thông thường kết quả học tập của các môn học được đánh giá theo thang
điểm 10 với các điểm bộ phận như sau:
+ 10% đánh giá tính chuyên cần của sinh viên (gộp vào đánh giá kết
quả kiểm tra giữa kì).
+ 30% đánh giá kết quả kiểm tra giữa kì (có thể đến 50%).
+ 60% đánh giá kết quả thi cuối kì.
- Phạm vi thi và kiểm tra: vẫn còn tình trạng một số môn học giới hạn phạm
vi quá hẹp trên một diện rất rộng kiến thức sinh viên được học, do đó dẫn tới tình
trạng sinh viên học tủ, học lệch, học đối phó.
- Nội dung thi và kiểm tra: các câu hỏi thi và kiểm tra còn nhiều trùng lắp,
thiếu sáng tạo. Nhiều câu hỏi chủ yếu là tái hiện kiến thức lý thuyết, thậm chí ra
đúng như đề mục trong bài, vì vậy nhiều sinh viên bỏ tiết không đi học nhưng vẫn
thi đươc̣ là nhờ học thuộc lòng (học vẹt, không cần hiểu) hoặc quay cóp.
- Ngoài ra một vấn đề nữa mà theo tôi cũng cần phải quan tâm đó là vẫn còn
có tình trạng (mặc dù rất là cá biệt) giáo viên, khoa, bộ môn do vấn đề thành tích
nên dẫn tới tâm lý dễ dãi trong vấn đề đánh giá sinh viên của mình, ảnh hưởng đến
tính động viên thi đua trong sinh viên và giữa các khoa bộ môn.
- Vấn đề tuỳ tiện trong cách đánh giá kết quả học tập. Kết quả là hệ thống
điểm số đánh giá khác nhau không chỉ xảy ra ở cấp trường, cấp khoa, bộ môn, mà
cả giữa các giáo viên trong từng bộ môn. Trên bình diện xã hội nhiều trường có tên
tuổi, có điểm số tuyển sinh đầu vào cao nhưng lại có điểm số bình quân khá thấp, số
sinh viên bị buộc thôi học hàng năm chiếm tỷ lệ khá lớn, trong khi tình hình lại xảy
ra ngược lại ở các trường mới hình thành.
- Phương pháp đánh giá sinh viên chưa thực sự động viên sinh viên phấn đấu
vươn lên trong học tập. Việc đánh giá sinh viên của mỗi giảng viên chưa thực sự
đồng nhất, còn nhiều sai biệt khác nhau, có môn thì quá chặt, có môn thì quá lỏng.
- Bệnh chạy theo thành tích, đã tạo thêm cơ hội cho chủ nghĩa thực dụng có
đất phát triển, điểm số trở thành công cụ để tăng thêm thu nhập cho một số nhà
giáo. Tâm lý dễ dãi trong vấn đề đánh giá sinh viên của mình, ảnh hưởng đến tính
động viên thi đua trong sinh viên và giữa các khoa, bộ môn. Kết quả mô hình học
tủ, thi tủ, giới hạn chương trình thi, ra đề tủ, đến phương pháp học tủ xuất hiện phổ
biến, nhiều sinh viên tốt nghiệp với điểm cao nhưng lại không đáp ứng được yêu
cầu thực tế, gây khó khăn cho việc tuyển dụng và tốn kém chi phí để đào tạo.
(Không phổ biến)
Trước những thực trạng đó, tôi xin đề xuất một số ý kiến về “Đổi mới
phương thức kiểm tra, đánh giá người học theo hướng tiếp cận năng lực người học
tiếp cận kiến thức.
Trong nhà trường, thường chúng ta chỉ quan tâm đến lượng kiến thức mà sinh
viên thu nhận được chứ ít khi đánh giá được họ sẽ sử dụng những kiến thức đó
trong cuộc sống ra sao. Do vậy một bài thi chỉ có ý nghĩa khi thể hiện được năng
lực người học ở mức độ (nhận biết, thông hiểu…), cấp độ (cao, thấp…) nào đối với
môn học đó.
Kiểm tra, đánh giá truyền thống dùng để đánh giá sự tiếp nhận kiến thức, kỹ
năng của sinh viên và thường được xây dựng từ những câu hỏi nhiều lựa chọn và
một số câu tự luận kiến tạo. Ngược lại, kiểm tra, đánh giá theo hướng tiếp cận năng
lực người học bao gồm những nhiệm vụ như trình diễn, sản phẩm và cả những câu
hỏi kiến tạo đòi hỏi sinh viên có sự vận dụng trực tiếp kiến thức, kỹ năng vào đời
sống thực tiễn.
Kiểm tra, đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực người học không loại trừ
đánh giá truyền thống mà chỉ là sự bổ sung hoàn hảo giúp người dạy cũng như
người học gắn kết những kiến thức, kỹ năng được học trong trường với cuộc sống
thực, giúp người học có ý thức hơn với những nhiệm vụ mà họ sẽ phải thực hiện khi
tốt nghiệp. Quá trình dạy học trong trường cũng nhờ đó mà trở nên sống động hơn,
giảng viên sẽ tìm tòi, sáng tạo hơn để tìm ra các bài tập hay, hỗ trợ sinh viên thực
hiện các nhiệm vụ đó. Sinh viên sẽ khát khao hơn trong quá trình tiếp nhận tri thức,
rèn luyện kỹ năng để làm việc có ý nghĩa, hiệu quả thực tiễn hơn ngay từ khi còn
trên ghế nhà trường.
Do thời gian công tác chưa nhiều nên kinh nghiệm của tôi vẫn còn hạn chế.
Những ý kiến đề xuất trên đây của tôi cũng còn mang tính chủ quan và chắc chắn
còn thiếu sót. Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các đồng chí tham luận
của tôi được hoàn thiện, bản thân tôi cũng được học hỏi thêm kinh nghiệm, giúp cá
nhân tôi nói riêng, trường ĐH Hùng Vương nói chung hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ giáo dục đào tạo mà Đảng và Nhà nước giao phó.