MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
1.1. Lâm Đồng là một trong năm tỉnh của Tây Nguyên, trên
vùng đất basalte giàu tiềm năng của Việt Nam. Không chỉ thế, Lâm
Đồng còn có vò thế đòa - chính trò - văn hóa - xã hội quan trọng của
đất nước. Trước kia cũng như hiện nay, nhân dân Lâm Đồng đã sát
cánh cùng với nhân dân cả nước đấu tranh giải phóng dân tộc; thống
nhất đất nước và xây dựng chủ nghóa xã hội; bảo tồn và phát huy bản
sắc văn hóa truyền thống trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Nghiên cứu khảo cổ học (KCH) Lâm Đồng là trách nhiệm và nghóa
vụ của chúng ta, cũng là để góp phần bảo lưu và phát huy bản sắc
văn hóa thuần phác của các dân tộc bản đòa trên vùng đất cao
nguyên miền Trung Việt Nam.
1.2. Trước ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng (năm 1975),
Lâm Đồng vẫn được coi là vùng trắng trên bản đồ KCH Việt Nam.
Nơi đây chưa có di chỉ KCH nào được khai quật, ngoài một vài đồ đá
do nhân dân thu lượm được khi canh tác nương, rẫy.
Trong những năm gần đây, Viện KCH, Trung tâm nghiên cứu
KCH thuộc Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ và Trường Đại học
Đà Lạt (ĐHĐL) đã phối hợp với Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng triển khai
nhiều đợt điều tra, thám sát, khai quật KCH và đã thu được những
kết quả nhất đònh. Một số di tích cư trú, công xưởng, mộ táng, đền
tháp cũng bắt đầu được biết đến. Nhiều di tích và di vật thời đại đá
cũ, đá mới, kim khí và thời kỳ lòch sử đã được phát hiện. Trong đó, di
chỉ Phù Mỹ (Cát Tiên) là di chỉ tiền sử đầu tiên được phát hiện tại
Lâm Đồng. Tuy nhiên, các phát hiện khảo cổ nằm rải rác ở nhiều
nơi, diễn ra trong thời gian dài, lại do nhiều cơ quan, nhiều cá nhân
thực hiện, nên việc hệ thống hóa các tư liệu là một yêu cầu cần
thiết. Việc phác thảo bức tranh tiền sử của Lâm Đồng chưa được
Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo các di tích và di vật KCH
ở các tỉnh Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ Những
tư liệu này sử dụng để so sánh, đối chiếu tìm hiểu mối quan hệ văn
hóa trong quá khứ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Về không gian nghiên cứu theo đòa
bàn phân bố của Phù Mỹ và các di chỉ có liên quan. Về thời gian
chính là niên đại của di chỉ Phù Mỹ, cách ngày nay khoảng trên 2000
năm
- Nội dung các vấn đề cần đi sâu nghiên cứu trong đề tài là:
Xác đònh đặc trưng cơ bản về di tích và di vật của di chỉ Phù
Mỹ; Tìm hiểu mối quan hệ văn hóa giữa di chỉ Phù Mỹ với các di
tích đồng đại trong khu vực, làm rõ vò trí của di chỉ.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Đề tài sử dụng các phương pháp truyền thống của KCH
như: Điều tra, thám sát, khai quật, phân loại, khảo tả, thống kê, đo,
vẽ, phân tích, so sánh... những di tích và di vật KCH. Đây là phương
pháp chính của đề tài nhằm xử lý và khai thác thông tin tư liệu KCH,
xác đònh tính chất, niên đại, vò trí của di chỉ Phù Mỹ .
4.2. Sử dụng một cách hợp lý các phương pháp liên ngành: Đòa
lý học, dân tộc học trong phác thảo nguồn gốc chủ nhân và mối quan
hệ văn hóa trong quá khứ.
5. Những đóng góp của đề tài
5.1. Đề tài tổng hợp và trình bày đầy đủ kết quả 3 lần khai
quật, đặc biệt là các phát hiện mới của mỗi lần khai quật, nhằm cung
cấp cho các nhà nghiên cứu thông tin chính xác về di chỉ Phù Mỹ
5.2. Đề tài xác đònh những đặc trưng cơ bản về di tích, di vật
của di chỉ Phù Mỹ, từ đó làm rõ nội dung, tính chất, niên đại, chủ
nhân và mối liên hệ văn hóa của dư dân Phù Mỹ trong khu vực
của tỉnh Lâm Đồng. Cát Tiên về phía bắc giáp huyện Bảo Lộc, phía
đông giáp huyện ĐạTẻh, phía nam và phía tây nam giáp 2 tỉnh Đồng
Nai và Bình Phước. Đòa bàn Cát Tiên gồm nhiều kiểu đòa hình đa
dạng :
- Kiểu đòa hình núi cao sườn dốc : Độ cao từ 200 - 600 m so
vớimặt biển, độ dốc khá lớn 15
o
- 20
o
, có nơi trên 30
o
. Mức độ chia
cắt phức tạp tạo nên nhiều nhánh suối nhỏ chảy vào sông Đạ Đờn
(một trong hai nguồn chính của sông Đồng Nai).
- Kiểu đòa hình trung bình, sườn ít dốc : Độ cao từ 200 - 300 m
so với mặt nước biển, độ dốc từ 15
o
- 20
o
, độ chia cắt cao là nơi xuất
phát của các con suối lớn đổ vào Đạ Đờn như suối Đạ Lua, Đạ
Tapok, suối Pang ...
- Kiểu đòa hình bậc thềm sông Đạ Đờn và dạng đồi bát úp tiếp
giáp đầm, hồ : Độ cao từ 100 - 130 mét so với mặt nước biển, chạy
dọc theo sông Đạ Đờng.
- Kiểu đòa hình thềm suối xen kẽ với hồ đầm: Độ cao thấp hơn
130m với mặt nước biển với các bàu nước lớn như: Bàu Chim, Bàu
Sấu, Bàu Cá...
Chính bởi sự chia cắt mạnh như vậy, kết hợp với các dãy núi
cuối cùng của Trường Sơn đổ về tạo ra cho Cát Tiên một loạt các
C
- Nhiệt độ cực tiểu : 21,3
o
C
- Lượng mưa trung bình năm : 2.185,6 mm
- Lượng mưa lớn nhất : 2.894 mm
- Độ ẩm trung bình : 83,6%
- Độ ẩm thấp nhất : 56,2%
- Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc cuối tháng
10.Tháng có lượng mưa cao nhất : 7, 8, 9. Mùa khô từ tháng 11 đến
tháng 4 năm sau. Tháng khô nhất là tháng 2 và 3. Do đặc điểm đòa hình, khí hậu như trên nên thuỷ văn ở vùng
này khá phức tạp. Có rất nhiều hệ suối lớn nhỏ đổ vào sông Đạ Đờn
như Đạ Tẻh, Đạm Bri, Đạ Nhor, Đạ Đimbo, Đạ Lua...Có nhiều thách
ghềnh ở vùng thượng lưu. Dòng Đạ Đờn chảy qua khu vực Cát Tiên
uốn lượn nhiều khúc quanh co, lưu lượng dòng chảy trung bình 405
m
3
/giây.
Ở những bồn đòa ven sông do đòa hình khá bằng phẳng nên
mùa lũ thường có ngập lụt. Đây cũng là vùng được phù sa bồi đắp
nên nông nghiệp trồng lúa nước khá phát triển. Đặc điểm thuỷ văn
khu vực này gồm sông, suối, thác, ghềnh, thung lũng, bàu, đầm lầy và
các vùng bán ngập nước đã làm tăng giá trò về tính đa dạng sinh học và
phong phú thêm cảnh quan thiên nhiên của khu vực Cát Tiên.
1.2. Lòch sử phát hiện
Di chỉ khảo cổ học Phù Mỹ thuộc đòa phận thôn Ba, xã Phù
Mỹ, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng. Đây là vùng đất chuyển tiếp
phần đònh hình chuỗi phát triển của lòch sử vùng đất này và bổ
khuyết cho những hiểu biết còn ít ỏi của chúng ta về quá khứ khu
vực Nam Tây Nguyên. Vì vậy, ngay từ khi phát hiện, di chỉ này đã
được các nhà khảo cổ học quan tâm nghiên cứu.
Tháng 11 – 1998, Viện khảo cổ học Hà Nội phối hợp với Bảo
tàng Lâm Đồng khai quật di chỉ Phù Mỹ lần thứ nhất. Cuộc khai
quật này do TS. Trònh Sinh phụ trách. Diện tích khai quật 98m
2
, gồm
hai hố (hố 1 rộng 63m
2
, hố 2 rộng 25m
2
).
Nhằm nhận thức rõ nét hơn về di chỉ Phù Mỹ, tháng 6 – 2006,
cuộc khai quật di chỉ Phù Mỹ lần thứ hai được tiến hành, dưới sự chủ
trì khoa học của TS. Bùi Chí Hoàng (Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ
– Viện KHXH vùng Nam Bộ). Cuộc khai quật được triển khai với
bốn hố khai quật ký hiệu H1, H2, H3, H4 có tổng diện chỉ 224m
2
và
7 hố thám sát mở về phía đông, phía nam và phía tây để xác đònh
phạm vi phân bố của di chỉ. Kết quả thu được qua đợt khai quật này
đã góp phần giải quyết một số vấn đề khoa học của di chỉ như: tính
chất, niên đại, các quan hệ văn hóa của di chỉ khảo cổ học kim khí
đầu tiên phát hiện được trên đòa bàn tỉnh Lâm Đồng.
Tháng 3 – 2007, được Bộ Văn hóa – Thông tin cấp giấy phép,
khoa Sử trường Đại học Đà Lạt đã phối hợp với Viện khảo cổ học
Hà Nội tiến hành khai quật di chỉ Phù Mỹ lần thứ ba. Cuộc khai
trung bình khoảng 20-30cm, không có hiện vật. Lớp này được hình
thành do phù sa sông Đồng Nai phủ dần lên qua nhiều đợt lũ lụt,
giống như lớp bảo vệ, chứng tỏ tầng văn hóa chưa bò xáo trộn.
+Lớp 2 là đất phù sa màu nâu, có độ dày trung bình khoảng
40cm. Lớp đất này cũng được hình thành giống lớp đất mặt.
+Lớp 3 là đất phù sa màu vàng, có độ dày trung bình khoảng
20-30cm trải đều khắp mặt hố, tương đối bằng phẳng.
Có thể nhận đònh rằng, nếu kể cả lớp đất mặt thì 3 lớp đất
phía trên phủ lên tầng văn hóa đều là đất phù sa của sông Đồng
Nai. Tính chung, độ dày của các tầng phù sa khoảng 80cm – 1m,
hình thành do nhiều đợt lũ lụt nước sông dâng lên và cũng hình thành sau tầng văn hóa. Có nghóa là sau khi cư dân ở Phù Mỹ không
cư trú nữa thì vùng này thường xuyên chòu ảnh hưởng của ngập lụt.
Hay chính vì ngập lụt mà người cổ Phù Mỹ không cư trú ở đây nữa
mà di dời đi chỗ khác có điều kiện sống tốt hơn?
+Lớp 4 là tầng văn hóa, đất màu nâu đen có độ dày trung
bình 30 - 40cm. Tầng này tương đối bằng phẳng, không bò xáo trộn
và chứa các hiện vật. Tuy nhiên, hố 1 có mật độ hiện vật nhiều hơn
hố 2 (112/20).
+Lớp 5 là đất thòt (sinh thổ), laterite nhẹ
(Bản vẽ tr. 74)
- Di vật
Tổng số di vật thống kê được 132 tiêu bản, (hố 1 có 112 tiêu
bản, hố 2 có 20 tiêu bản).
+Đồ đá có 23 hiện vật.
Khuôn đúc: 16 tiêu bản, có thể chia làm hai loại. Loại khuôn
nhiều mang, còn gọi là khuôn “liên hoàn”. Người xưa tạo khuôn
Bàn mài có 4 tiêu bản đều là loại bàn mài phẳng.
Phác vật rìu : 2 tiêu bản. Phác vật rìu có số kí hiệu 98PMH
1L1-21 (Bảo tàng Lâm Đồng) được làm bằng đá màu xám, hình
khối gần giống hình tứ gác, toàn thân có nhiều vật mài xen lẫn vết
ghè đẽo, chiều dài 8cm, chiều rộng nhất 3.9cm, chiều dày nhất
2.6cm. Phác vật rìu thứ hai có số kí hiệu là 98PMH1L1 làm bằng đá
màu xám, chỉ còn phần chuôi, nhiều chỗ ghè đẽo, chiều dài 3.9cm,
rộng 2.3cm, dày 1.5cm.
Còn ghi nhận một phác vật của chiếc đục có số ký hiệu là
98PM41L1 tuy nhiên vẫn còn chưa rõ ràng là phác vật đục hay chỉ
là một mảnh đá bò vỡ tự nhiên, chiều dài 3.8cm, rộng 1.7cm, dày
1.5cm.
Chày nghiền: 1 chiếc, mang số ký hiệu 98PM41L2-46. Chày
nghiền bò vỡ còn một đoạn đầu, bằng đá cuội. Chày có hình trụ
nhưng thuôn đầu về một bên, chiều dài 7.5cm, chiều rộng nhất
3.7cm.
+ Đồ gốm: 116 hiện vật, tìm được chủ yếu ở hố khai quật 1
(103 hiện vật). Những hiện vật bằng gốm gồm có bàn đập gốm, dọi xe chỉ,
con dấu gốm, bát gốm, nồi gốm vỡ, hiện vật hình sừng bò, con dấu
gốm, nhẫn gốm và li gốm.
Bàn đập gốm có 95 hiện vật, chiếm đa số trong tổng số hiện
vật bằng gốm (81.7%), chủ yếu ở hố khai quật 1 (86 hiện vật). Công
dụng của bàn đập gốm vẫn còn đước các nhà nghiên cứu bàn cãi.
Nhiều người gọi là bàn xoa gốm. Tuy nhiên chắc chắn loại bàn đập
này liên quan đến nghề làm gốm thủ công. Dường như bàn đập gốm
ở Phù Mỹ có chung một hình dáng. Đó là hiện vật hình chóp cụt dài,
phía dưới bè ra như chiếc bánh dày. Một số tiêu bản một đầu có lỗ
(Bản vẽ 20, tr 85)
.
Nồi gồm vỡ: 2 chiếc.
Hiện vật gốm hình sừng bò: 1 chiếc. Loại hiện vật này hiện
chưa rõ tác dụng. Gốm sừng bò bên trong rỗng, đầu gần nhọn, là
loại gốm thô màu vàng nhạt. Chiều dài 5,2cm, đk lớn nhất 2,5cm, đk
lỗ 1,3cm
(nh 30, tr. 107)
.
Quả bầu gốm: 1 hiện vật, với thân gần giống hình quả bầu,
rỗng ở trong, loại gốm thô, màu đỏ xám. Cuống bầu nhô ra có hình
chóp. Miệng quả bầu nhỏ có hình bầu dục. Chiều dài 6.6cm, đk quả
bầu 4,2cm, đk lỗ bầu 1,3cm
(Bản vẽ 20, tr 85)
..
Nhẫn gốm : 1 hiện vật, có hình một chiếc nhẫn to, thô, màu
vàng xám. Đk tổng cộng 4,2cm, đk lỗ 2,0cm, rộng bản 2,7cm.
Bi gốm : 2 tiêu bản, là hiện vật hiện nay ta chưa rõ tác dụng,
nhiều người cho rằng bi gốm dùng để bắn chim vì giống như viên
đạn của ống xì đồng. Viên bi số hiệu 98PMH1L3-113 có màu hồng
nhạt, đất nung pha nhiều cát. Đk lớn nhất 2,2cm.
Những người trực tiếp khai quật cho rằng Phù Mỹ là một di
chỉ cư trú thuần nhất, tầng văn hóa được bảo quản tốt, chưa tìm thấy
dấu vết lò đúc, mộ táng. Về niên đại, di chỉ Phù Mỹ thuộc giai đoạn
đồng thau phát triển, trong khoảng 2700 – 2500 năm cách ngày nay.
Chủ nhân của Phù Mỹ là cư dân nông nghiệp, có thể kiêm nghề thủ
công chế tác đồ gốm.
1.3.2. Cuộc khai quật lần thứ hai (2006)
Cuộc khai quật lần này đào 4 hố ở các vò trí khác nhau nhưng
đòa tầng ở cả 4 hố có cấu tạo thống nhất.
loại hình công cụ khác thể hiện qua hình vật đúc trên mặt khuôn như
dùi có dáng hình trụ, dài, mũi nhọn; lao (chỉ còn trên khuôn phần
mũi) hình trụ tròn, nhọn đầu, đk khoảng 1,2cm. Các phác vật khuôn (6 tiêu bản), đa số đã đònh hình với tiết
diện hình chữ D, thường bò vỡ do đó không được sử dụng. Một số
tiêu bản đã gần hoàn chỉnh, chỉ còn qua công đoạn tạo hình vật đúc
là hoàn tất nhưng lại không sử dụng tiếp tục mà bò bỏ lại trong tầng
văn hóa.
Công cụ đá (12 tiêu bản), với nhiều loại hình khác nhau: đục,
dao (?), một số loại hình công cụ đá chưa rõ chức năng (2 tiêu bản)
có dáng gần giống rìu, phần lưỡi được mài tù, mép lưỡi thường mài
bằng. Có thể đây là công cụ dùng để mài trên một hiện vật phẳng,
do có các vết xước ngang đồng hướng trên phần lưỡi công cụ.
Bàn mài (2 tiêu bản) chất liệu sử dụng cũng là loại sa thạch
đỏ như loại sa thạch dùng để chế tạo khuôn đúc. Trên một bàn mài
có dấu vết mài của một công cụ dài, nhọn đầu, có thể là một mũi
dùi hay đục.
Đặc biệt lần đầu tiên phát hiện trong di chỉ Phù Mỹ một sưu
tập đồ trang sức bằng đá gồm 6 hạt chuỗi và 1 vòng tay. Trong đó
có 3 hạt chuỗi hình đốt trúc bằng đá cornelian, đk trung bình 2,0 –
2,5cm, dài 1,5 – 1,7cm, hạt chuỗi này được tạo dáng bằng cách mài
lõm nhẹ hai đoạn thân để tạo một ngấn nổi ở giữa giống hình hai
đốt trúc. Lỗ xuyên tâm được khoan từ hai đầu vào, một tiêu bản vết
khoan từ hai đầu chưa gặp nhau. Bề mặt ngoài hiện vật được đánh
bóng hoàn chỉnh. Hạt chuỗi thứ 4 cũng được chế tạo từ loại đá
cornalian có dáng hình trụ, mài thuôn nhỏ hai đầu để tạo một sống
nổi ở đoạn giữa thân, lỗ xuyên được khoan từ hai đầu, toàn thân
được đánh bóng. Hạt chuỗi thứ 5 hình trụ bằng đá nephrite màu
thuận. Nhóm bàn xoa có phần nấm lớn thường có độ cong lồi lớn
hơn nhóm bàn xoa có phần nấm nhỏ. Các bàn xoa gốm này thường
được làm từ chất liệu gốm thô (đất sét pha cát và một ít bả thực vật),
xương gốm thường có màu nâu xám hay nâu đen, độ cứng chắc
không cao lắm. Toàn bộ thân bàn xoa được phủ một lớp áo gốm
thường là màu xám vàng hay nâu gạch, lớp áo này dễ bong tróc, có
thể do chất liệu dùng để làm bàn xoa là gốm thô.
Loại hình dọi se chỉ phát hiện được 11 tiêu bản, đa số chúng
có tiết diện ngang hình thang, một số ít có tiết diện ngang hình chữ nhật. Có một lỗ soi xuyên tâm dọi, trên một số tiêu bản có hiện
tượng soi lệch tâm.
Ngoài ra còn thu được 6.246 mảnh gốm các loại, trong đó:
mảnh thân chiếm một tỷ lệ lớn với 4.839 mảnh, mảnh miệng có
1.264 mảnh, chân đế có 138 mảnh. Chất liệu đa số là gốm thô (đất
sét pha cát hạt to và bả thực vật) với 6.133 mảnh, xương gốm mòn
(đất sét pha cát mòn) thu được ít hơn, chỉ 113 mảnh. Phần nhiều là
những mảnh gốm có độ dày trung bình (3mm – 5mm) với 6.034
mảnh, loại gốm mỏng (< 0,3mm) ít hơn, chỉ 135 mảnh, loại gốm dày
rất ít với 77 mảnh. Lớp áo phủ bên ngoài có các màu xám vàng với
5.824 mảnh, màu nâu có 105 mảnh, màu đỏ có 164 mảnh, màu đen
có 153 mảnh. Xương gốm có các màu xám đen 3.502 mảnh, màu
xám trắng có 439 mảnh, màu nâu 1.617 mảnh, màu đen có 607
mảnh, màu đỏ có 81 mảnh. Phần lớn các mảnh gốm thu được để trơn
không có hoa văn trang trí với 6.197 mảnh, một số ít mảnh thân được
trang trí bằng văn chải với 49 mảnh.
Đồ đồng: 1 hiện vật. Phát hiện một rìu đồng trong hố khai
quật H4 mang ký hiệu 06PMH4C1L1: 93. Đây là một rìu đồng còn
tương đối nguyên vẹn nằm trong khu vực tập trung các khuôn đúc,
1.3.3. Cuộc khai quật lần thứ ba (2007)
Cuộc khai quật này có sự tham gia của cán bộ Viện Khảo cổ
học và Trường Đại học Đà Lạt, do Trần Văn Bảo phụ trách mở 2 hố
khai quật với tổng diện tích 75m
2
. Lần này cũng đào 4 hố thám sát,
kết quả đào các hố thám sát cho thấy chỉ có hố thám sát 1 và 4 là có
vết tích tầng văn hoá:
Hố thám sát 1, có toạ độ: 11
0
33’55’’ vó Bắc; 107
0
22’11’’ kinh
Đông trên đất nhà ông Trần Thế Nga (Thôn Ba, xã Phù Mỹ). Hố có
diện tích 4m
2
cách bờ sông Đồng Nai 30m. Hiện vật thu được gồm 1
rìu đá, 1 bàn xoa gốm ở độ sâu 120cm và một số mảnh gốm.
Hố thám sát 4, có toạ độ: 11
0
33’54’’ vó Bắc; 107
0
22’21’’ kinh
Đông trên khu đất của xưởng dệt Nam Phương. Hố có diện tích 4m
2
,
cách bờ sông 35,5m về phía bắc. Thu được 1 rìu tứ giác bằng đá, 3
mảnh đá nguyên liệu và một số mảnh gốm. Tại độ sâu 148cm xuất
hiện vật khảo cổ. Lớp dưới ở độ sâu 1,5 m là sinh thổ, đất sét màu
vàng, laterite nhẹ.
- Hiện vật thu được trong hai hố khai quật là 170 tiêu bản.
Trong đó đồ đá có 45 mảnh bàn mài; 6 mảnh khuôn đúc; 3 rìu tứ
giác và 1 phác vật rìu tứ giác; 11 mảnh tước có tu chỉnh. Đồ gốm có
64 bàn xoa; 7 dọi xe chỉ, 4 con kê, một số chân đèn, cốc, bát bồng,
núm gốm bò vỡ; cùng 9.478 mảnh gốm các loại.
+Đồ đá
Rìu và phác vật rìu: Hiện vật mang ký hiệu
07.PM.H2.L2.B6:1 là một chiếc rìu tứ giác được chế tác từ đá phiến,
tiêu bản được phủ một lớp patin màu vàng sáng. Phần đốc vát xéo,
hướng vát từ đốc xuống thân khoảng 45
o.
Phần rìa lưỡi được mài
nhẵn, rìa còn lại ít tác động, mặt cắt ngang của lưỡi hình thoi. Một
cạnh bên của tiêu bản có những vết ghè từ bên ngoài vào ở cả 2 mặt, chạy hết rìa cạnh. Cạnh đối diện cong tròn, hơi lõm ở gần phần
lưỡi. Mặt cắt ngang có hình bầu dục. Kích thước (kt) (cm): Dài 10,7
x rộng3,9 x dày2,5.
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L4.D8:2 là một rìu tứ giác,
chế tác từ đá basalte, có màu xám nhạt và đã được mài. Công cụ đã
bò gãy mất phần thân và lưỡi. Phần đầu chuôi nhỏ và lớn dần xuống
vai, trên phần chuôi còn lại vài vết ghè. Một cạnh bên của tiêu bản
có 2 vết ghè lõm vào thân, cạnh đối diện có 1 vết ghè nhẹ ở gần
vai. Mặt lưng cong lồi, tương đối nhẵn, mặt bụng phẳng và còn lại
những vết tu chỉnh nhỏ chiếm gần hết mặt bụng. Mặt cắt ngang hình
chữ D. Kt (cm): Dài 5,2 x rộng2,7 x dày1,3.
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L2.D2:3 là phác vật rìu tứ
hơn, mặt mài phẳng, hai diện mài giáp với nhau tạo thành một
đường sống nổi. Các mặt còn lại là những vết vỡ lớn. Kt (cm): Dài
7,7 x rộng 3,5 x dày 2,6.
Mảnh bàn mài mang ký hiệu 07.PM.H1.L3.B1:11 là đá
slhisete màu xám đen. Tiêu bản có hình khối chữ nhật, bốn mặt
tương đối phẳng. Mặt thứ nhất có những vết mài, ở diện này có ba
vết ghè lớn và một số vết ghè nhỏ hướng từ cạnh ngoài vào. Một
góc vát sâu vào thân ăn vát xuống cạnh bên kia, mặt đối diện chỉ có
những vết mài ở ¼ góc. Các mặt còn lại đều là vết mài, mặt cắt
ngang hình chữ nhật. Kt (cm): Dài 26,3 x rộng 9,9 x dày7,5.
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L2.D3:4 là mảnh bàn mài
đá slhisete, có màu xám vàng (bò vỡ làm hai do 1 vết cuốc bổ trong
khi khai quật nhưng đã phục chế được). Tiêu bản chỉ còn 1 diện mài,
mặt mài hình gần bầu dục, trên diện mài còn có vết mài rãnh tạo
khía hình chữ V, các mặt còn lại đã bò vỡ nên không xác đònh.
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L4.A3:136 là bàn mài phiến
có màu xám, bên ngoài được phủ một lớp patin. Hiện vật có một
diện mài, những vết mài rãnh còn để lại khá rõ trên bề mặt diện
mài. Các vết mài không thống nhất, vết dài nhất khoảng 5,0 cm, vết
ngắn nhất khoảng 2,5 cm. Kt đo được của cạnh trên là 6,7 cm, của
cạnh dưới là 4,4 cm. Các mặt còn lại đều bò vỡ. Mặt cắt ngang gần
hình chữ nhật. Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L2.C4:145 là một bàn mài
trong, đá basatle, bên ngoài phủ một lớp patin dày màu xám trắng.
Một đầu của bàn mài lớn (2,2 cm) và thuôn sang đầu còn lại (1,5
cm), toàn thân tiêu bản có vết mài và tương đối nhẵn. Mặt cắt ngang
thân hình gần tròn.
Về chất liệu, 22 bàn mài được phát hiện ở Phù Mỹ trong lần
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L5.C7:16 là đá sa thạch hạt
thô, lớp patin phủ loang lổ bên ngoài màu xám trắng. Tiêu bản có
dạng hình hộp chữ nhật khá vuông vắn. Một mặt của tiêu bản có
nhiều vết mài xéo ở ½ mặt theo chiều dọc.
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L5.B7:143 được làm từ đá
sa thạch hạt mòn có màu xám hơi ngả xanh, bên ngoài được phủ một
lớp patin màu xám trắng. Tiêu bản chỉ còn lại một phần có dạng
“múi bưởi” với một cạnh cong tròn. Một mặt của tiêu bản có nhiều
vết mài (xước), các vết xước nhỏ gần song song nhau, bề mặt tương
đối nhẵn, mặt còn lại nhẵn hơi bo tròn sang cạnh bên. Mặt cắt ngang
thân hình chữ D.
Khuôn đúc Phù Mỹ trong lần khai quật này đều được phát
hiện ở hố khai quật 2 gồm 6 mảnh. Đây là những mảnh khuôn đúc
phần lớn vỡ ra từ khuôn đúc 2 mang.
Hiện vật mang kí hiệu 07.PM.H2.L2.C6:17 được chế tác từ đá
sa thạch hạt mòn, màu hồng gạch, bên ngoài phủ lớp patin màu xám
vàng nhạt. Tiêu bản là mảnh vỡ của một khuôn đúc hai mang, mặt
lưng cong vồng, mặt giáp khuôn có dấu vết tạo gờ nổi hình vòng
cung. Thiết diện ngang thân hình chữ D. Kt (cm): Dài 5,2 x rộng 3,9
x dày 2,0.
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L2.C6:18 là một mảnh
khuôn đúc được chế tác từ đá sa thạch hạt mòn, xương đá màu nâu
nhạt, quanh thân phủ lớp patin màu xám hồng. Mặt lưng của mảnh
khuôn đúc được mài nhẵn, cạnh mài cong tròn. Mặt giáp khuôn
nhẵn, có dấu khắc của vật đúc. Thiết diện ngang thân hình chữ nhật.
Kt (cm): Dài 7,1 x rộng 4,7 x dày 2,7.
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L3.D7:19 là một mảnh
khuôn đúc mũi nhọn, được chế tác từ đá sa thạch hạt hơi thô, xương
đá màu nâu nhạt, bên ngoài phủ một lớp patin màu xám vàng. Mặt
còn lại là mặt giáp khuôn có đường rãnh nông (0,2 cm) chạy hơi xéo
có những vết lỗ chỗ do nghiền hạt (?), trên một rìa có vết ghè để tạo
thành dáng cong. Mặt cắt ngang thân gần hình thang. Kt (cm): Dài
14,2 x rộng 8,4 x dày 4,9.
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L3.A5:38 chất liệu đá sa
thạch, xương đá màu xám. Hiện vật bò gãy mất tay cầm, một cạnh
bên cũng đã bò vỡ, vết vỡ ăn sâu vào thân. Đầu chày nghiền cong tròn, mặt nghiền thô ráp do vết sử dụng để lại. Mặt cắt ngang thân
hình gần bầu dục. Kt (cm): 9,2 x 6,1 x 4,3
(Ảnh 3-4, tr. 88)
.
Công cụ cuội ghè đẽo: Hiện vật mang ký hiệu
07.PM.H1.L2.C8:13 được chế tác từ một viên cuội có hình bầu dục,
chất liệu đá basalte. Bên ngoài phủ một lớp patin màu xám trắng.
Tiêu bản được ghè đẽo tạo rìa lưỡi dọc kiểu Sơn Vi với ba vết ghè
lớn (dài khoảng 3 cm) và hai vết ghè nhỏ tu chỉnh tạo phần rìa lưỡi
sắc. Mặt đối diện chỉ có một vết ghè lớn ăn sâu vào thân nằm gần
phần đốc. Đốc công cụ ghè vát xéo. Trên một mặt có các vết ghè
nhỏ tu chỉnh. Kt (cm): Dài 13,3 x rộng 7,1 x dày 3,0
(Bản vẽ 12 tr. 80)
.
Công cụ mảnh tước: Hiện vật mang ký hiệu
07.PM.H2.L2.D7:39 là một công cụ mảnh tước đá opal, có màu
trắng đục và xám đen. Mặt lưng còn u ghè tạo thành sống cao. Mặt
bụng có một vết ghè lớn tạo rìa lưỡi sắc mỏng, hai rìa cạnh có vết
ghè tu chỉnh nhỏ. Diện ghè còn giữ được lớp vỏ opal, phần lưỡi vết
sử dụng mòn nhẵn và hơi cong lõm ở giữa, diện sử dụng dài 3,3 cm.
Kt (cm): Dài 5,3 x rộng3,0 x dày 0,4.
Hiện vật mang ký hiệu 07.PM.H2.L2.E6:40 là mảnh tước đá