Biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao
Đẳng Hải Dương
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay sự phồn vinh của mỗi quốc gia phụ thuộc lớn vào khả năng
học tập của mỗi cá nhân trong cộng đồng. Con người được giáo dục và tự giáo dục được
coi là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển xã hội.
Điều này lại càng được khẳng định khi chúng ta bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên
của nền văn minh trí tuệ, của khoa học kỹ thuật và công nghệ được xây dựng trên nền tảng
của tri thức.Vì vậy ngay từ bây giờ cần quan tâm đến chất lượng dạy và học, đăc biệt là
chất lượng học tập của học sinh - sinh viên, để mỗi cá nhân có thể thường xuyên rèn luyện
và học tập suốt đời. Như vậy mới có thể đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Trước những đòi hỏi mang tính khách quan của xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn
coi trọng công tác giáo dục và đào tạo, coi đó là điều kiện tiên quyết để thực hiện sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cụ thể tại nghi quyết Đại Hội X Đảng
Cộng sản Việt Nam đã khẳng định “ Đổi mới cơ bản cách dạy, cách học, phát huy tinh
thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn
thiện học vấn”. Tích cực, chủ động tạo ra ý chí và năng lực “ Học liên tục, học suốt đời”
<Luật Giáo dục Điều 40> nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ
học vấn, chuyên môn nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và thích
nghi với sự biến động không ngừng của xã hội.
Để thực hiện nhiệm vụ đó, trong quá trình dạy học các môn học ở nhà trường, bên
cạnh việc đổi mới nội dung, vận dụng các phương pháp dạy học mới thì cần bồi dưỡng cho
học sinh và sinh viên các kỹ năng học tập, mỗi suinh viên cần tự xây dưng kế hoạch học
tập cho mình, tìm được phương pháp học tập phù hợp để đạt được chất lượng học tập tôt
nhất.
Trong nhà trường sư phạm, Giáo dục học là môn khoa học quan trọng, giúp sinh
viên biết nhiệm vụ của người giáo viên, rèn luyện cho họ những kỹ năng sư phạm, hình
thành đạo đức và tình cảm nghề nghiệp. Song việc giảng dạy trong nhà trường sư phạm
còn nhiều bất cập như “ Nặng về lý thuyết nhẹ về thực hành, nặng về kiến thức nhẹ về kỹ
năng”.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ 1:
Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng học tập.
5.2 Nhiệm vụ 2:
Tìm hiểu thực trạng chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao Đẳng
Hải Dương.
5.3 Nhiệm vụ 3:
2
Biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao
Đẳng Hải Dương
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học của
sinh viên Cao đẳng Hải Dương.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ trên đề tài chọn phương pháp nghiên cứu sau:
6.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận.
Bằng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết như: phân tích và tổng hợp lý thuyết;
phân loại hệ thống hóa lý thuyết; thông qua việc nghiên cứu tài liệu lý thuyết đã thu thập
được từ các nguồn khác nhau nhằm tìm hiểu một số vấn đề lý thuyết về: hoạt động học tập;
mục tiêu môn học; chất lượng; chất lượng học tập để làm cơ sở cho việc nghiên cứu lý luận
cho đề tài.
6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
6.2.1 Phương pháp điều tra trong giáo dục
Cần phải chú ý: ngoài việc xem xét kết quả học tập qua bảng điểm, qua phiếu điều
tra, để đo thực trạng chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao Đẳng Hải
Dương một cách khách quan với độ chính xác cao ở những mức độ khác nhau, chúng tôi
xem xét thực trạng chất lượng học tập môn Giáo dục học tìm ra một số yếu tố ảnh hưởng
đến chất lượng học tập môn Giáo dục học và tìm ra một số biện pháp nâng cao chất lượng
học tập môn Giáo dục học.
Dự giờ, theo dõi diễn biến quá trình học tập trên lớp, ngoài giờ lên lớp, trong các
kỳ kiểm tra, thi hết môn nhằm thu thập những thông tin về chất lượng học tập bộ môn Giáo
khảo các luận văn, tài liệu có liên quan.
29/12/2010 đến 10/01/2011 Xây dựng đề cương chi tiết và hoàn thiện.
11/01/2011 Bảo vệ đề cương
12/01/2011 đến 15/02/2011 Xây dựng phiếu hỏi và tiến hành khảo sát
16/02/2011 đến 2/03/2011 Phân tích, đánh giá thực trạng.
3/03/2011 đến 15/03/2011 Nghiên cứu, đề xuất các biện pháp.
16/03/2011 đến 30/04/2011 Viết báo cáo cho toàn khóa luận.
8. Cấu trúc luận văn.
Luận văn gồm có 3 phần:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Thực trạng chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao đẳng Hải
Dương.
Chương 3: Đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên
Cao đẳng Hải Dương.
4
Biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao
Đẳng Hải Dương
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề nâng cao chất lượng học tập.
Học tập không chỉ có ý nghĩa quyết định tới cuộc sống mỗi chúng ta, con cái chúng
ta mà nó còn ảnh hưởng tới thực tại, tương lai của đất nước. Chúng ta ngày càng phải suy
nghĩ sâu sắc hơn về điều này khi bước vào thế kỷ mới, mà Nhật Bản là một ví dụ điển
hình. Nhật bản – đất nước trở thành “nền kinh tế thần kỳ” nhờ vào chính sách giáo dục
đúng đắn từ những năm 1960. Thế mà khi bước vào thế kỷ 21 họ cũng phải “ giật mình”
xem lại vấn đề giáo dục – học tập của đất nước mình. Trước những băn khoăn lo lắng
không phải là nhỏ khi người Nhật bản đã nhận ra rằng chất lượng trí tuệ của lớp trẻ cần
được điều chỉnh, nâng cao hơn nữa bởi đó là nguyên nhân chính làm cho nền kinh tế nước
Nhật trở nên mất dần khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới trong một vài năm trở lại
đây. Đó là một vài dấu hiệu của cuộc cách mạng trong việc dạy và học ở thế kỷ 21, cuộc
giáo viên phải dạy ra sao để người học nắm bắt được tri thức một cách nhanh chóng được
đặt ra cho các nhà giáo dục lớn như: Rabơle, Môngtennhơ, J.A Coomenxki, J.J Rutxơ;
Macarencô, Usinxki…Thì ở phương Đông người ta cũng rất chú ý đến việc nâng cao chất
lượng dạy học. Ở phương Đông cũng có rất nhiều nhà giáo dục tiêu biểu, nhưng có một
nhà giáo dục vĩ đại nhất tiêu biểu nhất mà chúng ta không thể không nhắc đến đó là Khổng
Tử (551 – 479). Khổng Tử đã khẳng định rằng: để nâng cao chất lượng học tập cho học
sinh trong quá trình dạy học người giáo viên phải quan tâm đến một số phương pháp dạy
học như: phương pháp thân giáo, phương pháp dạy học gắn liền với thực tiễn; phương
pháp dạy học phù hợp với đối tượng. Và cũng theo ông: trong học tập người học muốn
nắm được tri thức nâng cao hơn nữa chất lượng học tập của mình thì họ cần phải có phẩm
chất sau: nhẫn nại với việc học; khiêm tốn cầu thị; tích cực chủ động trong học tập; sáng
tạo trong học tập; học tập phải thường xuyên ôn luyện củng cố; học phải kết hợp với suy
nghĩ.
Ngày nay đứng trước ngưỡng cửa của thế kỷ 21 với biết bao nhiêu biến động to lớn
của thời đại, không ai trong chúng ta lại không khẳng định được vai trò to lớn mà giáo dục
đem lại. Và cũng chính vì thế mà câu hỏi làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục, dạy
học được quan tâm hơn bao giờ hết. Đã có hàng nghìn các công trình lớn, nhỏ khác nhau
nghiên cứu về vấn đề: Làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng
học tập nói riêng ở mọi khía cạnh khác nhau.
- Có tác giả thì đi sâu vào nghiên cứu việc nâng cao chất lượng học tập ở các môn
học khác nhau như công trình của:
+ A. Z Retcô trong luận án thạc sĩ bảo vệ năm 1950 với đề tài: “Nâng cao chất
lượng học tập môn lịch sử lớp 6 và lớp 7”.
6
Biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao
Đẳng Hải Dương
+ A. T Richart với đề tài nghiên cứu “Việc nâng cao chất lượng học tập môn
Toán trong nhà trường Phổ thông” vào năm 1971.
- Một số công trình khác lại đi nghiên cứu cách thức, biện pháp để nâng cao hơn
nữa chất lượng học tập như:
Đẳng Hải Dương
phương pháp chủ yếu là cấu trúc lại giờ học, biến đổi phương pháp giáo dục theo tinh thần
từ hoạt động vật chất dẫn tới hoạt động tinh thần để lĩnh hội khái niệm giúp quá trình học
tập môn học được tốt hơn.
- Năm 1976 đến năm 1978: Cùng với nhóm nghiên cứu của Trường Đại Học Sư
Phạm Hà Nội tác giả Đàm Ngọc Chương đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hướng dẫn
sinh viên ôn tập hệ thống tri thức cơ bản toàn bộ chương trình giáo dục bằng sơ đồ
Logic”.
- Năm 1980: Luận văn Thạc sĩ sinh học của Nguyễn Thị Thanh Vân với đề tài:
“Dạy học sinh phương pháp học tập bộ môn Sinh vật lớp 9”.
Trong những năm gần đây cán bộ và sinh viên khoa Tâm lý giáo dục cũng đã trình
bày vấn đề này qua rất nhiều các đề tài nghiên cứu như:
- Năm 1991: Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Văn Huệ giảng viên khoa Tâm lý giáo dục có bài
nghiên cứu “Nâng cao chất lượng giảng dạy Tâm lý học” . Báo Nghiên cứu giáo dục
năm 1991, số 3.
- Năm 1999: Tác giả Bùi Quang Huy luận văn tiến sĩ với đề tài “Tổ chức thảo
luận nhóm trong quá trình dạy học môn Giáo dục học cho sinh viên Cao đẳng sư
phạm Lai Châu”.
- Năm 2001: Trần Văn Khanh nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp nâng cao
chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh Trung học phổ thông ở Thành Phố Hải
Phòng”.
Và còn rất nhiều nghiên cứu của các tác giả khác nhau.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề nâng cao chất lượng
giáo dục nói chung và chất lượng giảng dạy và học tập nói riêng một cách khá sâu rộng
như: thực trạng chất lượng giảng dạy và học tập; các yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao
chất lượng; các biện pháp nâng cao chất lượng…Các công trình nghiên cứu biện pháp nâng
cao chất lượng học tập được xem xét ở nhiều môn học khác nhau, ở các cấp học khác nhau
như: môn Toán, Lý, Sinh học, Anh văn… ở cấp I, cấp II, cấp III và ở các trường Đại học,
Cao đẳng…Song cho đến hiện nay chúng tôi chưa thấy một công trình nào nghiên cứu về
các biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên. Bởi vậy, trong
sinh trong quá trình dạy học được sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của giáo viên với những
điều kiện sư phạm nhất định nên nó có tính chất đặc biệt. Tính chất đặc biệt đó được thể
hiện ở chỗ:
- Quá trình nhận thức của học sinh không diễn ra theo con đường mò mẫm, thử và
sai như quá trình nhận thức chung của loài người, mà diễn ra theo con đường được khám
phá, được những nhà xây dựng nội dung dạy học và người giáo viên gia công vào.
9
Biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao
Đẳng Hải Dương
- Quá trình nhận thức của học sinh không phải là quá trình tìm ra cái mới cho nhân
loại mà chỉ là sự tái tạo những tri thức của loài người đã tạo ra, nên họ nhận thức cái mới
rút ra từ kho tàng tri thức chung của loài người đối với bản thân họ còn là mới mẻ.
- Trong một thời gian tương đối ngắn, người học sinh có thể lĩnh hội khối tri thức
rất lớn một cách thuận lợi. Chính vì vậy mà trong quá trình học tập của học sinh phải tiến
hành củng cố, tập vận dụng, kiểm tra, đánh giá, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhằm biến chúng
thành tài sản của bản thân.
Trong quá trình nhận thức của học sinh phải quan tâm phát triển năng lực nhận thức
và tiến hành giáo dục cho họ.
Trong quá trình dạy học cần phải chú ý tới tính đặc biệt đó trong quá trình nhận
thức của học sinh để tránh sự đồng nhất quá trình nhận thức chung của loài người với quá
trình nhận thức của học sinh. Song, không vì quá coi trọng tính đặc biệt đó mà thiếu quan
tâm đến việc tổ chức cho học sinh dần dần tìm hiểu và tập tham gia các hoạt động tìm tòi
khoa học một cách vừa sức, nâng cao dần để chuẩn bị cho họ tự khai thác tri thức, tham gia
nghiên cứu khoa học trong tương lai.
Học như là một hoạt động nó bao gồm những thành phần sau:
Thành phần động cơ: bao gồm trong đó nhu cầu, hứng thú, động cơ, nghĩa là tất cả
cái gì đảm bảo thu hút học sinh vào quá trình học tập tích cực và duy trì tính tích cực đó
trong tất cả những giai đoạn nhận thức học tập.
Thành phần định hướng: Bao gồm trong đó việc học sinh ý thức được những mục
đích hoạt động nhận thức, học tập, lập kế hoạch dự đoán được hoạt động đó.
điều đó, họ không có ý định suy ngẫm mối liên hệ điều thấy được, nghe được với những
điều họ đã biết và tìm ra những dấu hiệu mới sau này. Hiện tượng tính tích cực và trạng
thái hoạt động về bề ngoài có thể giống nhau, nhưng khác nhau về bản chất.
Tùy theo việc huy động chủ yếu những chức năng tâm lý nào và mức độ huy động
những chức năng tâm lý đó thì người ta phân ra ba loại tính tích cực:
- Tính tích cực tái hiện, bắt chước: Tính tích cực chủ yếu dựa vào trí nhớ và tư duy
tái hiện.
- Tính tích cực tìm tòi: Đó là tính tích cực được đặc trưng bởi sự bình phẩm, phê
phán, tìm tòi tích cực về mặt nhận thức, óc sáng kiến, lòng khát khao hiểu biết, hứng thú
học tập. Tính tích cực đó không bị hạn chế bởi những yêu cầu của giáo viên.
- Tính tích cực sáng tạo: Là mức độ cao nhất của tính tích cực. Nó đặc trưng bằng
sự khẳng định con đường, cách suy luận riêng của mình không giống với con đường mà
mọi người đã thừa nhận.
1.2.2.2. Tính tự lực nhận thức
11
Biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao
Đẳng Hải Dương
Tính tự lực nhận thức là hạt nhân của tính tự lập, tính độc lập trong nhận thức.
Tìm hiểu theo nghĩa rộng, tính tự lực nhận thức là sự sẵn sàng về mặt tâm lý cho sự
tự học. Sự chuẩn bị về mắt tâm lý cho sự tự học thường được biểu hiện ở việc:
- Người học ý thức được nhu cầu học tập của mình, ý thức được yêu cầu của xã hội,
của tập thể hoặc nhiệm vụ do người khác đề ra với việc học tập của mình.
- Người học ý thức được mục đích học tập là gì và thực hiện được mục đích đó sẽ
làm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của mình.
- Người học luôn suy nghĩ kỹ và đánh giá đúng những điều kiện hoạt động học tập
của mình, tích cực hóa kiến thức, kinh nghiệm đã tích lũy được có liên quan tới việc giải
quyết nhiệm vụ và yêu cầu học tập.
- Dự đoán trước những diễn biến của quá trình trí tuệ, cảm xúc, động cơ, ý chí của
mình, đánh giá đúng mối tương quan giữa khả năng, nguyện vọng và sự cần thiết phải đạt
được kết quả học tập nhất định.
N
T
H
Ứ
C
Năng lực
học tập
Động cơ
nhận thức
Hành
động ý
chí
Tổ chức
học tập
Hứng thú nhận thức
Động cơ có TCXH
Thế giới quan
Nhu cầu hiểu biết
Tri thức, KN, KX làm cơ sở
Sự PT trí tuệ, PP suy nghĩ
PP lao động
Tự kiểm tra
KN tổ chức lao động
KN lập kế hoạch
Tính mục đích
Tính kiên trì hoàn thành nhiệm
vụ
Tinh thần khắc phục KK HT
nhiệm vụ
“giáo viên giữ vai trò quyết định trong quá trình dạy học và đặc trưng trong việc định
hướng giáo dục…không một hệ thống giáo dục nào có thể vươn cao quá tầm những giáo
viên làm việc trong hệ thống đó…Người giáo viên không chỉ là người truyền đạt, thông
báo những tri thức rời rạc, mà còn là người lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận
14
Biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao
Đẳng Hải Dương
thức – học tập của người học sinh, người hướng dẫn, người cố vấn, người mẫu mực của
người học.”
(Raja Roy Singh Nền giáo dục cho thế kỷ XXI. Những triển vọng Châu Á – Thái
Bình Dương – UNESCO Hà Nội 1994, trang 115)
Để đạt được điều đó, người giáo viên phải năng động hơn, do hoạt động dạy ngày
càng đa dạng phức tạp và khó khăn hơn nhiều. Người giáo viên nếu thiếu tình cảm nghề
nghiệp, tình cảm đối với học sinh, thiếu tri thức sâu và mở rộng, thiếu kỹ năng sư phạm thì
họ không thể hoàn thành được nhiệm vụ cao cả đó. Và trong quá trình này, quá trình dạy
của giáo viên và quá trình học của học sinh liên hệ với nhau, tác động lẫn nhau. Nếu thiếu
một trong hai quá trình đó thì quá trình dạy học không diễn ra.
1.3. Chất lượng học tập môn Giáo dục học trong trường Đại học, Cao đẳng.
1.3.1. Khái niệm chất lượng, chất lượng học tập.
1.3.1.1 Chất lượng.
Chất lượng là một khái niệm quen thuộc với tất cả mọi người, tuy nhiên quan niệm
về chất lượng lại rất đa dạng và thậm chí vẫn còn nhiều tranh cãi. Tuy nhiên chúng ta đều
có thể khẳng định được rằng: Khái niệm chất lượng luôn gắn với một sản phẩm nhất định.
Chất lượng là yếu tố khách quan, là mục tiêu phấn đấu là cái hướng tới của hoạt
động lao động. Chất lượng tồn tại khách quan, nó là thuộc tính vốn có tạo nên giá trị sự
vật, nó tồn tại độc lập với ý muốn của con người. Chất lượng sản phẩm của một sản phẩm
luôn biến đổi theo thời gian, trình độ phát triển và nhu cầu cuộc sống. Khái niệm chất
lượng của một sản phẩm không phải là một khái niệm bất biến mà là khái niệm biến đổi
thường xuyên cho nên trong sản xuất chất lượng là yếu tố cạnh tranh sống còn của sản
xuất. Mọi quốc gia, mọi nhà sản xuất, mọi người, mọi thời đại đều hướng tới chất lượng và
Tiêu chí đánh giá chất lượng học tập môn học của sinh viên trong quá trình dạy học
được xem xét đối chiếu với mục tiêu môn học đề ra. Cụ thể tiêu chí biểu hiện chất lượng
học tập môn học được đánh giá bằng nguồn tri thức, kỹ năng và thái độ được hình thành ở
người học.
Để xác định được nguồn tri thức, kỹ năng và thái độ đã được hình thành ở người
học trong quá trình học tập như thế nào thì chúng ta phải kiểm tra đánh giá được kết quả
học tập của sinh viên - đây là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học. Bởi:
Đối với sinh viên nhân vật trung tâm của quá trình dạy học kiểm tra ,đánh giá có
tác dụng thúc đẩy học tập phát triển không ngừng. Qua kết quả kiểm tra sinh viên đánh giá
mức độ chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng so với yêu cầu mục tiêu đề ra của môn học và tự mình
ôn tập, củng cố, bổ sung hoàn thiện học vấn bằng phương pháp tự học với hệ thống các
phương pháp tư duy của mình. Đối với giảng viên thì kết quả kiểm tra đánh giá chẳng
16
Biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao
Đẳng Hải Dương
những phản ánh thành tích học tập của sinh viên mà qua đó mỗi giảng viên tự đánh giá vốn
tri thức trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm, nhân cách và uy tín của mình với học
sinh. Trên cơ sở đó không ngừng nâng cao và hoàn thiện trình độ chuyên môn và trình độ
sư phạm.
Để kiểm tra việc thực hiện mục tiêu môn học của sinh viên có nhiều hình thức kiểm
tra khác nhau: Kiểm tra viết, kiểm tra vấn đáp, kiểm tra thực hành, các test…
Việc đánh giá cần được tiến hành theo những tiêu chí thống nhất trên cả ba mặt:
1.3.2.1. Về tri thức
Mục tiêu học tập không thể thiếu được của tất cả môn học đó là tri thức.
Thiếu tri thức tức là thiếu cơ sở để tư duy, để hình thành thế giới quan khoa học và do đó
thiếu phương pháp luận đúng dắn trong hoạt động nhận thức và thực hành. Điều đó có
nghĩa là, nếu thiếu tri thức thì hành động sẽ thiếu phương hướng. Song, tri thức loài người
tích lũy được vô cùng phong phú còn từng người trong cuộc đời của mình không thể nắm
bắt được tất cả tri thức đó mà chỉ có thể nắm được một bộ phận mà thôi. Vì vậy, điều quan
trọng làm sao bộ phận tri thức đó phải bao gồm những lĩnh vực khác nhau, là cơ sở của
việc làm.
1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng và đảm bảo đến chất lượng giáo dục môn Giáo
dục học.
1.3.3.1. Kế hoạch dạy học
Kế hoạch dạy học là văn kiện do Nhà nước ban hành trong đó qui định các môn
học; trình tự dạy các môn học qua từng năm học; việc tổ chức năm học (số tuần thực học,
số tuần lao động và nghỉ, chế độ học tập hành tuần, hàng ngày).
Với cách hiểu trên về kế hoạch dạy học, có thể nhận thấy những yếu tố cơ bản tròn
một kế hoạch dạy học: 1. Quan hệ giữa thành phần các môn học với thành phần lớp học
(môn học được dạy ở lớp học nào và từng lớp học cụ thể sẽ phải học những môn học nào).
2. Quan hệ giữa các thành phần môn học với phân bố thời gian (thời lượng dành cho mỗi
môn và thời lượng học từng môn trong từng lớp theo ngày, tuần và năm học). 3.Cấu trúc
và thời gian dạy học (thời lượng chung của năm học theo bậc học, khối lớp và thời lượng
của tuần học, ngày học, tiết học).
Kế hoạch dạy học ở từng cấp học và bậc học khác nhau. Sự khác biệt trong kế
hoạch dạy học được thể hiện ở một số khía cạnh sau:
- Số lượng các môn học được xác định trong từng kế hoạch dạy học.
- Do mối quan hệ liên môn, do đặc điểm các bộ môn và đặc điểm nhận thức của
học sinh cũng như yêu cầu cân đối về số tiết hàng tuần ở các lớp nên trong kế hoạc dạy học
việc bố trí các môn học cũng khác nhau. Có môn được học từ đầu cấp, bậc học, nhưng
cũng có môn được thực hiện ở các khối lớp xác định theo cấp bậc học…
18
Biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao
Đẳng Hải Dương
- Số tiết dành cho mỗi môn học cũng khác nhau ở từng khối lớp thuộc cấp, bậc học
khác nhau.
Giáo viên khi thực hiện nhiệm vụ dạy học của mình buộc phải nghiên cứu kế hoạch
dạy học để hiểu chương trình dạy học môn học, từ đó lập kế hoạch dạy học của cá nhân.
Sinh viên sư phạm phải hình thành kỹ năng nghiên cứu kế hoạch của cấp, bậc học trong
chương trình nghiên cứu môn Giáo học pháp bộ môn.
- Sách giáo khoa phải kích thích sự suy nghĩ, mở rộng tầm hiểu biết cho học sinh.
Do đó, cần nêu lên những vấn đề, những hiện tượng trong đời sống đòi hỏi phải vận dụng
tri thức trong sách giáo khoa và tri thức đã biết để giải quyết.
- Ngôn ngữ phải rõ ràng, dễ hiểu, gọn và chính xác.
- Đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh và thẩm mỹ. Hình thức sách giáo khoa phải đẹp,
phải trình bày hấp dẫn, sử dụng khổ chữ thích hợp với đặc điểm tri giác của học sinh.
Những kiến thức trọng tâm phải có sự nhấn mạnh bởi các kĩ thuật khác nhau để tập trung
được sự chú ý của học sinh.
1.3.3.3. Yếu tố người học.
- Thái độ của người học đối với việc học tập các môn học.
Thái độ học tập tích cực hay không tích cực ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập. nếu
người học có thái độ đứng đắn đối với việc học tập thì chắc chắn kết quả học tập sẽ cao
hơn.
Theo quan điểm của các nhà sư phạm thì: Động cơ học tập đúng đắn sẽ tạo ra ở
người học thái độ đúng, việc xây dựng động cơ học tập trở thành nét nhân cách bền vững
của người học là điều không thể thiếu trong từng giờ giảng, từng môn học. Một câu hỏi lớn
được đặt ra là: Động cơ học tập nào là động cơ học tập tối ưu đối với học tập.
Chúng ta biết rằng: Học tập được thúc đẩy được hai loại động cơ: Loại động cơ
hoàn thiện trí thức và loại động cơ quan hệ xã hội.
Thuộc về động cơ quan hệ xã hội, học sinh học tập bởi sự lôi cuốn hấp dẫn của
những cái khác ngoài mục đích trực tiếp của việc học như: Vì một lời khen; sợ bị trách
phạt; để được một phần thưởng vật chất nào đó; làm vui lòng cha mẹ; thích được sự khâm
phục của bạn bè… Ở đây những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ hành vi không phải là
mục đích mà chỉ là phương tiện để đạt được những điều mong muốn, hoàn thiện những
mối quan hệ cá nhân. Loại động cơ này ở mức độ nào đó mang tính chất cưỡng bức, tạo ra
ở người học sự căng thẳng về mặt tâm lý… để xảy ra hiện tượng tiêu cực trong xã hội.
Loại động cơ xuất phát từ lòng khao khát, mong muốn, hiểu biết bị lôi cuốn, say
mê bởi chính quá trình giải quyết nhiệm vụ học tập. Mỗi lần dành được cái mới ở đối
tượng học thì các em cảm thấy nguyện vọng hoàn thiện tri thức được thỏa mãn một phần.
Người ta gọi loại động cơ học tập này là động cơ hoàn thiện tri thức. Loại động cơ này
của họ. Thường thì những khái niệm nào quen thuộc với kinh nghiệm đã có thì người học
dễ lĩnh hội hơn, tạo điều kiện tốt hơn cho người học. Còn những khái niệm hoàn toàn mới
so với kinh nghiệm của người học thì việc lĩnh hội nó sẽ vất vả. Trong quá trình học tập ở
mỗi cá nhân sẽ đạt kết quả khác nhau, bởi sự tham gia của hệ thống kinh nghiệm của cá
21
Biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao
Đẳng Hải Dương
nhân là khác nhau. Có thể nói vốn tri thức và kinh nghiệm cá nhân của người học là
phương tiện cơ bản của việc học tập.
1.3.3.4. Yếu tố giáo viên.
Dạy học là hoạt động của người lớn tổ chức điều khiển hoạt động của trẻ nhằm
giúp họ lĩnh hội nền văn hóa, xã hội tạo nên sự phát triển tâm lý, hình thành nhân cách.
Trong quá trình lĩnh hội nền văn hóa nhân loại, người học không phải tự mình tiến hành
được mà nhất định phải có sự tổ chức điều khiển của giáo viên. Trong hoạt động dạy người
giáo viên đóng vai trò chủ thể với chức năng nhằm tái tạo lại trí thức cho người học. Người
giáo viên phải sử dụng tri thức mà mình đã có như một phương tiện, vật liệu để tổ chức,
điều khiển người học lĩnh hội được tri thức của loài người cho chính bản thân mình.
Như vậy, khi tiến hành hoạt động dạy giáo viên không chỉ nhằm phát triển chính
mình mà còn nhằm phát triển học sinh, có nghĩa giáo viên là người tổ chức tái tạo nền văn
hóa xã hội nhằm tạo ra cái mới cho người học. Để thực hiện đúng mục đích đó thì việc lựa
chọn phương pháp của thầy có ý nghĩa quyết định đối với việc lĩnh hội tri thức, việc học
tập của người học. Yếu tố dạy học của người giáo viên cũng là yếu tố hết sức quan trọng
góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng học tập của người học.
Muốn nâng cao hơn nữa chất lượng học tập môn Giáo dục học thì người giảng viên
giảng dạy bộ môn cũng phải có: trình độ chuyên môn nhất định; có năng lực sư phạm và
phải có các phẩm chất của người thầy giáo.
1.3.3.5. Cơ sở vật chất đảm bảo nâng cao chất lượng học tập môn học.
Quá trình học tập của người học được diễn ra trong điều kiện nhất định và bị chi
phối bởi các yếu tố, điều kiện, phương tiện, kỹ thuật dạy học. Trong giai đoạn hiện nay,
khi mà sự bùng nổ thông tin, sự tiến bộ của khoa học công nghệ làm cho hoạt động dạy
giáo dục và quản lý trường học.
- Hệ thống những kỹ năng sư phạm: gồm kỹ năng dạy học, kỹ năng giáo dục, kỹ
năng giao tiếp, kỹ năng tổ chức các hoạt động xã hội, kỹ năng nghiên cứu khoa học.
- Hệ thống những kỹ năng kinh nghiệm hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực nghề
nghiệp.
- Hệ thống chuẩn mực về phẩm chất và thái độ cần thiết của người thầy.
23
Biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao
Đẳng Hải Dương
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nhận thức được mặt lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng học tập giúp chúng ta
không chỉ thấy được vai trò và tầm quan trọng ảnh hưởng đến sự nghiệp giáo dục và đào
tạo mà nó còn ảnh hưởng tới cuộc sông và sự phát triển của xã hội loài người. Các tác giả
trong nước cũng như các tác giả nước ngoài đều nghiên cứu rất thành công, đem lại nhiều
biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học. Ngoài ra hoạt động học và hoạt động dạy trong
quá trình dạy học là nhân tố quan trọng ảnh hưởng và quyết định đến chất lượng học tập
của sinh viên. Để có thể đi nghiên cứu, tìm hiểu được một vấn đề thì cơ sở lý luận của vấn
đề đó rất quan trọng và cần được làm rõ. Đặc biệt là vấn đề nghiên cứu chất lượng học tập
môn học, từ cơ sở lý luận sẽ làm nền tảng để nghiên cứu thực trạng và đưa ra giải pháp một
cách hiệu quả.
CHƯƠNG 2
24
Biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao
Đẳng Hải Dương
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC HỌC CỦA SINH
VIÊN CAO ĐẲNG HẢI DƯƠNG
2.1. Tình hình chung
2.1.1. Vài nét về trường Cao đẳng Hải Dương.
Lịch sử truyền thống: Trường Cao đẳng Hải dương được thành lập từ năm 1960.
Năm 1978, Thủ tướng chính phủ ký quyết định số 164/TTg nâng cấp lên thành trường Sư