Một số kinh nghiệm giúp học sinh Tiếp nhận và cảm thụ Truyện Kiều từ góc độ Thi pháp học trong trường THPT - Pdf 28

Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
MỞ ĐẦU
1- Lý do chọn đề tài
1. Thi pháp học là bộ môn khoa học xuất hiện từ thời Hy Lạp cổ đại, gắn
liền với tên tuổi của Aristote và cuốn Nghệ thuật thi ca của ông. Thi pháp học là
bộ môn lâu đời nhất nghiên cứu văn học. Nhưng phải đến đầu thế kỷ XX, nó
mới thực sự trở thành một môn khoa học được nhiều người biết đến. Thi pháp
học nghiên cứu hệ thống các phương thức, phương tiện biểu hiện đời sống bằng
hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học. “Thi pháp học giúp ta công cụ để
thâm nhập vào cấu trúc tác phẩm, cốt cách tư duy của tác giả cũng như nắm
bắt mã văn hóa nghệ thuật của các tác giả và các thời kì văn học nghệ thuật, từ
đó nâng cao năng lực cảm thụ tác phẩm” [Từ điển thuật ngữ văn học, tr 251]. Ở
Việt Nam, vấn đề Thi pháp học không còn mới mẻ nhất là sau thời kì đổi mới
văn học năm 1986. Thi pháp học được nghiên cứu, giảng dạy ở bậc Cao học,
Đại học và có mặt trong tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên trung học.
Thi pháp học được vận dụng trong bài giảng của giáo viên, bài làm văn của học
sinh và trở thành một hướng đi hiệu quả nhằm khám phá, tiếp nhận tác phẩm
văn học.
2. Truyện Kiều mang lại niềm tự hào cho nền văn học Việt Nam. Đó là tác
phẩm kết tinh vẻ đẹp của ngôn ngữ và tâm hồn dân tộc. Truyện Kiều là tuyệt
đỉnh văn chương trải qua thời gian vẫn vẹn nguyên tiếng kêu thiết tha về giá trị
nhân văn đích thực trong cuộc sống. Trong chương trình ngữ văn 10, Truyện
Kiều là tác phẩm có thời lượng tìm hiểu khá lớn. Tổng số tiết học về Truyện
Kiều là 5 tiết, có 4 đoạn trích được giới thiệu trong đó có 2 đoạn trích giảng.
3. Trong thực tế, học sinh phổ thông gặp khó khăn trong việc tiếp thu văn
học trung đại nói chung và Truyện Kiều nói riêng. Theo tìm hiểu của chúng tôi
đa số học sinh lớp 10 cho rằng học Truyện Kiều khó, không hấp dẫn và chưa đọc
toàn bộ tác phẩm nhưng các em lại khẳng định rằng Truyện Kiều là kiệt tác văn
học của dân tộc. Điều đó cho thấy các em còn mới đánh giá theo cảm tính mà
hạn chế trong tiếp nhận tác phẩm văn học nói chung và Truyện Kiều nói riêng.
Tiếp nhận tác phẩm văn học trung đại có nhiều khó khăn với các em bởi khoảng

3- Đối tượng nghiên cứu
Khảo sát các vấn đề về Thi pháp Truyện Kiều, hướng tới vận dụng vào
việc đổi mới phương pháp dạy học qua bài giảng cụ thể.
4- Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, người viết chỉ đi sâu khai thác Truyện Kiều ở góc độ Thi
pháp học. Đồng thời đưa ra hướng vận dụng và kết quả đạt được sau khi tiếp
nhận đoạn trích Trao duyên theo hướng này.
5- Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm sáng tỏ vấn đề Thi pháp Truyện Kiều và đánh giá kết quả việc vận
dụng Thi pháp trong thực tiễn giảng dạy đoạn trích Trao duyên.
6- Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tác phẩm
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp thực nghiệm
- Vận dụng hướng nghiên cứu Thi pháp học, ngôn ngữ học
7- Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 8/2011 đến tháng 2/ 2012
3
NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài
1.1. Đổi mới phương pháp dạy học nói chung và dạy học môn văn nói riêng
đang là vấn đề cấp thiết nhằm hướng tới khẳng định vai trò năng động, sáng tạo
của học sinh như một bạn đọc đích thực; phát huy vai trò chủ thể của học sinh
trong quá trình học văn. Đây cũng là nguyên tắc đổi mới phương pháp dạy học.
Bởi lẽ, không có sự vận động của bản thân chủ thể thì mọi hoạt động của giáo
viên trở nên áp đặt. Những năng lực chủ quan của học sinh có được phát huy thì
việc chiếm lĩnh tri thức, thưởng thức tác phẩm, hình thành phẩm chất, nhân
cách…mới thực sự có hiệu quả. Như vậy, việc giúp các em có một phương pháp
tiếp nhận tác phẩm phù hợp hiệu quả là hạt nhân của quá trình đổi mới phương

Như vậy, có thể hiểu Thi pháp học là cách thức phân tích tác phẩm bám vào
văn bản là chính, không chú trọng đến những vấn đề nằm ngoài văn bản như tiểu
sử nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật, giá trị hiện thực, tác dụng
xã hội… Thi pháp học chú ý đến yếu tố hình thức tác phẩm như hình tượng
nhân vật; không gian - thời gian; kết cấu - cốt truyện; điểm nhìn nghệ thuật;
ngôn ngữ; thể loại… Nội dung trong tác phẩm phải được suy ra từ hình thức, đó
là “hình thức mang tính quan niệm” (Trần Đình Sử). Phương pháp chủ yếu của
Thi pháp học là phương pháp hình thức. Chúng ta hiểu, “Phương pháp hình
thức là phương pháp phân tích các khía cạnh hình thức của tác phẩm văn học
nghệ thuật để rút ra ý nghĩa thẩm mỹ của nó” (Nguyễn Văn Dân). Theo tôi, để
đạt được hiệu quả tốt nhất trong giờ học, nên kết hợp nhiều phương pháp, khai
thác thế mạnh của chúng. Dạy văn theo hướng Thi pháp học là phân tích hình
thức nghệ thuật tác phẩm từ đó khám phá các phương diện khác nhau của tác
5
phẩm. Với đề tài này, người viết đi sâu khai thác, tiếp nhận Truyện Kiều của
Nguyễn Du từ góc độ Thi pháp học trên những phương diện sau: thể loại, tư
tưởng, nhân vật, cách kể chuyện, cái nhìn nghệ thuật về con người, không gian,
thời gian, ngôn ngữ, giọng điệu. Sau đó, người viết thiết kế giáo án thử nghiệm
và khảo sát kết quả học tập của học sinh. Bên cạnh đó, giờ lên lớp cũng cần thiết
phải chú ý đến vấn đề về tác giả, thời đại; kết hợp phương pháp giảng bình, gợi
mở, vấn đáp, nêu vấn đề…để giờ học sinh động và hấp dẫn giúp học sinh dễ
dàng tiếp nhận tác phẩm.
6
Chương II: Thực trạng của đề tài
Truyện Kiều là tác phẩm văn học kết tinh văn hóa tinh thần, vẻ đẹp của ngôn
ngữ và tài hoa của dân tộc. Tìm hiểu tác phẩm trên phương diện Thi pháp giúp
người đọc đánh giá được tính sáng tạo toàn vẹn của tác phẩm nhất là với tác
phẩm dựa trên một sáng tác của nước ngoài như Truyện Kiều.
Chúng tôi nhận thấy phần sáng tạo của Nguyễn Du mang lại giá trị đích thực
cho tác phẩm. Các phương diện nghệ thuật của tác phẩm như thể loại, tư tưởng,

“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”
Kết thúc tác phẩm là trăn trở về tâm và tài
“Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”
Tư tưởng đó chi phối việc chọn lựa và miêu tả nhân vật. Truyện Kiều tái
hiện một thế giới người tài. Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải…cho đến Hồ Tôn
Hiến, Sở Khanh, Thúc Sinh đều có tài và biết khen tài. Tài ở đây là biểu hiện
cho phẩm chất và cá tính. Nó đóng một vai trò quan trọng trong những biến cố
của cuộc đời nhân vật. Thúy Kiều nhờ có tài đàn, tài thơ mà được coi trọng
nhưng cũng vì tài đó mà nàng mắc vạ. Tài năng trở thành cái cớ cho cuộc đời
truân chuyên theo quan niệm tài - mệnh tương đố trong tác phẩm.
Nhưng tài không phải là yếu tố chi phối toàn bộ tác phẩm. Chính chữ tâm,
tức là cái tình, tấm lòng của nhân vật chính mới làm nên vẻ đẹp nhân văn của tác
phẩm. Bởi chữ tâm này mà Kiều đã nhận lời bán mình chuộc cha và trao duyên
lại cho Thúy Vân. Cũng vì chữ tâm mà Kiều cam phận lẽ mọn, khuyên Thúc
Sinh trở về; báo ân, báo oán rồi tha bổng cho Hoạn Thư; cũng vì thế mà Kiều
8
khuyên Từ Hải hàng rồi chết theo Từ Hải; nàng giữ tình cầm cờ với Kim Trọng
cũng vì chữ tâm đó. Có thể nói Truyện Kiều là sáng tạo để thử thách cái tâm của
con người. Bạn đọc yêu mến nàng Kiều không chỉ vì cái tài mà còn vì cái tâm
trong sáng, tấm lòng trinh bạch của nàng.
Nhân vật Thúy Kiều được tác giả tập trung miêu tả trong những mâu thuẫn
nội tâm, giày vò, khắc khoải đậm chất bi kịch. Tác giả hướng đến khám phá
chiều sâu tâm lí của nhân vật. Nỗi đau của nàng Kiều không nhìn nhận ở khía
cạnh phi ngã mà đó là chữ thân với nghĩa là mình, là thân thể, là phần vật chất,
phần nhỏ bé, hữu hạn, dễ bị hư nát, đau đớn, riêng tư và cũng bản năng nhất.
Như vậy, chữ thân khiến Truyện Kiều không chỉ là chuyện của tài - mệnh tương
đố mà đó còn là phân phận con người. Có thân là có nghiệp, có nghiệp là có
khổ. Cho nên, tài mệnh là một trường hợp của thân mệnh. Như vậy, Truyện Kiều

khóc mồ vô chủ; thề nguyền chung thủy; cậy em thay lời; Kim Trọng ốm tương
tư, khóc vật vã; Từ Hải chết đứng…Nguyên tắc này phù hợp với Thi pháp
chung của văn học trung đại. Những trạng thái trong tâm hồn phải được biểu
hiện thành dấu hiệu ra bên ngoài, biểu hiện càng lộ và mạnh thì càng gây chú ý.
Cái mới của Nguyễn Du là từ tỏ lòng nhà thơ đi đến bộc lộ tấm lòng, phân
tích tâm lí nhân vật, khám phá sự phức hợp tâm lí trong con người. Cho nên,
tình cảm đối nghịch, lưỡng tính là nét tiêu biểu của nhiều nhân vật trong Truyện
Kiều. Kiều vừa dứt khoát trao duyên cho em vừa nuối tiếc, đau đớn; vừa nghi
ngờ Sở Khanh vừa phải liều theo y; vừa tha bổng Hoạn Thư vừa mong được
trừng trị tội. Từ Hải vừa khinh ghét triều đình vừa hy vọng mong manh vào sự
bao dung của nó. Những con người trong Truyện Kiều đều không thể vo tròn
trong một chuẩn mực.
Tâm hồn nàng Kiều thuộc về phạm trù những phẩm chất cao đẹp nhất
nhưng cũng có những suy tư trần tục chỉ có ý nghĩa riêng đối với tình cảm của
nàng. Kiều thường xuất hiện với những suy nghĩ rành rọt, nhưng cũng có lúc
đắm mình trong ảo giác như khi gọi tên chàng Kim lúc trao duyên; nhẹ dạ bước
chân theo Sở Khanh; sự xiêu lòng trước lễ hậu của Hồ Tôn Hiến…
10
Cuộc đời lắm bước ngoặt của Kiều cho thấy nhiều giới hạn khác nhau
trong tâm hồn con người. Kiều với Kim Trọng là rung động đằm thắm bên người
tình đồng điệu; nàng với Thúc Sinh là những ngày hạnh phúc nồng nàn của đôi
vợ chồng trẻ; sánh với Từ Hải, nàng là con người quyền uy phi phàm khiến
Kiều muốn làm chủ vận mệnh, báo ân, báo oán. Như vậy, Nguyễn Du đã đi sâu
vào sự khám phá tâm hồn con người với tất cả sự phong phú của đời sống thực
tại.
Nhân vật trong Truyện Kiều coi trọng thế giới bên trong hơn sự biểu lộ
bên ngoài. Lời nói bên trong chân thực và sinh động hơn lời nói bên ngoài.
Nguyễn Du nhìn thấu nhân vật của mình, nắm bắt hồn vía và miêu tả một cách
tài tình. Nhà thơ có quan niệm về cá tính con người một cách rõ rệt.
Người trần thuật trong Truyện Kiều thuộc kiểu người kể chuyện biết trước

Không gian nghệ thuật là mô hình nghệ thuật về thế giới mà con người
đang sống; đang cảm thấy vị trí, số phận của mình ở trong đó. Truyện Kiều là
chuyện của cuộc đời lưu lạc nên có sự xuất hiện của nhiều không gian xa lạ. Sau
mỗi một biến cố, nhân vật lại bị đẩy vào một không gian mới, xa lạ và hàm chứa
những hiểm họa.
Không gian trước lưu lạc bao giờ cũng bình yên
“Êm đềm trướng rủ màn che
Tường đông ong bướm đi vê mặc ai”
Không gian lưu lạc đẩy con người vào tình thế không nơi bấu víu, lênh
đênh, trôi dạt. Nguyễn Du láy đi, láy lại hình ảnh cánh bèo mặt nước; nước trôi
hoa rụng; chiếc bách sóng đào…để diễn tả nỗi bơ vơ, lạc loài, buồn tủi của nàng
Kiều.
Con người trung đại luôn mang trong mình sự gắn bó với quê hương, gia
đình. Đó còn là cõi bình yên để nương tựa mà khi rời bỏ nó, người ta trở nên yếu
đuối, trống rỗng như tự đánh mất mình.
“Bên trời góc bể bơ vơ”
12
“Chân trời mặt biển lênh đênh”
Không gian và thời gian trong Truyện Kiều đã trở thành tín hiệu thẩm mĩ
mang tâm trạng của nhân vật. Cho nên, có thể thấy hầu hết không gian và thời
gian trong truyện đều được nâng lên thành không gian và thời gian tâm trạng.
2.5. Ngôn ngữ và giọng điệu
Ngôn ngữ là chất liệu để nhà văn tạo lập nên tác phẩm. Không có ngôn
ngữ thì cũng không có tác phẩm văn học. Ngôn ngữ nghệ thuật là “một hệ thống
các phương tức, phương tiện tạo hình, biểu hiện, hệ thống các qui tắc thông
báo bằng tín hiệu thẩm mĩ của một ngành, một sáng tác nghệ thuật” [Từ điển
thuật ngữ văn học, tr.186]. Sáng tạo về mặt ngôn ngữ cho thấy quan niệm sáng
tác, tư duy nghệ thuật cũng như sự đánh giá của nhà văn về hiện thực cuộc sống.
Ngôn ngữ trong Truyện Kiều vừa mang màu sắc bác học với cách dùng từ
trang nhã, ước lệ; sử dụng khá nhiều điển tích, điển cố. Bên cạnh đó, sức sáng

Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đoạn trích này, chúng tôi hướng học
sinh khai thác các khía cạnh của tác phẩm từ góc độ Thi pháp theo các bước cụ
thể
3.1.1. Yêu cầu chuẩn bị bài
- Học sinh đọc kĩ đoạn trích và phần chú thích, chuyển văn bản thơ thành văn
xuôi
- Tìm hiểu nhân vật Thúy Kiều qua chi tiết, lời kể và sự miêu tả của tác giả
- Thống kê những biện pháp nghệ thuật khắc họa nhân vật được sử dụng trong
đoạn trích
3.1.2. Giáo án thử nghiệm
14
TIẾT 83
TRAO DUYÊN
( TRÍCH TRUYỆN KIỀU - NGUYỄN DU)
I- Mục tiêu bài học
- Cảm nhận được tình yêu sâu nặng và bi kịch của Thúy Kiều trong đoạn
trích; nắm được nghệ thuật miêu tả nội tâm tài tình của tác giả.
- Kiến thức: Bi kịch tình yêu, thân phận bất hạnh và sự hi sinh quên mình
của Kiều vì hạnh phúc của người thân qua lời trao duyên đầy đau khổ; nghệ
thuật miêu tả tâm lí nhân vật, sử dụng thành công nghệ thuật độc thoại nội tâm.
- Kĩ năng: Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại; phân tích nhân vật;
diễn biến tâm trạng nhân vật.
II- Phương pháp, phương tiện
1. Phương pháp
- Đọc sáng tạo, chuyển thể văn bản thơ thành văn bản văn xuôi
- Vấn đáp, thảo luận
- Sử dụng lời bình của giáo viên và học sinh
2. Phương tiện
- Phần soạn bài của học sinh, tác phẩm trong sách giáo khoa, tranh ảnh
- Giáo án soạn giảng của giáo viên

Giáo viên: Nên phân tích đoạn
A- Tiểu dẫn
- Vị trí: đoạn trích nằm ở phần Gia biến
- Bọn sai nha gây nên vụ án oan cho gia đình
Thúy Kiều kiến nàng phải hi sinh mối tình
với Kim Trọng và bán mình để chuộc cha và
em. Khi mọi việc đã an bài, Kiều ngồi trắng
đêm nghĩ đến Kim Trọng và mối tình dở
dang. Để trả nghĩa cho chàng Kim, nàng đã
trao duyên cho Thúy Vân để đền đáp tình
yêu của Kim Trọng.
B- Đọc - hiểu tác phẩm
- Truyện Kiều thuộc thể loại truyện Nôm
- Tác phẩm mang chất tự sự, có nhân vật, cốt
truyện…
- Tác phẩm còn mang chất trữ tình qua việc
khai thác nội tâm nhân vật và sử dụng ngôn
ngữ hình tượng, biểu cảm…
=> Nên phân tích theo đặc trưng của thể
loại; khai thác nghệ thuật xây dựng nhân vật;
từ đó làm rõ diễn biến tâm trạng và đánh giá
về nhân vật.
16
trích này theo cách nào?
Giáo viên: Đoạn thơ là lời của ai
nói với ai? Trong tâm trạng nào?
Đọc với giọng điệu và nhịp điệu
nào để phù hợp?
Hướng dẫn đọc đoạn trích
Giáo viên: em hãy xác định mạch

Kiều. Đó là khoảng lặng trước cơn giông bão
đời Kiều mười lăm năm lưu lạc.
+ Không gian: Vắng lặng
+ Thời gian: Đêm khuya
- Kiều trở về với mất mát của tình yêu, đau
đớn cho thân phận mình.
=> Không gian và thời gian giúp giãi bày
tâm trạng, thổ lộ chuyện tình yêu riêng tư.
17
khung cảnh nào? khung cảnh đó
có vai trò nào trong việc thể hiện
nhân vật ?
Giáo viên: Đoạn trích này có lời
của ai nói với ai? Nói về vấn đề
gì?
Học sinh thảo luận: Cuộc đối
thoại này có ý nghĩa gì với Kiều
và Vân

Giáo viên: Cử chỉ và cách nói
của Kiều có gì khác thường?
Giáo viên: So sánh các cặp từ
Cậy/nhờ; Chịu/Nhận
b/ Ngôn ngữ
- Nhân vật Thúy Kiều được đặt trong cuộc
đối thoại giữa với Thúy Vân
=> Đối thoại là cách để nhân vật bộc bạch
với một đối tượng cụ thể trong cuộc giao
tiếp.
- Kiều muốn em thay mình trả nghĩa cho

+ Ngày quạt ước, đêm chén thề: Hạnh phúc
êm đềm, kỉ niệm ngọt ngào
+ Sự đâu sóng gió bất kì: tai họa đột ngột,
đau xót và tiếc nuối
+ Tình máu mủ, lời nước non, thịt nát xương
mòn, ngậm cười chín suối
=> Kiều sử dụng thành ngữ và cách nói giàu
hình ảnh, sắc thái biểu cảm. Ngôn ngữ có sự
kết hợp hài hòa giữa cách nói trang nhã của
văn học bác học trung đại và từ ngữ dân gian
- Giọng điệu : tha thiết, cầu khẩn, gợi sự xót
thương
=> Kiều vừa cầu khẩn vừa dựa vào tình cảm
chị em để đánh vào nhận thức của Thúy Vân
một cách thông minh, khôn khéo, trói buộc
về tình cảm
- Kiều có thể trả nghĩa cho chàng Kim. Nàng
biết ơn em chân thành và cất đi gánh nặng về
món nợ tình.
c/ Hành động
- Trao duyên: nhờ em kết duyên với Kim
Trọng thay mình để trả nghĩa.
=> Hợp với quan niệm thời trung đại
19
sau khi ngỏ lời với Vân?
Thảo luận về hành động của Thúy
Kiều.
Giáo viên: Thế nào là trao
duyên? hành động này thể hiện
điều gì về nhân vật ?

còn tình yêu với Kim Trọng
+ Dặn em rưới chén nước để giải oan
+ Hồn Kiều vương vấn với tiếng tơ trên
20
Giáo viên: Sau khi trao kỉ vật,
Kiều nói với ai? Nói chuyện gì?
Không gian thay đổi như thế
nào?
Giáo viên: Điều đó cho thấy tâm
trạng của Kiều như thế nào ?
Giáo viên: Sau khi trao kỉ vật,
Kiều hướng tới ai? vì sao?
phím đàn và mùi trầm hương
+ Hồn Kiều vẫn nặng lời thề và nguyện nát
thân bồ liễu đền nghì trúc mai
- Nàng dặn em mà như đang thầm nói với
mình về tương lai mù mịt, thê thảm.
=> Không gian chập chờn, ma mị như cõi
âm
=> không gian thực được thay thế bằng
không gian tâm tưởng
=> Kiều đau đớn tột cùng. Mất đi tình yêu
cũng là mất đi ý nghĩa của cuộc sống. Đó là
sự thể hiện tình yêu sâu sắc, đức hi sinh,
lòng vị tha của Kiều.
- Kiều quên đi sự có mặt của Thúy Vân ; lời
nói hướng về Kim Trọng
=> Từ đối thoại chuyển thành độc thoại nội
tâm
+ Kiều tự nhận mình đã phụ bạc người yêu

Giáo viên: Cho biết giá trị nội
dung của đoạn trích?
nỗi đau lên đến tột đỉnh khiến nàng
“Cạn lời hồn ngất máu say
Một hơi lặng ngắt, đôi tay giá
đồng”
=> Bi kịch trong nội tâm nhân vật. Sự giằng
xé giữa lí trí và tình cảm, thân phận và nhân
cách, thân phận và tình yêu riêng tư.
=> Nhân vật được khắc họa chủ yếu ở nội
tâm, có sự đa diện nhiều chiều trong phản
ánh nội tâm nhân vật. Tác giả không đứng
ngoài để kể câu chuyện mà hóa thân vào
nhân vật; cảm nỗi đau thân phận của nàng.
Điểm nhìn nghệ thuật được đặt ở chính tâm
trạng của nhân vật.
2. Giá trị đoạn trích
- Đoạn trích thể hiện rõ nét chủ nghĩa nhân
đạo
+ Cảm thương con người trên phương diện
nhân bản nhất: hạnh phúc, tình yêu đôi lứa.
+ Căm giận thế lực tàn bạo đã bày ra cảnh
ngang trái, chia cách đôi lứa
+ Đề cao khát vọng về tình yêu và hạnh phúc
của con người
=> Tác giả nêu lên nỗi đau thân phận con
22
Giáo viên: Thái độ của Nguyễn
Du ra sao? Ông muốn nêu lên
vấn đề gì?

5. Dặn dò: Tìm đọc Truyện Kiều và tài liệu về tác phẩm; luyện tập đọc
diễn cảm đoạn trích; học thuộc lòng đoạn trích; chuẩn bị bài Nỗi thương mình -
Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du theo câu hỏi
1. Kiều rơi vào cảnh ngộ nào?
2. Tác giả dùng cách nào để diễn tả tâm trạng của nàng? Đó là tâm trạng gì?
3. Tấm lòng của Nguyễn Du với nhân vật thể hiện như thế nào ?
3.2. Kết quả khảo nghiệm
Trước đây, đoạn trích giảng Trao duyên được hướng dẫn theo cách chia
bố cục và phân tích từng đoạn. Chúng tôi đã sử dụng phương pháp phân theo bố
cục văn bản và hướng dẫn học sinh tìm hiểu, đánh giá về đoạn trích. Tuy nhiên,
phương pháp này làm đoạn trích chia tách ra nhiều phần nhỏ và học sinh gặp
khó khăn với những câu hỏi mang tính khái quát sau khi học xong bài. Các em
có thể hiểu đúng nội dung đoạn trích nhưng chưa có sự khám phá tác phẩm theo
hướng rung động và tiếp nhận. Sau khi thử nghiệm cách tiếp cận mới, chúng tôi
nhận thấy học sinh hứng thú hơn và tích cực trong quá trình học tập. Sau khi học
xong các em có khả năng đánh giá về nhân vật và đoạn trích bằng cảm nhận của
cá nhân một cách khá sâu sắc.
Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm như trên, chúng tôi đã đưa
ra một số câu hỏi trong phần kiểm tra đánh giá, mục đích nhằm tìm hiểu mức độ
tiếp thu, hiểu bài của học sinh. Đối tượng kiểm tra là 106 học sinh lớp 10 trường
THPT Trần Nhật Duật. Phương thức kiểm tra bằng cách phát phiếu học tập. Với
đối tượng 36 học sinh lớp 10B3, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích theo
bố cục đoạn trích. Kết quả như sau:
TT Nội dung câu hỏi Mục đích Trả lời
đúng
Trả lời
sai
1 Kiều Trao duyên trong Kiểm tra năng lực 36/36 0/36
24
trong khung cảnh nào? nắm bắt kiến thức

khám phá, phát hiện
của học sinh về
nghệ thuật độc thoại
nội tâm
20/36 16/36
Chưa có
sự lí giải
xác đáng
5 Lời Kiều nói thể hiện tâm
trạng nào ?
Kiểm tra sự tiếp thu
của học sinh giọng
điệu
30/36 6/36
Chưa
hiểu câu
hỏi
6 Tại sao nói tâm trạng của
Kiều là bi kịch?
Kiểm tra kiến thức
quan niệm nghệ
thuật về con người
của tác giả
20/36 6/36
không lí
giải được
vấn đề
7 Đóng góp của Nguyễn Du
qua đoạn trích này?
Kiểm tra sự đánh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status