ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN LAO
ĐỘNG NGÀNH DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ
Nhân lực là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của đất nước, bởi nhân lực chính là
nguồn lực chủ đạo của xã hội. Theo Đại Từ điển tiếng Việt: “Nhân lực là sức người dùng trong
sản xuất”. Nhân lực là nguồn lực lao động hoạt động trong một lĩnh vực nào đó của đời sống xã
hội trên một địa bàn nhất định, trong những khoảng thời gian nhất định. Do có vai trò, vị trí quan
trọng như vậy nên nhân lực luôn là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào
trong đó có các doanh nghiệp du lịch. Là một ngành kinh tế tổng hợp, đối tượng chính của du lịch
chính là khách du lịch, khách du lịch tiêu dùng sản phẩm dịch vụ du lịch, các sản phẩm dịch vụ
này được tạo ra từ lao động của con người kể cả lao động trực tiếp hay gián tiếp.
Xét trên góc độ phạm vi tỉnh Phú Thọ, Đại hội Đảng bộ tỉnh phú thọ lần thứ XVI, XVII đã
xác định phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, trở thành một trong ba khâu đột phá
để phát triển kinh tế- xã hội. Trong những năm qua, nhận được sự quan tâm của các cấp, các
ngành và sự đồng thuận của nhân dân các dân tộc tỉnh Phú Thọ, du lịch Phú Thọ đã được quan
tâm, đầu tư cả về cơ chế chính sách và nguồn lực cho phát triển du lịch.
Thông qua các chương trình, sự kiện lớn: chương trình Giỗ Tổ Hùng Vương- Lễ hội Đền
Hùng, hai di sản văn hóa được UNESCO công nhận “Hát xoan Phú Thọ” là di sản văn hóa phi vật
thể cần bảo vệ khẩn cấp, “Tín ngưỡng thờ, cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là di sản văn hóa phi
vật thể đại diện của nhân loại, chương trình “Về miền lễ hội cội nguồn các dân tộc Việt Nam,
chương trình Du lịch về cội nguồn, tổ chức thành công SEAGAME 22, Hội khỏe Phù Đổng toàn
quốc lần thứ VII tại Phú Thọ và các hoạt động, sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch khác … là
những nhân tố “cầu” quan trọng để ngành du lịch phải vận động, cải tiến, nâng cao chất lượng cơ
sở vật chất, dịch vụ phục vụ khách mà yếu tố cốt lõi để đảm bảo sự hài lòng của du khách chính là
đội ngũ nhân viên làm việc trong các đơn vị kinh doanh du lịch - những người tiếp xúc trực tiếp
với khách du lịch, những người đảm bảo sự thành công của bất kỳ một, chiến lược, phương án
kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong những năm gần đây, ngành du lịch Phú Thọ có nhiều bước phát triển. Năm 2006,
toàn tỉnh có 75 cơ sở lưu trú du lịch thì đến 2012 là 202 cơ sở (tăng trưởng bình quân đạt
17,95%), đã có các khách sạn được xây dựng với quy mô 3 sao, 4 sao, lượng khách du lịch đến
Phú Thọ năm 2006 đạt 3 triệu lượt khách thì đến năm 2012 đạt 6,1 triệu lượt (tăng trưởng bình
quân đạt 12,56%); doanh thu du lịch năm 2006 đạt 403,8 tỷ đồng thì đến năm 2012 đạt 1.100 tỷ
Lao động trực tiếp trong du lịch 1.000 1.500 2.800 4.900
Lao động gián tiếp ngoài xã hội 2.000 3.000 5.600 9.800
Tổng cộng 3.000 4.500 8.400 14.700
3 Sơn La
Lao động trực tiếp trong du lịch 1.200 1.900 3.300 5.100
Lao động gián tiếp ngoài xã hội 2.400 3.800 6.600 10.200
Tổng cộng 3.600 5.700 9.900 15.300
4
Lai
Châu
Lao động trực tiếp trong du lịch 160 430 1.100 2.500
Lao động gián tiếp ngoài xã hội 320 860 2.200 5.000
Tổng cộng 480 1.290 3.300 7.500
5
Điện
Biên
Lao động trực tiếp trong du lịch 740 1.300 2.400 5.600
Lao động gián tiếp ngoài xã hội 1.480 2.600 4.800 11.200
Tổng cộng 2.220 3.900 7.200 16.800
6 Lào Cai
Lao động trực tiếp trong du lịch 3.000 4.100 7.600 12.900
Lao động gián tiếp ngoài xã hội 6.000 8.200 15.200 25.800
Tổng cộng 9.000 12.300 22.800 38.700
8 Yên Bái
Lao động trực tiếp trong du lịch 430 1.200 3.000 5.100
Lao động gián tiếp ngoài xã hội 860 2.400 6.000 10.200
Tổng cộng 1.290 3.600 9.000 15.300
9
Tuyên
Quang
Lao động trực tiếp trong du lịch 160 470 1.300 3.200
Lao động gián tiếp ngoài xã hội 320 940 2.600 6.400
Tổng cộng 480 1.410 3.900 9.600
15 Lạng Lao động trực tiếp trong du lịch 2.600 5.000 9.900 17.700
Sơn
Lao động gián tiếp ngoài xã hội 5.200 10.000 19.800 35.400
Tổng cộng 7.800 15.000 29.700 53.100
16
Nghệ
An
Lao động trực tiếp trong du lịch 5.800 9.300 16.200 28.000
Lao động gián tiếp ngoài xã hội 11.600 18.600 32.400 56.000
Tổng cộng 17.400 27.900 48.600 84.000
17
Thanh
Hóa
Lao động trực tiếp trong du lịch 4.500 7.800 11.100 17.500
Lao động gián tiếp ngoài xã hội 9.000 15.600 22.200 35.000
Tổng cộng 13.500 23.400 33.300 52.500
Lao động trực tiếp trong du lịch 22.460 39.160 72.400 126.400
Lao động gián tiếp ngoài xã hội 44.920 78.320 144.800 252.800
Tổng cộng 67.380 117.480 217.200 379.200
Nguồn: Dự báo của Viện NCPT Du lịch-Quy hoạch TTPT du lịch vùng TDMN Bắc Bộ
Bảng 2: Tổng hợp các chỉ tiêu du lịch tỉnh Phú Thọ từ 2006- 2012
TT Chỉ tiêu ĐVT 2006 2010 2012
Tốc độ tăng
trưởng bình
quân (%)
1 Khách tham quan Ngàn lượt 3.000 5.890 6.100 12,56
2 Khách lưu trú Lượt khách 262.023 395.022 505.000 11,56
và 0,36% trong tổng số lao động trực tiếp ngành du lịch của cả nước). Trong đó lao động tốt
nghiệp trên đại học là 0,2%, tốt nghiệp đại học - cao đẳng chiếm 12,51%, 17,35% tốt nghiệp về
trung cấp và sơ cấp nghề, số còn lại là qua đào tạo tại chỗ hoặc huấn luyện nghiệp vụ ngắn hạn
chiếm 69,94%. Trong đó qua đào tạo về du lịch là 58%. Rõ ràng đây là một con số rất khiêm tốn
trong cơ cấu lực lượng lao động đang làm việc trên địa bàn tỉnh cũng như khẳng định nguồn lực
cung ứng cho ngành du lịch còn thiếu về số lượng lao động có chuyên môn, nghiệp vụ, đội ngũ
lao động có chuyên môn nhưng còn ở mức qua đào tạo ngắn hạn, hoặc chỉ đáp ứng được nhu cầu
đào tạo tại chỗ.
Về thực trạng lao động trong các cơ quan quản lý Nhà nước
Đội ngũ cán bộ, công chức viên chức đang làm việc trong lĩnh vực du lịch trên địa bàn
tỉnh chiếm 3,7% trong tổng số lao động trực tiếp ngành du lịch tỉnh trong số đó, 15% có bằng trên
đại học, 85% tốt nghiệp đại học- cao đẳng. Tuy nhiên được đào tạo trong lĩnh vực du lịch chỉ đạt
mức 55% trong tổng số cán bộ, công chức, viên chức ngành du lịch. Như vậy, cho thấy đội ngũ
này vẫn cần phải được đào tạo, nâng cao kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ du lịch mới có
thể đáp ứng được vai trò chỉ đạo, hướng dẫn các hoạt động kinh doanh du lịch ở cơ sở.
Về thực trạng nguồn lao động đang làm việc trong các cơ sở kinh doanh du lịch
Nhu cầu việc làm tại các cơ sở kinh doanh du lịch ở Phú Thọ là không lớn, có ảnh hưởng
bởi tâm lý mùa vụ, tập trung nhiều vào dịp Giỗ Tổ Hùng Vương- Lễ hội Đền Hùng trong thời gian
ngắn từ 10 đến 20 ngày và những sự kiện đột xuất khác. Nên hầu hết, các cơ sở kinh doanh du
lịch chỉ có nhu cầu sử dụng lao động ở mức tối thiểu. Cùng với thói quen sử dụng người thân,
quen đã trở thành thông lệ trong kinh doanh cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng lao động ở các cơ
sở lưu trú. Các đơn vị kinh doanh lữ hành hầu hết là văn phòng đại diện, hoặc chi nhánh đóng tại
Phú Thọ, hầu như chỉ có vai trò làm cầu nối trung gian để hướng dẫn, giới thiệu khách về Trụ sở
chính tổ chức, chào bán tour, do vậy hiệu quả kinh doanh thấp, nhu cầu tuyển dụng lao động
chuyên môn, nghiệp vụ không nhiều. Ngoài Khu di tích lịch sử Đền Hùng, các khu điểm du lịch ở
Phú Thọ đều ở trạng thái đang lập quy hoạch đầu tư xây dựng và khai thác ở mức nhỏ lẻ như:
Vườn quốc gia Xuân Sơn, khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy, nên nguồn lao động còn
thiếu và chưa thật sự dồi dào.
Về thực trạng nguồn lao động đào tạo
Về nguồn nhân lực giảng dạy: Hiện nay trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã có một số trường đại
nâng cao chất lượng nguồn lao động; Đối với du lịch mang tính cộng đồng, cần khuyến khích phát
triển nguồn lực tại chỗ, ưu tiên phát triển lao động đồng bào các dân tộc với những lao động giản
đơn để dần dần xã hội hóa phát triển nguồn nhân lực tại các khu du lịch.
- Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực
Đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực đảm bảo chất lượng, đủ số lượng, cơ cấu phù
hợp đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch; trong đó, hình thành các khoa, ngành về du lịch trong các
trường Đại học, Cao đẳng, trường Nghề của tỉnh. Khuyến khích lao động có chất lượng về làm
việc tại địa phương.
Thứ nhất, Đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực đảm bảo chất lượng, đủ số lượng, cơ
cấu phù hợp đấp ứng nhu cầu phát triển du lịch. Thực hiện tiêu chuẩn hóa đội ngũ quản lý nhà
nước về Du lịch, có chính sách cử cán bộ trẻ đi đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ; sẵn sàng tiếp
nhận và tạo điều kiện cho cán bộ giỏi đang công tác ở các nơi, sinh viên tốt nghiệp xuất sắc của
các trường Đại hoc về công tác tại tỉnh. Thu hút chuyên gia giỏi, nguồn nhân lực chất lượng cao
từ bên ngoài vào lĩnh vực hoạt động quản lý, giảng dạy và kinh doanh du lịch. Xây dựng kế hoạch
phát triển du lịch cho từng giai đoạn và kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực tương xứng; Đào tạo đội
ngũ cán bộ quản lý, lao động kỹ thuật, hướng dẫn viên du lịch tại các cơ sở kinh doanh theo tiêu
chuẩn nghề. Khuyến khích các doanh nghiệp có chính sách ưu đãi tuyển dụng, sử dụng những
người có năng lực trình độ chuyên môn giỏi; Mở rộng và nâng cao chất lượng hệ thống cơ sở đào
tạo nguồn nhân lực trên địa bàn tỉnh: từng bước chuyên môn hóa chuyên ngành, chuẩn hóa
chương trình đào tạo tại các cơ sở đào tạo du lịch (Trường đại học Hùng Vương, Cao đẳng Nghề
Phú Thọ) nâng cao trình độ của đội ngũ giáo viên và gắn đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp,
xã hội. Thúc đẩy liên kết với các Viện Nghiên cứu, các trường đại học có uy tín trong nước và
quốc tế. Kêu gọi các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng cơ sở đào tạo chuyên ngành du lịch bậc
đại học, cao đẳng, trung cấp;
Giải pháp về việc nâng cao chất lượng lao động đang làm việc trong ngành du lịch:
Trước hết, tuyên truyền tính cấp bách của việc đào tạo, đào tạo lại đội ngũ lao động đang
làm việc trong lĩnh vực du lịch trên địa bàn tỉnh đáp ứng yêu cầu về chuẩn hóa nguồn lao động du
lịch theo tiêu chuẩn nghề du lịch; Thứ hai, tiến hành rà soát lại lực lượng lao động theo các loại
hình kinh doanh của các đơn vị: khách sạn- nhà hàng- lữ hành- khu, điểm du lịch… để có căn cứ
lập Kế hoạch đào tạo, huấn luyện: đào tạo tại chỗ, đào tạo ngắn hạn, đào tạo dài hạn; Thứ ba, xây