ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trần Thị Liên
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG Ở QUẬN
HÀ ĐÔNG, HÀ NỘI” LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Sử dụng và Bảo vệ Tài nguyên Môi trường
Mã số: 60 85 15
Người hướng dẫn
PGS.TS Đinh Văn Thanh
Hà Nội, năm 2012
3 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………5
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp bền vững…………… 9
1.1 Tổng quan các tài liệu về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp phát triển bền
vững 9
1.1.1 Khái niệm về nông nghiệp bền vững 9
1.1.2 Một số khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững 11
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng vấn đề tổ chức phát triển nông nghiệp bền vững. 15
a, Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên……………………………. 15
1.3 Các mô hình tổ chức lãnh thổ nông nghiệp……… 17
1.3.1 Khái niệm ……………………………………… ………………….17
1.3.2 Ý nghĩa kinh tế xã hội của nghiên cứu tổ chức lãnh thổ nông
nghiệp…………………………………………………………………………18
1.3.3 Các mô hình tổ chức lãnh thổ nông nghiệp……………………… 19
bền vững tại quận Hà Đông………………………………… 59
3.1 Biến động quy mô đất nông nghiệp 59
3.2 Cơ cấu và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 64
3.3 Các vùng sản xuất chuyên canh hóa của quận 68
3.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp 69
3.5 Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp hiện tại quận Hà Đông 70
3.6 Định hướng, giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững 70
3.6.1 Định hướng quy mô và diện tích đất 70
3.6.2 Định hướng cơ cấu nông nghiệp bền vững…………………………… 71
3.6.3 Định hướng xây dựng các vùng chuyên môn hóa…………………… 72
3.6.4 Định hướng hiệu quả kinh tế………………………………………… 73
3.6.5 Định hướng hiệu quả xã hội………………………………………… 73
3.6.6 Định hướng hiệu quả sinh thái bền vững………………………… 74
3.6.7 Các giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững 74
3.6.7.1 Giải pháp về thực hiện tổ chức lãnh thổ nông nghiệp phát triển bền
vững…………………………………………………………………………… 74
3.6.7.2 Giải pháp về nguồn vốn và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng………… 84
3.6.7.3 Giảm thiểu ô nhiễm……………………………………………… 85
3.6.7.4 Giải pháp về quản lý chất lượng sản phẩm…………………………. 85
Kết luận và kiến nghị…………………………………………………………… 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………90
5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết (lý do chọn đề tài).
Phát triển nông nghiệp bền vững đang là đòi hỏi tất yếu và là xu hướng
̣
quyết 15/2008 QH12 về viê
̣
c điều chỉnh đi
̣
a giơ
́
i
hành chính thủ đô Hà Nội trên cơ sở sáp nhập Thành phố Hà Nội cũ với tỉnh Hà
Tây cũ, huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hòa
Bình. Theo kết quả tổng điều tra dân số ngày 1/4/2009, dân số thành phố Hà Nội
mở rộng có 6.448.837 người và diện tích tự nhiên rộng 3.344,6 km2, gồm 10
quận, 1 thị xã và 18 huyện ngoại thành, đứng thứ hai về dân số và đứng đầu cả
6
nước về diện tích, nằm trong danh sách 17 thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới.
Chính vì vậy, nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm nông sản như rau quả, thịt cá, sữa,
trứng rất lớn.
Trước ngày 29/5/2008, quận Hà Đông là Thành phố Hà Đông (thuộc tỉnh
Hà Tây cũ) là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của tỉnh Hà Tây, nằm giáp với
phía Tây Nam của thành phố Hà Nội. Vị trí địa lý tự nhiên đó tạo cho quận Hà
Đông một lợi thế lớn về địa lý- kinh tế và giao thông thuận lợi, có điều kiện để
tiếp thu những thành tựu khoa học tiên tiến, thu hút nguồn lao động trẻ có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao và sự quan tâm của Đảng ủy- Ủy ban nhân dân thành
phố Hà Nội. Quá trình đô thị hóa tại quận Hà Đông những năm gần đây rất mạnh,
đặc biệt là khu vực ngoại thành quận Hà Đông. Đó cũng là nguyên nhân khiến
diện tích đất nông nghiệp tại quận Hà Đông giảm một cách đáng kể. Mặc dù là
một quận thuộc thành phố Hà Nội nhưng quận Hà Đông vẫn có một lượng lao
động đáng kể làm nông nghiệp lâu đời. Do đó ta cần phải quy hoạch, tổ chức lại
để duy trì phát triển nông nghiệp trên địa bàn quận Hà Đông hợp lý, trên có sở xác
thu thập được, và xem xét tình hình thực tế. Ngoài ra tác giả còn tiến hành
điều tra xã hội học tại chợ đầu mối Hà Đông nhằm đánh giá thị trường tiêu
thụ nông sản tại quận Hà Đông hiện nay.
- Phương pháp phân tích logic
- Phương pháp thống kê học
- Phương pháp cân đối kinh tế
- Phương pháp mô hình toán học
5. Cơ sở tài liệu để thực hiện luận văn
- Kế thừa các kết quả nghiên cứu từ trước về phát triển nông nghiệp, phát
triển nông nghiệp bền vững, và những nghiên cứu khác tại quận Hà Đông, thành
phố Hà Nội.
- Tài liệu thu thập được bao gồm hệ thống số liệu, bản đồ, các công trình
nghiên cứu khoa học có liên quan: tài liệu về khí hậu, địa chất, địa hình, thuỷ văn,
thuỷ lợi, dân số, lao động, mức sống, tình hình phát triển của các ngành kinh tế,
các số liệu có liên quan đến phát triển nông nghiệp của quận , bản đồ hiện trạng
sử dụng đất, bản đồ chuyên đề….
6. Tổng quan tài liệu trong và ngoài nước về vấn đề nghiên cứu
- “Các nguyên lý sinh thái của nông nghiệp”, tác giả Laura E. Powers và
Robert McSorley, năm 1998, nhà xuất bản Mc Graw Hill, Inc phát hành.
- “Kinh tế học sinh thái và phát triển bền vững: Lý thuyết, phương pháp và
ứng dụng”, tác giả Jenroen, năm 1996, nhà xuất bản Mc Graw Hill, Inc phát hành.
- “Lịch sử nông nghiệp bền vững và hệ thống nông nghiệp bền vững”, tác
giả Richard R. Harwood, năm 1990, ấn hành bởi Lucie Press
- “Nông nghiệp đô thị và ven đô” thuộc “Chương trình đặc biệt về an toàn
lương thực” của FAO
- Mô hình hệ sinh thái “Aqua-terra” ở Inđônêsia, mô hình nông nghiệp xanh
(Green core) ở Hà Lan, mô hình “vườn trong thành phố” với kỹ thuật trồng rau
thuỷ canh ở Ecuađo và một số nước châu phi khác.
- Một hướng nghiên cứu khác về nông nghiệp đô thị của các chuyên gia
triển nông nghiệp ngoại thành theo hướng một nền nông nghiệp đô thị-sinh thái”
là định hướng cơ bản và có tính chiến lược trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp ngoại thành Hà Nội.
- Năm 2001, UBND Thành phố Hà Nội đã giao cho Khoa Kinh tế Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn, đại học Kinh tế Quốc dân chủ trì và nghiên cứu
đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học để xác định nội dung, tiêu chí và các giải pháp
phát triển nông nghiệp ngoại thành theo hướng nông nghiệp sinh thái”.
- “Phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng nông nghiệp sinh
thái” do PGS.TS Phạm Văn Khôi chủ biên, nhà xuất bản nông nghiệp ấn hành
năm 2004
9
- Năm 2003, đề tài nghiên cứu khoa học “Cơ sở khoa học để phát triển nông
nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị-sinh thái và hiện đại hoá nông thôn Hà Nội
giai đoạn 2006-2010” bắt đầu được nghiên cứu, do Phó chủ tịch UBND Thành
phố Hà Nội Lê Quý Đôn làm chủ nhiệm đề tài
- “Nông nghiệp sinh thái hay nông nghiệp bền vững” của GS. VS. Đào Thế
Tuấn đăng trong tạp chí “Phát triển nông thôn”, số 37 tháng 3, 4 năm 2003.
- “Nghiên cứu khái niệm, nội dung nông nghiệp đô thị”, tác giả Đào Thế
Tuấn, năm 2003.
- “Nghiên cứu khái niệm về nông nghiệp đô thị-sinh thái và hiện đại hoá
nông thôn” của PGS.TS Nguyễn Trung Quế, thực hiện năm 2003.
các vùng ngoại ô như ở quận Hà Đông.
Có khá nhiều khái niệm về nông nghiệp bền vững, trong đó mỗi định nghĩa
đề cập đến những góc độ khác nhau, theo những mục đích và cách thức tiếp cận
cũng khác nhau.
Theo Uỷ ban kỹ thuật của FAO, nền nông nghiệp bền vững bao gồm việc
quản lý có hiệu quả nguồn lực để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người
mà vẫn duy trì hay làm tăng thêm chất lượng của môi trường và bảo tồn tài
nguyên thiên nhiên.
Richard R. Harwood cho rằng: “Nông nghiệp bền vững là một nền nông
nghiệp trong đó các hoạt động của các tổ chức kinh tế từ việc lập kế hoạch, thực
hiện và quản lý các quá trình sản xuất, kinh doanh nông nghiệp đều hướng đến
bảo vệ, phát huy lợi ích của con người và xã hội trên cơ sở duy trì và phát triển
nguồn lực, tối thiểu hóa lãng phí để sản xuất một cách hiệu quả các sản phẩm
nông nghiệp và hạn chế tác hại môi trường, trong khi duy trì và không ngừng
nâng cao thu nhập cho dân cư nông nghiệp” (Richard R. Harwood, Lịch sử nông
nghiệp bền vững – Hệ thống nông nghiệp bền vững, St, Lucie Press, 1990).
Nông nghiệp bền vững đề cập một cách toàn diện và tổng hợp đến cả khía
cạnh tự nhiên và khía cạnh kinh tế, xã hội của phát triển nông nghiệp. Trên khía
cạnh tự nhiên nó là quá trình tác động hợp lý của con người đối với các yếu tố tự
nhiên như đất đai, nguồn nước, phân bón, năng lượng tự nhiên nhằm giảm thiểu
tác hại môi trường, bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên. Trên khía cạnh kinh tế nó là quá
trình giảm chi phí đầu vào, nâng cao thu nhập cho các tổ chức nông nghiệp trên cơ
sở thỏa mãn tốt nhất nhu cầu xã hội về nông sản phẩm. Với khía cạnh xã hội nó là
quá trình xây dựng và phát triển các giá trị xã hội như sức khỏe, văn hoá tinh thần
của con người. Cụ thể là:
11
+ Đối tượng mà con người tác động trong nền nông nghiệp bền vững không
chỉ dừng lại là đất đai, cây trồng, vật nuôi riêng biệt mà là một tổng hòa hệ thống
sinh vật - sinh thái .
12
liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng hơn về cơ hội, sự tự do, về chính trị và
các quyền tự do công dân của con người.
Tăng trưởng là một phương tiện cơ bản để có thể có được sự phát triển
nhưng bản thân nó chỉ là một đại diện, chưa phản ánh đầy đủ sự tiến bộ xã hội.
Tăng trưởng và phát triển là hai mặt của sự phát triển xã hội có quan hệ chặt chẽ
với nhau. Tăng trưởng diễn tả động thái của nền kinh tế, còn phát triển phản ánh
sự thay đổi về chất lượng của nền kinh tế và xã hội để phân biệt các trình độ khác
nhau trong sự tiến bộ xã hội. Có một số người khi xem xét sự phát triển xã hội đã
lẫn lộn phát triển với tăng trưởng, quy lý luận phát triển vào việc giải quyết các
vấn đề tăng trưởng, giải thích một cách đơn giản rằng mục tiêu của sự phát triển là
sự tăng thu nhập như vậy là không đầy đủ và chính xác. Tăng trưởng chưa phải là
phát triển mà chỉ là điều kiện cần cho sự phát triển. Cần thấy sự nguy hại của tăng
trưởng mà không có phát triển, sự nguy hại đó tồn tại ở các nước đang phát triển
khi hoạt động kinh tế được tập trung vào những ngành của những hãng nước ngoài
hoặc những công trình công cộng lớn mà không có tác dụng toàn quốc. Ngay cả ở
các nước phát triển, có nhiều trường hợp khi tăng trưởng, diễn biến các lợi ích của
phát triển được phân bố không đều giữa các vùng.
Tăng trưởng được đánh giá bằng tỉ lệ tăng thu nhập quốc dân (GNP) và sản
phẩm quốc nội (GDP) hàng năm.
Sự phát triển được đánh giá không chỉ bằng GNP hoặc GDP tính bình quân trên
đầu người mà còn bằng một số chỉ tiêu khác phản ánh sự tiến bộ xã hội như: Cơ hội
về giáo dục, nâng cao sức khoẻ cộng đồng, tình trạng dinh dưỡng, nâng cao giá trị
cuộc sống, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường.
Vào cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 của Thế kỷ XX, loài người đã phải
đương đầu với những thách thức lớn do suy thoái về nguồn lực (điều kiện tự
nhiên, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực lao động…) và giảm cấp môi trường.
Trong tình hình đó, quan niệm mới về sự phát triển đã được đặt ra, đó là phát triển
bền vững. Phát triển bền vững là quan niệm mới của sự phát triển, nó lồng ghép
cung cấp nước sạch và nhà ở, giữ gìn sức khoẻ, chống suy dinh dưỡng trong cộng
đồng thông qua các công nghệ thích hợp.
* Xây dựng và thực hiện các chiến lược có người dân tham gia.
Để có sự phát triển bền vững cần phải có các yếu tố sau đây:
* Một hệ thống chính trị đảm bảo sự tham gia có hiệu quả của người dân vào
việc ra quyết định.
* Một hệ thống kinh tế góp phần tạo ra sản phẩm thặng dư và kỹ thuật công
nghệ dựa trên tính tự lập và bền vững.
* Một hệ thống sản xuất đảm bảo phục hồi hệ sinh thái cho sự phát triển.
* Một hệ thống công nghệ làm nền tảng cho xây dựng các giải pháp bền
14
vững, lâu dài.
* Một hệ thống quốc tế đẩy mạnh mối quan hệ bền vững về thương mại và
tài chính.
Có nhiều khái niệm khác nhau về phát triển nông nghiệp bền vững:
- Phát triển nông nghiệp bền vững là gia tăng sản xuất nhằm đáp ứng nhu
cầu lương thực, thực phẩm càng cao và đảm bảo cho giá giảm dần.
- Phát triển nông nghiệp bền vững là duy trì trình độ sản xuất cần thiết đáp
ứng nhu cầu tăng dân số mà không suy thoái môi trường.
- Phát triển nông nghiệp bền vững là duy trì sự cân bằng giữa sự tăng
trưởng và cân bằng sinh thái.
- Phát triển nông nghiệp bền vững được hiểu là tối đa hoá lợi ích kinh tế
trên cơ sở ràng buộc bởi duy trì chất lượng của nguồn lực tự nhiên theo thời gian
và tuân thủ các quy luật sau:
+ Đối với tài nguyên tái sinh sử dụng ở mức thấp hơn hoặc bằng;
+ Đối với tài nguyên không tái sinh tối ưu hoá hiệu quả sử dụng chúng
bằng giải pháp hợp lý từ các yếu tố đầu vào (phân bón, kỹ thuật canh tác )
- Phát triển nông nghiệp bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu tăng
trưởng chung của nền kinh tế nhưng không làm suy thoái môi trường tự nhiên-
điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên.
* Địa hình:
Địa hình là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới tổ chức lãnh thổ sản xuất
nông nghiệp: Vai trò địa hình vùng có tính chất quyết định đến phân bố cây
trồng, biện pháp canh tác, mức độ áp dụng cơ giới hóa sản xuất và ảnh hưởng
đến năng suất lao động.
* Khí hậu.
Khí hậu (bao gồm: ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa ) là nhân tố
ảnh hưởng nhiều đến việc tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp: Các dạng vật
chất sống (thực vật và động vật), chúng chịu sự tác động của các điều kiện tự
nhiên và các nhân tố sinh thái của môi trường. Mỗi loại cây trồng, vật nuôi
trong ngành nông nghiệp có những giới hạn sinh thái nhất định đối với điều
kiện khí hậu. Nếu những tác động của nhân tố khí hậu (ánh sáng, nhiệt độ )
vượt ra ngoài ngưỡng sinh thái của sinh vật thì chúng sẽ chết hoặc chậm phát
triển, gây ảnh hưởng đến năng xuất và hiệu quả lao động. Vì vậy trong quá
trình tổ chức sản xuất nông nghiệp cần phải dựa trên những điều kiện khí hậu
của vùng cụ thể để phân bố cây trồng vật nuôi thích hợp.
* Tài nguyên nước.
16
Nước là một nhân tố không thể thiếu được trong bất kỳ hoạt động sản
xuất nào đặc biệt là nông nghiệp, như sự phân bố cây trồng chịu sự chi phối lớn
bởi điều kiện nhiệt ẩm của môi trường, đặc biệt là đối với nền nông nghiệp
nhiệt đới ở nước ta, nếu thiếu nước cây trồng sẽ không phát triển bình thường
được, năng xuất cây trồng giảm.
* Tài nguyên đất.
Đất đai là đầu vào quan trọng của bất kỳ quá trình sản xuất nào dù là sản
xuất nông nghiệp, là địa bàn trên đó con người tiến hành các hoạt động sản xuất
nông nghiệp, đất đai vừa là tư liệu sản xuất, vừa là đối tượng lao động, năng
suất nông nghiệp chịu ảnh hưởng rất lớn vào việc sử dụng đất đai và các biện
trong nhà kính. Tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cho ngành công nghiệp chế biến
có thể chế biến một số lượng lớn nông sản trong ngành trồng trọt để tạo ra
nhiều sản phẩm tiêu dùng.
* Thành tựu khoa học thế giới.
Thành tựu khoa học thế giới đóng vai trò rất quan trọng với tổ chức lãnh
thổ nông nghiệp. Thành tựu khoa học thế giới sẽ làm cho sản phẩm sản xuất ra
có khả năng cạnh tranh cao hơn, chất lượng ngày càng tốt hơn, giá thành rẻ
hơn.
* Yếu tố thị trường bên ngoài.
Yếu tố thị trường bên ngoài có ý nghĩa quyết định trong quá trình tổ
chức lãnh thổ sản xuất, bởi vì thị trường quyết định số lượng sản phẩm, quy mô
sản xuất và quyết định sự phân bố và tổ chức sản xuất.
1.3 Các mô hình tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
1.3.1 Khái niệm
Con người luôn gắn với một lãnh thổ nhất định, nơi họ sống và làm việc.
Chính ở đây, họ đã tạo ra được một hệ thống các mối quan hệ qua lại hợp lý nhất
giữa con người với tự nhiên. Hệ thống này, một mặt, cho phép con người sử dụng
tốt nhất các nhân tố lãnh thổ của sản xuất với chi phí xã hội thấp nhất, hiệu quả
kinh tế cao nhất và mặt khác, tạo nên các điều kiện thuận lợi cho cuộc sống và lao
động của mình. Đó là bản chất của việc tổ chức xã hội theo lãnh thổ. Tổ chức xã
hội theo lãnh thổ bao gồm hai hình thức chủ yếu: tổ chức nền sản xuất xã hội và tổ
chức môi trường sống của con người, trong đó hình thức thứ nhất giữ vai trò quyết
định.
18
Cùng với ngành công nghiệp, TCLTNN với tư cách là việc tổ chức ngành sản
xuất vật chất, ngành kinh tế then chốt đang được quan tâm nhằm góp phần nâng
cao hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội.
Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp được hiểu là một hệ thống liên kết không gian
của các ngành, các xí nghiệp nông nghiệp và các lãnh thổ dựa trên cơ sở các quy
- Nghiên cứu các hình thức TCLTNN góp phần vào công tác quy hoạch theo
lãnh thổ nền kinh tế quốc dân.
1.3.3 Các mô hình tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
TCLTNN có nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Về đại
thể, có ba hình thức TCLTNN quan trọng nhất. Đó là xí nghiệp nông nghiệp, thể
tổng hợp nông nghiệp và vùng nông nghiệp.
1.3.3.1 Xí nghiệp nông nghiệp
Là một trong các hình thức của TCLTNN, trong đó có sự thống nhất giữa lực
lượng lao động với tư liệu lao động(đất đai) và đối tượng lao động (cây trồng, vật
nuôi) để tạo ra lương thực, thực phẩm cho con người và nguyên liệu cho các
ngành kinh tế. Các nông hộ, trang trại, hợp tác xã nông nghiệp, nông trường quốc
doanh, đồn điền được coi là xí nghiệp nông nghiệp.
a) Hộ gia đình (nông hộ)
Nhìn chung ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam, người ta thừa nhận “hộ” là
“gia đình” và “kinh tế hộ” là “kinh tế gia đình”. Hộ là một đơn vị kinh tế- xã hội
tự chủ cùng một lúc thực hiện nhiều chức năng mà ở các đơn vị kinh tế khác
không thể có được. Hộ là một tế bào của xã hội với sự thống nhất của các thành
viên có cùng huyết tộc, mà mỗi thành viên đều có nghĩa vụ và trách nhiệm làm
tăng thu nhập, đảm bảo sự tồn tại. Hộ còn là một đơn vị sản xuất và tiêu dùng.
Hộ gia đình là hình thức vốn có của sản xuất nhỏ, tồn tại phổ biến ở các nước
đang phát triển thuộc châu Á, trong đó có Việt Nam. Các thành viên trong hộ gia
đình có mối quan hệ gắn bó về huyết thống cũng như về kinh tế, cùng chung sống
trong một mái nhà, cùng tiến hành sản xuất và có chung một nguồn thu nhập. Các
đặc điểm cơ bản của hộ gia đình là:
- Về đất đai, quy mô canh tác nhỏ bé, biểu hiện rõ tính chất tiểu nông. ở ấn Độ
bình quân diện tích đất canh tác < 2ha/hộ, ở Philippin < 3ha, ở Việt Nam từ 0,5ha (ở
miền Bắc), đến 0,6- 1ha ở đồng bằng sông Cửu Long. Ở nước ta, hộ gia đình không
có quyền sở hữu ruộng đất mà chỉ có quyền sử dụng.
- Về vốn, đại bộ phận rất ít, quy mô thu nhập nhỏ, khả năng tích luỹ thấp làm
hạn chế khả năng đầu tư tái sản xuất. Vật tư được mua phục vụ cho sản xuất từ
nghiệp hàng hoá.
- Tư liệu sản xuất (đất đai) thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng (như ở
Việt Nam) của một người chủ độc lập (tức là người có quyền tự chủ trong sản xuất
kinh doanh).
- Quy mô đất đai tương đối lớn, tuy có sự khác nhau giữa các nước. Ví dụ, quy
mô trung bình của trang trại ở Hoa Kỳ là 180ha, ở Anh 71ha, Pháp 29ha, Nhật
1,38ha, Việt Nam 6,3ha. [23]
- Cách thức tổ chức sản xuất tiến bộ, đẩy mạnh chuyên môn hoá (chứ không
21
sản xuất đa canh), tập trung vào những nông sản có lợi thế so sánh và khả năng
sinh lợi cao hơn và vào việc thâm canh (đầu tư tương đối lớn về vốn, công nghệ,
lao động trên một đơn vị diện tích).
- Các trang trại đều có thuê mướn lao động (lao động thường xuyên và lao
động thời vụ).
Ở Việt Nam, trang trại mới phát triển từ đầu thập niên 90 của thế kỉ XX, song
đã tạo ra những biến chuyển mới trong nông nghiệp, nông thôn, tạo điều kiện để
nông nghiệp nước ta chuyển nhanh sang sản xuất hàng hoá. Hiện nay, cả nước có
trên 51,5 nghìn trang trại với các loại hình khác nhau như trang trại nông nghiệp,
trang trại lâm nghiệp, trang trại nông- lâm nghiệp, trang trại lâm- nông- dịch vụ
Về quy mô của trang trại, lớn nhất là 1.000ha và nhỏ nhất từ 2 đến 3ha. [24]
Trang trại có vai trò to lớn trong sản xuất nông nghiệp ở các nước phát triển
bởi vì phần lớn nông phẩm cung cấp cho xã hội được sản xuất ra từ các trang trại.
Còn tại các nước đang phát triển, vai trò tích cực và quan trọng của trang trại thể
hiện rõ nét ở cả ba mặt: kinh tế (phát triển cây trồng vật nuôi có giá trị hàng hoá
cao, tạo nên vùng chuyên môn hoá, tập trung hàng hoá ), xã hội (tạo thêm việc
làm, tăng thu nhập cho người lao động) và môi trường (sử dụng hiệu quả tài
nguyên đất, trồng rừng và bảo vệ rừng, cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái).
c) Hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN)
Hợp tác xã nông nghiệp là hình thức phổ biến trong nền nông nghiệp thế giới ở
quy mô khác nhau, trong đó chủ yếu là các HTX chuyển đổi (từ HTX kiểu cũ) và
các HTX mới thành lập. Các HTX này đều làm dịch vụ cho các hộ nông dân và
các trang trại phù hợp với cơ chế thị trường và luật HTX năm 1996. Các HTX đã
thu hút 1,6 triệu lao động, hơn 6 triệu hộ xã viên, trong đó có 1.459 HTX dịch vụ
làm đất, 4.678 HTX dịch vụ thuỷ nông, 3.301 HTX dịch vụ bảo vệ thực vật, 2.473
HTX dịch vụ giống, 1.756 HTX dịch vụ phân bón. Hầu hết các HTXNN đã đảm
nhiệm những dịch vụ mang tính cộng đồng, trực tiếp phục vụ sản xuất nông
nghiệp. Chất lượng và giá cả dịch vụ do HTXNN cung ứng nói chung tốt và rẻ
hơn so với dịch vụ tư nhân hoặc hộ tự làm. [21]
d) Nông trường quốc doanh (NTQD)
Như một hình thức phổ biến ở các nước XHCN, nông trường quốc doanh là cơ
sở kinh doanh nông nghiệp trên quy mô lớn về đất đai nhằm cung cấp nông sản
cho thị trường trong nước hoặc cho xuất khẩu.
NTQD có những đặc điểm sau đây:
- Là xí nghiệp nông nghiệp của nhà nước, thuộc thành phần kinh tế quốc
doanh.
- Quy mô đất đai lớn (tới vài trăm nghìn ha), được trang bị cơ sở vật chất kĩ
thuật tốt, có hướng chuyên môn hoá rõ, khả năng cơ giới hoá cao.
23
- Mỗi nông trường có bộ máy riêng về quản lí và điều hành sản xuất kinh
doanh. Lao động làm việc trong nông trường được gọi là công nhân nông nghiệp,
được hưởng lương do nhà nước trả.
Ở Việt Nam, NTQD được thành lập chủ yếu ở vùng trung du, trên các cao
nguyên hay là vùng mới khai hoang. Các NTQD hiện nay có sự thay đổi về hình
thức và chức năng. Nhiều nông trường đã giao khoán đất đai, vườn cây, đồi rừng
cho các hộ gia đình.
1.3.3.2 Thể tổng hợp sản xuất lãnh thổ nông nghiệp (TTHSX-LTNN)
TTHSX-LTNN là một hình thức cao của TCLTNN, trong đó áp dụng rộng rãi
phương pháp công nghiệp và vì thế, nông nghiệp có điều kiện kết hợp với công
Vùng nông nghiệp là hình thức cao nhất của TCLTNN, bao gồm trong đó các
hình thức tổ chức lãnh thổ ở cấp thấp hơn.
Thực chất, đây là những lãnh thổ sản xuất nông nghiệp tương đối đồng nhất về
các điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội, được hình thành với mục đích phân bố hợp
lí và chuyên môn hoá đúng đắn sản xuất nông nghiệp trên cơ sở sử dụng đầy đủ và
có hiệu quả nhất các điều kiện sản xuất của các vùng trong cả nước cũng như
trong nội bộ từng vùng.
Việc phân chia các vùng nông nghiệp có ý nghĩa to lớn nhằm phân bố hợp lí
cây trồng, vật nuôi sao cho phù hợp với các điều kiện sinh thái nông nghiệp, điều
kiện kinh tế- xã hội và hình thành các vùng chuyên môn hoá nông nghiệp sản xuất
hàng hoá.
Vùng nông nghiệp là một bộ phận lãnh thổ của đất nước bao gồm những lãnh
thổ có sự tương đồng về:
- Điều kiện sinh thái nông nghiệp (điều kiện khí hậu, đất đai, nguồn nước ).
- Điều kiện kinh tế- xã hội (số lượng, chất lượng và sự phân bố dân cư, lao
động nông nghiệp, kinh nghiệm và truyền thống sản xuất).
- Trình độ thâm canh, cơ sở vật chất kĩ thuật nông nghiệp, chế độ canh tác.
- Cơ cấu sản xuất nông nghiệp, các sản phẩm chuyên môn hoá.
Ở Việt Nam hiện nay có 7 vùng sinh thái nông nghiệp làTrung du và miền núi
Bắc Bộ, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây
Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
1.3.3.4 Nông nghiệp đô thị.
Khái quát về nông nghiệp đô thị:
Vận dụng quan niệm về nông nghiệp đô thị của FAO (1996), UNDP
(1999), RUAF foundation (1999), Luc J.A Mougeot (2002) vào điều kiện
cụ thể của Việt Nam, chúng ta có thể hiểu: nông nghiệp đô thị là một
ngành sản xuất ở trung tâm, ngoại ô và vùng lân cận đô thị, có chức năng
25
trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và phân phối các loại thực phẩm, lương thực và
hoạch tổng thể và có những chương trình, chính sách phát triển nông nghiệp đô
thị. Như vậy, càng ngày nông nghiệp đô thị càng trở nên quan trọng và có những