BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM SỐ 1
Môn: Luật Dân sự Việt Nam – module 2
ĐỀ SỐ 2
Tìm hiểu 03 vụ việc có tranh chấp về quyền tài sản được dùng
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự NHÓM : 01
LỚP : N 09 – TL 3
Hà Nội, 2011
A. ‘/MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, xã hội ngày càng phát triển, các mối quan hệ ngày càng
phức tạp hơn, các mâu thuẩn tranh chấp cũng tăng theo. Đặc biệt các tranh chấp về
giao dịch dân sự. Việc xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự trước hết là dựa vào
sự tự giác của các bên, nhưng trong thực tế, không phải bất cứ ai khi tham gia giao
dịch đều có thiện chí trong việc thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ của mình.
Nhằm nâng cao trách nhiệm của các bên trong thực hiện nghĩa vụ dân sự, pháp luật
cho phép các bên có thể thỏa thuận đặt ra các biện pháp bảo đảm việc giao kết hợp
đồng cũng như việc thực hiện các nghĩa vụ dân sự. Đối tượng của các biện pháp bảo
đảm là những lợi ích vật chất và thường là một tài sản (vật có thực, tiền, giấy tờ trị
giá được bằng tiền và các quyền tài sản hoặc là một công việc phải làm). Nhận thức
được tầm quan trọng của việc sử dụng các biện pháp bảo đảm trong giao dịch dân
sự, nhóm chúng em xin chọn đề tài 02 liên quan đến một trong những đối tượng
được dùng trong các biện pháp bảo đảm là quyền tài sản: “Tìm hiểu 03 vụ việc có
tranh chấp về quyền tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”.
Yêu cầu : Tóm tắt nội dung vụ việc (chỉ rõ nơi xảy ra sự kiện, chủ thể của quan
hệ và những vấn đề tranh chấp); Tòa án đã giải quyết tranh chấp đó hay tranh chấp
giá trị thanh toán.
Đến ngày 18-11-2000, ông đã nhiều lần yêu cầu trả tiền, nhưng ông Soudent
chưa trả tiền nên đã ký “Cam kết trả nợ” và gán căn nhà số 68 Mai Hắc Đế, Hà Nội
cho ông và hứa sẽ làm thủ tục sang tên căn nhà đó cho ông. Sau đó, ông Thuật sửa
chữa nhà và dọn đến đây ở, nhưng vợ chồng ông Soudent không sang tên nhà cho
ông và phủ nhận việc gán nợ ngôi nhà 68 Mai Hắc Đế. Ngày 01-8-2003, ông
Soudent khởi kiện đòi nhà 68 Mai Hắc Đế với lý do ông là người ở nhờ nhà của vợ
chồng ông Soudent.
Việc vay nợ của vợ chồng ông Soudent trong thời gian dài (từ năm 1995 đến
năm 2000) đã thể hiện trong “Giấy vay nợ” và “Cam kết trả nợ”, nhưng vợ chồng
ông Soudent chưa trả nợ. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Soudent
phải trả cho ông số nợ gốc và lãi theo quy định của pháp luật; đồng thời, đề nghị kê
biên, phát mãi một số tài sản hiện có của vợ chồng ông Soudent như: nhà số 68 Mai
Hắc Đế, Hà Nội; nhà số I12, I22, I34 phường Cống Vị, quận Ba Đình, Hà Nội để
bảo đảm cho quá trình xét xử và thi hành án.
3
● Bị đơn là ông Soudent Thavixay và bà Nguyễn Thị Tuyết Hoa (do ông Vũ
Quang Huy đại diện theo ủy quyền) trình bày:
“Giấy vay nợ” ghi ngày 18-8-2000, nhưng ngày đó ông không có mặt ở Việt
Nam. Ông Thuật cho rằng, ông đã dùng con dấu của Công ty BKS, nhưng ông
không biết công ty này. Trong thời gian làm Giám đốc Công ty Liên doanh khách
sạn Hạ Long Dream, do thường xuyên đi công tác xa nên ông Soudent đã ký khống
vào một số giấy tờ để nhân viên chủ động dùng trong công việc. Ông Thuật là nhân
viên của Công ty, đã lợi dụng một số giấy tờ ký khống của ông để điền nội dung
không đúng sự thật rằng ông đã vay nợ ông Thuật.
Cùng với thủ đoạn như trên, ông Thuật đã làm giấy “Cam kết trả nợ” đề ngày
18-11-2000 nhằm chiếm đoạt căn nhà 68 Mai Hắc Đế của vợ chồng ông. Việc ông
Thuật vu khống cho vợ chồng ông cam đoan trả nợ là rất rõ, đó là: cam kết trả nợ
được làm ngày 18-11-2000, trong khi đó đến ngày 05-11-2001 thì vợ chồng ông mới
được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà này, nên vợ chồng ông không thể mang
- Chấp nhận yêu cầu đòi tiền vay của ông Thuật đối với ông Soudent và bà Hoa
do ông Vũ Quang Huy đại diện.
- Buộc vợ chồng ông Soudent và bà Hoa do ông Huy đại diện phải thanh thoán
trả nợ cho ông Thuật số tiền 19.200.000.000 đồng và 550.000 đô la Mỹ (USD) tương
đương 8.706.500.000 đồng và khoản lãi được tính bằng 19.200.000.000 đồng x 56
tháng x 0,3% = 3.225.600.000 đồng. Tổng cộng số tiền ông Soudent và bà Hoa phải
thanh toán cho ông Thuật là 31.132.100.000 đồng.
- Kể từ ngày xét xử sơ thẩm 05-8-2005, ông Soudent và bà Hoa không được
chuyển dịch mua bán diện tích nhà 68 Mai Hắc Đế, Hà Nội và kể từ ngày xét xử phúc
thẩm (20-4-2006) ông Soudent và bà Hoa không được chuyển dịch mua bán diện tích
ngôi nhà số 12,22,34, lô I, phường Cống Vị, Ba Đình, Hà Nội để đảm bảo việc thi
hành án.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí.
Tại quyết định kháng nghị số 236/2007/KN-DS ngày 28-12-2007, Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 86/2006/DSPT
ngày 20-4-2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội; đề nghị Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án phúc
thẩm nêu trên và bản án sơ thẩm số 37/2005/DSST ngày 05-8-2005 của Tòa án nhân
dân thành phố Hà Nội; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét
xử sơ thẩm lại.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị số
236/2007/KN-DS ngày 28-12-2007 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và căn cứ
5
vào khoản 3 Điều 291, khoản 3 Điều 297, khoản 2 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự
để đưa ra quyết định:
- Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 86/2006/DSPTngày 20-4-2006 của Tòa phúc
thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và bản án dân sự sơ thẩm số 37/2005/DSST
ngày 05-8-2005 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về vụ án “Tranh chấp hợp
đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Quang Thuật với bị đơn là ông
trên “Giấy vay nợ” là con dấu Công ty nào; nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp
phúc thẩm không tiến hành xác minh làm rõ. Như vậy, nếu chỉ căn cứ vào “Giấy vay
nợ” đề ngày 18-8-2000. “Cam kết trả nợ” đề ngày 18-11-2000 và chữ ký của ông
Soudent trên Phiếu chuyển tiền ngày 21-8-2000 thì chưa đủ cơ sở cho rằng có việc
ông Thuật cho vợ chồng ông Soudent vay 19.200.000.000 đồng và 550.000 USD.
Về nguồn gốc số tiền cho vợ chồng ông Soudent vay, ông Thuật trình bày rằng
do vợ chồng ông Thuật dành dụm được và huy động vốn từ người thân ông Thuật
(trong đó, mẹ ông Thuật để lại cho ông hơn 300 cây vàng và hơn 100.000.000 đồng,
bà Nguyễn Thị Châu và ông Nguyễn Hữu Ngọc ở nước ngoài chuyển tiền về cho
ông gần 500.000 USD và 5.000.000.000 đồng), còn bà Hương xác nhận là ông Thuật
vay 3.700.000.000 đồng, khoảng 25.000 USD và vàng. Việc vay tiền và chuyển
ngoại tệ từ nước ngoài về với số lượng lớn như vậy, nhưng ông Thuật lại không xuất
trình được tài liệu chứng cứ chứng minh; trong khi đó, trong quá trình tố tụng, ông
Soudent yêu cầu xác minh nguồn gốc số tiền nêu trên, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và
Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ được.
Ngoài ra, “Giấy vay nợ” có ghi vợ chồng ông Soudent dùng số tiền vay của ông
Thuật để mua sắm, tạo dựng nhà cửa và gửi Ngân hàng Vietcombank để chờ đầu tư
dự án, nhưng bà Hoa không ký vào “Giấy vay nợ” này; đồng thời, cũng chưa có tài
liệu nào thể hiện vợ chồng ông Soudent vay tiền cùa ông Thuật sử dụng vào mục
đích chung của gia đình, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc
bà Hoa có trách nhiệm cùng với ông Soudent trả nợ cho ông Thuật là không đúng.
Từ những phân tích trên, cần hủy bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm nêu trên
để xét xử sơ thẩm lại, theo hướng thu thập thêm chứng cứ để làm rõ nội dung nêu
trên, nếu ông Thuật không xuất trình được thêm chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi
kiện của mình thì phải bác yêu cầu của ông Thuật.
II. Vụ việc thứ 2: tại huyện Yên Thành – tỉnh Nghệ An
Nguyên đơn: anh Phạm Quang Bình – 33 tuổi; trú tại Khối 1, thị trấn Yên
Thành – tỉnh Nghệ An.
Bị đơn: anh Ngô Văn Sỹ, 36 tuổi; trú tại xóm Văn Thiên, xã Văn Thành, huyện
Yên Thành, tỉnh Nghệ An.