Nhóm 2: Tổng cung và chu kỳ kinh doanh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA: SAU ĐẠI HỌC
KINH TẾ VĨ MÔ
Đề tài:
TỔNG CUNG VÀ CHU KỲ KINH DOANH
Giảng viên : PGS. TS. Hạ Thị Thiều Dao
Lớp : CH16B02
Nhóm : 02
TP Hồ Chí Minh – 06/2015
1
Nhóm 2: Tổng cung và chu kỳ kinh doanh
DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN NHÓM 02
1) Lê Quốc Huy
2) Nguyễn Hồng Tuyến
3) Nguyễn Hạ Huyền
4) Phạm Ngọc Trinh
5) Vũ Lê Thu Hà
6) Bùi Quốc Huy
7) Đặng Thị Thu Hà
8) Nguyễn Bình Phương
9) Võ Thị Thủy Tiên
10)Nguyễn Thị Bích Thùy
MỤC LỤC
2
Nhóm 2: Tổng cung và chu kỳ kinh doanh
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
Trong quá trình vận động nền kinh tế của một quốc gia có những giai đoạn kinh tế phát
triển thịnh vượng, tăng trưởng đi lên, đến một thời điểm nhất định sự phát triển đạt đến điểm
người lao động trao đổi được thông qua tiền lương danh nghĩa của mình.
Người lao động quan tâm nhất và trước hết là đến tiền lương thực tế vì chính tiền lương
thực tế mới phản ánh mức sống thực tế của họ. Tiền lương thực tế phụ thuộc vào tiền lương
danh nghĩa và sự biến động của giá cả.
Mối quan hệ giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế
Wr = Wn/P = W/P
Wr: Tiền lương thực tế
Wn hoặc W: Tiền lương danh nghĩa
P: Mức giá chung
1.2. Cân bằng cung cầu lao động:
Cung và cầu lao động sẽ quyết định mức lương và số lượng lao động trong một ngành hay một
nền kinh tế.
5
D
n
S
n
W
r
W
0
0
N
0
N
AD
AS
W
L
SL
- Thất nghiệp
không tự nguyện: Là tình trạng với mức lương cứng nhắc, không thay đổi, một quỹ lương nhất
định chỉ thuê một số lượng lao động nhất định, số còn lại muốn đi làm với mức lương đó nhưng
không tìm được việc làm
Sơ đồ 1.3: Thất nghiệp tự nhiên
1.3. Mối quan hệ giữa tổng cung và thị trường lao động
Tổng cung cho biết mối quan hệ giữa GDP thực mà nền kinh tế sản xuất và mức giá. GDP
thực sản xuất phụ thuộc vào yếu tố đầu vào. Trong số các yếu tố đầu vào quan trọng nhất là lao
động. Do vậy tổng cung có mối quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc vào thị trường lao động.
1.4. Quan hệ giữa giá cả, tiền lương, việc làm
Trong nền kinh tế thị trường, giá cả phụ thuộc vào nhiều yếu tố, các yếu tố này quyết định
vị trí, độ dốc của các đường tổng cung và tổng cầu.
Về phía cung, giá cả phụ thuộc nhiều vào tiền công, đặc biệt là trong thời gian ngắn hạn.
Vì ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, tiền công chiếm tỷ lệ cao trong giá thành sản
phẩm. Tiền công lại phụ thuộc vào trạng thái của thị trường lao động, tức là tình trạng thất
nghiệp và số việc làm của nền kinh tế. Giá cả còn phụ thuộc vào giá trị của tài sản cố định, tuy
nhiên trong thời gian ngắn hạn việc thay đổi tiền công tiền lương là yếu tố chủ yếu quyết định
sự thay đổi của giá cả sản phẩm đầu ra của nền kinh tế.
7
Nhóm 2: Tổng cung và chu kỳ kinh doanh
Các nhà kinh tế học cổ điển cho rằng tiền công danh nghĩa và giá cả hoàn toàn linh hoạt,
dẫn đến tiền công thực tế sẽ tự điều chỉnh để giữ cho thị trường lao động luôn cân bằng. Nền
kinh tế luôn ở trạng thái toàn dụng nhân công, không có thất nghiệp không tự nguyện.
Các nhà kinh tế theo trường phái Keynes cho rằng giá cả và tiền công danh nghĩa không
hoàn toàn linh hoạt, thâm chí không thay đổi. Tiền công thực tế do vậy cũng không thay đổi ,
thị trường lao động luôn trong tình trạng có thất nghiệp.
So với giá cả hàng hóa thông thường, thì tiền lương có tính cứng nhắc, nó chỉ điều chỉnh
sau 1 đến 3 năm sau khi có hợp đồng lao động mới. Nguyên nhân là: Các doanh nghiệp trong
ngành công nghiệp, họ định ra thang lương rồi thuê công nhân hạn chế theo mức lương đó.
Thang lương có khuynh hướng giữ nguyên trong một năm.
Y
P
E
0
E
1
P
1
P
0
Nhóm 2: Tổng cung và chu kỳ kinh doanh
tiêu dùng mong muốn mua. Tiền công cũng linh hoạt điều chỉnh cho đến khi nào mọi người
muốn làm việc tại mức tiền công đó đều có việc làm và các doanh nghiệp sử dụng đúng số lao
động mà họ muốn thuê. Khi tiền công được điều chỉnh linh hoạt thì thị trường lao động luôn ở
trạng thái cân bằng, không có thất nghiệp. Nền kinh tế toàn dụng nhân công, nền kinh tế đã sử
dụng hết nguồn lực lao động. Trong ngắn hạn nguồn lao động đã sử dụng hết thì sản lượng sẽ
không tăng nữa và sẽ bằng với mức sản lượng tiềm năng. Từ giả thiết trên nên đường tổng
cung ngắn hạn theo trường phái cổ điển là đường thẳng đứng cắt trục hoành tại mức sản lượng
tiềm năng, mọi sự biến động của tổng cầu chỉ có thể làm tăng (giảm) mức giá chung nhưng
không làm thay đổi sản lượng.
Sơ đồ 1.4: Tổng cung theo trường phái cổ điển
Với mức sản lượng Yp cho trước thì khi tổng cầu tăng từ ADo AD1 chỉ có thể làm
tăng mức giá Po lên P1 xác định vị trí cân bằng Eo E1 mà không làm thay đổi sản lượng Yp.
Ý nghĩa của mô hình cổ điển:
Nền kinh tế luôn đạt trạng thái toàn dụng: Toàn dụng lao động là trạng thái mà ở đó, nền
kinh tế ở trạng thái: tất cả mọi người thuộc lực lượng lao động đều có việc làm. Nền kinh tế chỉ
tồn tại thất nghiệp tự nhiên, nguồn nhân lực trong nền kinh tế được sử dụng đạt hiệu quả tối ưu.
Chính sách kinh tế của chính phủ không có tác dụng. Chính phủ không nên can thiệp vào
nền kinh tế. Vì các chính sách can thiệp của chính phủ chỉ làm tăng giá cả không làm tăng sản
lượng Y.
động, không phải lúc nào cũng cân bằng và trong nền kinh tế luôn có tình trạnh thất nghiệp.
Quan điểm của Keynes
Giá cả và tiền lương hoàn toàn linh hoạt vì:
- Tiền lương được quy định theo hợp động lao động
- Giá cả một số mặt hàng do chính phủ quy định
- Các tổ chức lớn có quyền quyết định giá cả một số sản phẩm
Sơ đồ 1.5: Tổng cung theo quan điểm Keynes
Đường cung về lao động là đường nằm ngang, có độ co giãn hoàn toàn tại mức lương
hiện tại. Do đó, các doanh nghiệp có thể thuê tất cả số lao động muốn mà không ảnh hưởng đến
mức lương (lương không tăng). Như vậy, trong mô hình tổng cung Keynes, giá cả và tiền
lương không đổi.
Ý nghĩa của mô hình Keynes
Thất nghiệp có thể xảy ra, có thể kéo dài
10
Nhóm 2: Tổng cung và chu kỳ kinh doanh
Chính phủ có vai trò quan trọng, can thiệp vào nền kinh tế bằng chính sách kinh tế vĩ mô
Nhược điểm:
Không giải thích được hiện tượng nền kinh tế vừa suy thoái vừa lạm phát
Các nhà kinh tế đã sử dụng 2 quan điểm lý thuyết trên để giải thích sự điều chỉnh của nền
kinh tế trong ngắn hạn và trong dài hạn: Trong ngắn hạn tổng cầu sẽ quyết định sản lượng còn
trong dài hạn mức sản lượng tiềm năng sẽ quyết định sản lượng. Từ kết luận này có thể phân
biệt được các chính sách ngắn hạn để điều chỉnh tổng cầu và chính sách dài hạn tác động đến
mức tiềm năng. Mô hình Keynes mô tả hành vi nền kinh tế trong ngắn hạn, còn mô hình cổ
điển mô tả hành vi nền kinh tế trong dài hạn.
Giả sử rằng có sự gia tăng về tổng cầu AD do chi tiêu chính phủ tăng hay cung tiền tăng,
đường AD dịch chuyển sang phải. Tuy nhiên, đường tổng cung Keynes là đường nằm ngang
nên ảnh hưởng dài hạn là sự thay đổi về thu nhập thực tại mức giá hiện tại P1.
Sơ đồ 1.6: Chính sách tài khoá và tiền tệ có ảnh hưởng đến sản lượng cân bằng
Tóm tắt ảnh hưởng của chính sách tài khoá và tiền tệ theo quan điểm cổ điển và Keynes
Chính Sách Tổng Cung Sản lượng Lãi suất Giá cả
khẳng định rằng những điều chỉnh trong giá cả và tiền lương xảy ra nhanh chóng (rất linh hoạt)
trong khi đó trong mô hình Keynes lại khẳng định giá cả và tiền lương là cứng nhắc. Sự khác
nhau này còn bao hàm cả quan điểm khác nhau về tốc độ điều chỉnh của nền kinh tế. Trong
thực tế, giá cả và tiền lương không hoàn toàn linh hoạt và cũng không hoàn toàn cứng nhắc.
Đường tổng cung AS trong thực tế phải là một đường dốc lên nhất định.
Tổng cung thực tế ngắn hạn
Được xây dựng trên cơ sở kết hợp 3 mối quan hệ sau trong ngắn hạn:
- Giữa việc làm và sản lượng
- Giữa việc làm và tiền công
- Giữa tiền công và giá cả (hay năng suất lao động và giá cả)
Vị trí của đường AS phụ thuộc vào giá cả của thời kỳ trước đó
Đường AS dịch chuyển theo thời gian, phụ thuộc vào sản lượng của nền kinh tế. Nếu sản
lượng kỳ này cao hơn sản lượng tiềm năng, thì sau một thời gian tiền lương sẽ tăng và giá cả sẽ
tăng, đường tổng cung dịch chuyển sang trái
Sơ đồ 1.7: Tổng cung theo thực tế ngắn hạn
12
t
Yp
Sản lượng
Một chu kì
Mở rộng sx
đáyThu hẹp sx
năm
Y
Nhóm 2: Tổng cung và chu kỳ kinh doanh
CHƯƠNG 2: CHU KỲ KINH DOANH
1 Khái niệm chu kỳ kinh doanh (hay còn gọi là chu kỳ kinh tế)
tiến hành nghiên cứu theo cách nhận dạng qua kinh nghiệm thực tế những vấn đề chủ yếu xảy
ra trong các quá trình mở rộng và thu hẹp sản xuất và đãđưa ra được một định nghĩa như sau:
“Chu kỳ kinh doanh là một loại dao động được nhận thấy trong các hoạt động kinh tế
tổng hợp của những quốc gia mà tổ chức công việc chủ yếu của họ diễn ra trong các đơn vị
sản xuất kinh doanh: một chu kỳ gồm có các quá trình mở rộng sản xuất xuất hiện vào các
khoảng thời gian giống nhau ở rất nhiều hoạt động kinh tế, kế theo là các giai đoạn giảm sút,
thu hẹp và các giai đoạn phục hồi tương tự mà những giai đoạn này hợp nhất vào giai đoạn
mở rộng của chu kỳ tiếp theo; quá trình thay đổi liên tiếp này thường xuyên diễn ra nhưng
không mang tính định kỳ; độ dài của các chu kỳ kinh doanh thường từ hơn 1 năm tới 10 hoặc
20 năm; chúng không thể chia được thành các chu kỳ ngắn hơn mà những chu kỳ này có những
đặc tính tương tự với biên độ dao động xấp xỉ của chính chúng.”
Điểm chính ở đây là sự cùng vận động của nhiều biến kinh tế hoặc các quá trình kinh tế
xuất hiện mang tính đồng bộ trong quá trình diễn biến của bất kỳ chu kỳ kinh doanh nào. Rất
nhiều loại hoạt động khác nhau có xu hướng phát triển và tác động lẫn nhau. Trạng thái tự
nhiên của chu kỳ kinh doanh phụ thuộc và thay đổi theo những đặc điểm chủ yếu của nền kinh
tế, xã hội và thể chế chính trị.
14
Nhóm 2: Tổng cung và chu kỳ kinh doanh
15
Đường khuynh
hướng
Một chu kì
GDP
Thực tế
Thời gian (năm)
Đáy
Đỉnh
Phục hồi
Suy thoái
Hưng thịnh
đặt hàng từ nhà cung cấp. Những nhà cung cấp này sẽ khởi động lại việc mở rộng sản xuất và
tuyển nhân viên.Nhiều công ăn việc làm hơn sẽ giúp người lao động cải thiện thu nhập và sau
đó tăng chi tiêu, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng.
Giai đoạn 4: Đạt đỉnh (Giai đoạn Hưng thịnh, bùng nổ): Là giai đoạn bắt đầu từ điểm
ngang bằng với đỉnh của chu kỳ trước đến đỉnh của chu kỳ hiện tại.
Lúc này, GDP thực của nền kinh tế không ngừng tăng trưởng thêm, đạt đỉnh và bắt đầu có
dấu hiệu đi xuống. Tại đỉnh của chu kỳ, hoạt động kinh doanh sẽ ngừng mở rộng thêm, việc
làm, tiêu dùng và sản xuất của nền kinh tế đạt đến mức cao nhất.Giống như điểm đáy của suy
thoái, thời kỳ đạt đỉnh này có thể dài hoặc ngắn. Khi thời kỳ đạt đỉnh kéo dài thì chúng ta sẽ
được hưởng lợi từ một giai đoạn thịnh vượng của nền kinh tế.
2.2. Chu kỳ kinh doanh 3 pha:
Trước đây sự biến động này diễn ra theo trình tự bốn pha lần lượt là suy thoái, khủng
hoảng, phục hồi, và hưng thịnh. Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện đại, khủng hoảng theo nghĩa
kinh tế tiêu điều, thất nghiệp lan tràn, các nhà máy đóng cửa hàng loạt,v.v không xảy ra nữa.
Vì thế toàn bộ giai đoạn GDP giảm đi, tức là giai đoạn suy thoái và khủng hoảng, khi nền kinh
tế thu hẹp lại, được gọi duy nhất là pha suy thoái.
- Suy thoái: là pha trong đó GDP thực tế giảm đi. Ở Mỹ và Nhật Bản, người ta quy định rằng,
khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm suốt hai quý liên tiếp thì mới gọi là suy
thoái.
- Phục hồi: là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước khi suy thoái.
17
Đỉnh
Thu hẹp
Suy thoái
Chạm đáy
Phục hồi
Mở rộng
Nhóm 2: Tổng cung và chu kỳ kinh doanh
- Hưng thịnh (bùng nổ):Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc
suy thoái, nền kinh tế đang ở pha hưng thịnh. Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái
- Giai đoạn 1: cho thấy nền kinh tế thu hẹp và trái phiếu có xu hướng đi lên do lãi suất giảm.
Suy yếu kinh tế dẫn đến việc chính phủ thực hiện các chính sách nới lỏng tiền tệ và hạ thấp lãi
suất, điều này làm tăng đối với trái phiếu.
- Giai đoạn 2: Đánh dấu một đáy trong nền kinh tế và cả thị trường chứng khoán. Mặc dù
điều kiện kinh tế đã ngừng xấu đi nhưng nền kinh tế vẫn không ở giai đoạn mở rộng hoặc thực
sự phát triển. Tuy nhiên, cổ phiếu được dự đoán một giai đoạn mở rộng của đáy trước khi kết
thúc giai đoạn suy yếu (thị trường chứng khoán thường đi trước nền kinh tế 6-9 tháng).
- Giai đoạn 3: Cho thấy một cải tiến lớn trong điều kiện kinh tế cũng như chu kỳ kinh doanh
chuẩn bị bước vào một giai đoạn mở rộng. Cổ phiếu đã tăng lên và hàng hóa hiện tại dự đoán
một giai đoạn mở rộng và giá có xu hướng đi lên.
19
Nhóm 2: Tổng cung và chu kỳ kinh doanh
- Giai đoạn 4:Đánh dấu một giai đoạn phát triển đầy đủ. Cả cổ phiếu và hàng hóa đang tăng
lên, nhưng trái phiếu lại đi xuống vì việc mở rộng làm tăng áp lực lạm phát. Lãi suất bắt đầu
tăng cao hơn để chống lại áp lực lạm phát.
- Giai đoạn 5: Đánh dấu một đỉnh cao trong tăng trưởng kinh tế và thị trường chứng khoán.
Mặc dùviệc mở rộng tiếp tục, nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ chậm hơn vì lãi suất tăng cao
và giá cả hàng hóa tăng cao gây ra nhiều tổn thất.Cổ phiếu dự đoán một giai đoạn thu hẹp vì đã
tạo đỉnh trước khi giai đoạn mở rộng thực sự kết thúc. Hàng hóa vẫn ở mức cao và tạo đỉnh sau
thị trường chứng khoán.
- Giai đoạn 6: Đánh dấu sự suy giảm trong nền kinh tế như các chu kỳ kinh doanh chuẩn bị
để di chuyển từ một giai đoạn mở rộng sang một giai đoạn suy thoái. Cổ phiếu có xu hướng đi
xuống và giá cả hàng hóa hiện tại cũng thấp hơn trước nhu cầu giảm từ các nền kinh tế đang
xấu đi.
Đây là chu kỳ kinh doanh lý tưởng trong một môi trường lạm phát. Cổ phiếu và trái phiếu
cùng đi lên trong giai đoạn 2 và 3. Tương tự vậy, cả hai đều giảm trong giai đoạn 5 và 6. Điều
này sẽ không phải là trường hợp đúng trong một môi trường giảm phát, khi trái phiếu và cổ
phiếu sẽ di chuyển theo hướng ngược nhau.
Về cơ bản thì việc phận chia các pha trong chu kỳ kinh doanh của Martin Pring cũng
giống như trên tuy nhiên đánh giá của ông là dựa vào mối quan hệ trong liên thị trường nên có
nhiều thập kỷ thường là tiềm năng sản xuất và tổng mức cung, chứ không phải tổng mức cầu
của một năm nào đó. Nguồn gốc làm cho sản lượng tiềm năng tăng lên thường được phân ra
làm hai loại: loại thứ nhất là tăng mức đầu vào (vốn, lao động, tài nguyên ); loại thứ hai là tiến
bộ của các lĩnh vực khoa học đặc biệt là khoa học công nghệ. Loại nguồn thứ hai có xu hướng
vận động đi lên không ngừng, ngày càng giữ vai trò trọng yếu hơn, nhất là trong những thập kỷ
gần đây.
Đặc trưng thứ hai: các chủ doanh nghiệp tích luỹ học hỏi thêm được nhiều kinh nghiệm,
tri thức hơn trong việc đối phó với chu kỳ kinh doanh làm cho biến động kinh tế diễn ra ít sóng
gió hơn.
Đặc trưng thứ ba: có thể là do những cú sốc bên ngoài xảy ra bất thường, không lệ thuộc
vào nội tình bên trong hệ thống kinh tế của mỗi quốc gia.
21
Nhóm 2: Tổng cung và chu kỳ kinh doanh
Trong thực tế, mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh ở nước nào cũng thế, đều có những
hiện tượng đặc thù xảy ra trở thành những đặc điểm để nhận dạng. Như với giai đoạn suy giảm,
thường có những hiện tượng sau xuất hiện:
- Hàng tồn kho thường được thanh toán vào khởi đầu giai đoạn; ít lâu sau đó, vốn đầu tư
kinh doanh vào các nhà máy và các máy móc trang thiết bị cũng giảm mạnh - suy giảm loại
vốn này là hiện tượng dễ thấy nhất.
- Cầu về lao động giảm mạnh, đầu tiên là giảm sút về số giờ làm việc bình quân ngày,
tuần, tháng , sau đó là giãn thợ và dẫn đến thất nghiệp cao hơn.
- Giá cả các mặt hàng nhạy cảm thường giảm.
- Lãi kinh doanh giảm mạnh.
- Giá chứng khoán giảm, vì những người đầu tư trên thị trường loại này khá nhạy bén cảm
nhận được điềm xấu.
- Yêu cầu tín dụng giảm, kéo theo lãi suất giảm.
Giai đoạn tăng trưởng thì có hình ảnh ngược lại của giai đoạn suy giảm, cho nên những
đặc trưng cho suy giảm xảy ra theo chiều ngược lại ở giai đoạn tăng trưởng.
4. Ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh
Chu kỳ kinh doanh là những biến động không mang tính quy luật. Không có hai chu kỳ
Lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế: lập luận rằng những biến động tích cực hay tiêu cực
vềnăng suất lao động trong một khu vực có thể lan tỏa trong nền kinh tế và gây ra những dao
động có tính chu kỳ. Những người ủng hộ lý thuyết này là nhà kinh tế học đoạt giải
Nobel năm 2004 Edward Prescott, Charles Prosser,…
b. Các nhân tố bên ngoài hệ thống kinh tế
Các nhân tố bên ngoài kinh tế như là chính trị, thời tiết, dân số, chiến tranh,… gây nên
những cú sốc ban đầu. Những cú sốc này sau đó truyền vào nền kinh tế. Các yếu tố bên trong
vốn chứa đựng những yếu tố gây ra chu kỳ kinh doanh, phản ứng lại khuyếch đại thành những
chu kỳ kinh doanh lặp đi lặp lại.
Trong đó một trong những cơ chế gây ra chu kỳ kinh doanh là tác động qua lại giữa số
nhân Keynes và nhân tố gia tốc.
Nguyên nhân số nhân – gia tốc của chu kỳ kinh doanh:
23
Nhóm 2: Tổng cung và chu kỳ kinh doanh
Thuyết mô hình số nhân – gia tốc đề xuất cách giải thích chu kỳ dựa vào một cú sốc bên
ngoài, được lan truyền bởi số nhân cùng với nhân gia tốc, tạo nên sự dao động lên xuống của
sản lượng.
- Số nhân Keynes: là hệ số phản ánh lượng thay đổi của sản lượng khi tổng cầu thay đổi một
đơn vị. Một trong các yếu tố năng động làm thay đổi tổng cầu là đầu tư của tư nhân (I). Theo
Samuelson, sự thay đổi trong đầu tư vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của chu kỳ kinh doanh.
Là nguyên nhân bởi vì việc gia tăng hay giảm bớt đầu tư sẽ dẫn đến sự gia tăng hay sụt giảm
của sản lượng. Tác động này được thể hiện bằn mô hình số nhân ∆ Y = m’. ∆ AD. Là kết
quả vì trong các chu kỳ kinh doanh, sản lượng liên tục tăng lên và giảm xuống. Khi sản lượng
thay đổi, đầu tư cũng thay đổi theo. Tác động của sản lượng làm thay đổi đầu tư được gọi là
nhân tố gia tốc.
- Nhân tố gia tốc: là một lý thuyết nói về các nguyên nhân quyết định đầu tư ròng. Đây là
nguyên nhân chủ yếu chi phối các chu kỳ kinh doanh. Đầu tư ròng tăng khi sản lượng tăng
(tăng theo mô hình số nhân), thu nhập tăng, đầu tư tăng lại làm cho sản lượng tăng. Ngược lại
đầu tư ròng giảm thì làm cho sản lượng giảm (giảm theo mô hình số nhân), sản lượng giảm thì
đầu tư ròng giảm.
A
S
Nhóm 2: Tổng cung và chu kỳ kinh doanh
5.2. Biện pháp
Chu kỳ kinh doanh khiến cho kế hoạch kinh doanh của khu vực tư nhân và kế hoạch kinh
tế của nhà nước gặp khó khăn. Việc làm và lạm phát cũng thường biến động theo chu kỳ kinh
tế. Đặc biệt là trong những pha suy thoái, nền kinh tế và xã hội phải gánh chịu những tổn thất,
chi phí khổng lồ. Vì thế, chống chu kỳ là nhiệm vụ được nhà nước đặt ra. Tuy nhiên, vì cách lý
giải nguyên nhân gây ra chu kỳ giữa các trường phái kinh tế học vĩ mô không giống nhau, nên
biện pháp chống chu kỳ mà họ đề xuất cũng khác nhau.
- Chủ nghĩa Keynes cho rằng chu kỳ kinh tế hình thành do thị trường không hoàn hảo, khiến
cho tổng cầu biến động mà thành. Do đó, biện pháp chống chu kỳ là sử dụng chính sách quản
lý tổng cầu. Khi nền kinh tế thu hẹp, thì sử dụng các chính sách tài chính và chính sách tiền
tệ nới lỏng. Khi nền kinh tế khuếch trương thì lại chuyển hướng các chính sách đó sang thắt
chặt.
Sơ đồ 2.4: Tác động tổng cầu lên sản lượng tiềm năng
Sơ đồ 2.4 minh họa một sự suy thoái do tổng cầu giảm: tổng cầu dịch chuyển từ AD sang AD'
khiến cho sản lượng giảm từ Q xuống Q' và giá cả giảm từ P đến P' (lạm phát giảm).
-
25