ảnh hưởng của kỹ thuật canh tác IPM đến xoài thanh ca trong mô hình vườn đồi - Pdf 28


TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

ẢNH HƯỞNG CỦA KỸ THUẬT CANH TÁC IPM ĐẾN
XOÀI THANH CA TRONG MÔ HÌNH VƯỜN ĐỒI
Ở XÃ BA CHÚC – TRI TÔN – AN GIANG Chủ nhiệm đề tài: Th.S NGUYỄN VĂN MINH


Long Xuyên, tháng 4 năm 2009 CẢM TẠ Chân thành cám ơn:
- Chính quyền địa phương, Hội nông dân Thị trấn Ba Chúc đã tạo mọi điều kiện về tổ
chức hội thảo, phỏng vấn nông hộ và tạo mọi thuận lợi trong quá trình thực hiện nghiên cứu
đề tài về cây xoài.
- Gia đình anh Nguyễn Ngọc Ngởi đã hợp tác và hỗ trợ phương tiện, địa điểm vườn
xoài làm thí nghiệm.
- Các đồng sự trong Bộ Môn Khoa Học Cây Trồng đã góp công sức vào quá trình thực
hiện trong đó có các thầy cô Trần Văn Khải, Phạm Huỳnh Thanh Vân, Võ Thị Xuân Tuyền,
Trịnh Hoài Vũ đã sát cánh bên tôi từ những ngày đầu vừa mới triển khai nghiên cứu.

Chủ nhiệm đề tài

“Ảnh hưởng của kỹ thuật canh tác IPM đến xoài Thanh Ca trong mô hình vườn đồi ở
TT. Ba Chúc - Tri Tôn - An Giang” được tiến hành nhằm giải quyết vấn đề trên.
Sử dụng PRA, bảng phỏng vấn các nông hộ trồng xoài để phân tích hiện trạng canh
tác, quản lý sâu bệnh có liên quan đến IPM và bố trí thí nghiệm lô phụ (Split-plot design) 2
nhân tố gồm nhân tố phụ (có hoặc không sử dụng kỹ thuật canh tác IPM) và nhân tố chính (2
loại hoá chất XLRH: nitrat kali và fotfer-X) để xác định hiệu quả của kỹ thuật canh tác IPM
và loại hoá chất XLRH. Số liệu được phân tích ANOVA và LSD bằng phần mềm MSTATC.
Kết quả cho thấy:
Vùng nghiên cứu có tập quán trồng giống xoài Thanh Ca từ rất lâu đời do thích hợp
với điều kiện đất đai, thời tiết. Thường đất trồng xoài tập trung ở ruộng trên và chân núi. Mỗi
hộ có khoảng 5 – 20 gốc xoài từ 10-15 tuổi. Đa số trồng xoài bằng hột, rất ít sử dụng phân
hoá học nhưng dùng phân hữu cơ tương đối cao (40%). Thường vườn xoài được để tự nhiên ít
chăm sóc và không tỉa cành nhánh nên vườn rất dày và nhiều sâu bệnh. Có đến 68% hộ sử
dụng thuốc BVTV nhưng xử lý ra hoa chỉ 14% số hộ. Sâu hại quan trọng gồm rầy bông xoài,
bọ trĩ được nông dân dùng Actara, Bassan để phòng trị và bệnh thán thư trị bằng Antracol.
Đa số nông dân chưa hiểu biết gì về khái niệm phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) trên
cây xoài. Kỹ thuật XLRH mùa nghịch còn tương đối mới. Nguồn tiếp cận thông tin chủ yếu là
các thương lái mua xoài lá, còn qua đài, báo rất ít. Thiếu nước tưới là yếu tố hạn chế lớn nhất
của hộ trồng xoài. Trình độ học vấn thấp làm chậm tiếp thu tiến bộ kỹ thuật mới. Tuy nhiên,
đất đai, thời tiết, giao thông thuận hợp là những ưu thế của vùng có khả năng thành lập HTX,
trang trại xoài và cây ăn trái có giá trị cao, tăng thu nhập cho nông dân.
Có 3 loài sâu bệnh hại quan trọng trên các lô có và không áp dụng KTCT IPM tuần tự
là rầy bông xoài (95,5% so 30,2 %), sâu đục trái (55,5% so với 20,5%), bệnh thán thư lá (50%
so 10%) và bệnh thán thư trái (20% so 0%). Trọng lượng trái trung bình của các nghiệm thức
có áp dụng KTCT IPM là 84,67 kg/cây khác biệt có ý nghĩa thống kê so với không áp dụng.
Không có sự khác biệt thống kê giữa 2 loại thuốc XLRH là nitrat kali (67,17 kg/cây) và fotfer
(64,17 kg/cây) vì cây xoài Thanh Ca rất dễ đáp ứng với các loại thuốc XLRH. Lợi nhuận của
KTCT IPM (474.652 đ) cao hơn 1,8 lần so với không áp dụng (264.290 đ). Lãi/ vốn (4,02 so
với 4,24) và lãi/ vật tư (9,9 so với 11,71) thấp hơn nhưng lãi/ lao động cao hơn (6,78 so với
6,69), và MRR = 3,78 ≥ 2,0 rất cao có thể hấp dẫn khuyến cáo nông dân làm theo qui trình.

II. Nội dung nghiên cứu..……………………………………………………….. 1
B ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU……………………………….. 2
C. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………………….. 2
I. Cơ sở lý luận……………………………………………….……………...….. 2
1.1 Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)……………………………………….....….. 2
1.2.1 IPM là gì ? …………………………………………………….………….….. 2
1.2.2 Lịch sử IPM…………………………………………………….…………….. 3
1.2.3 Các đặc trưng của IPM……………………………………………………….. 4
1.2.4 Các nguyên lý và nguyên tắc của IPM……………………………………….. 5
1.2.5 Các yêu cầu của IPM……………………………………………………...….. 5
1.3 Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây ăn trái…………………………….. 8
1.3.1 Biện pháp sinh học………………………………………………………..….. 8
1.3.2 Biện pháp kỹ thuật………………………………………………………...….. 8
1.3.2.1 Chọn giống ……………………………………………………………………………
8
1.3.2.2 Nhân giống ……………………………………………………………………………
8
1.3.3 Biện pháp canh tác………………………………………………………..….. 10
1.3.3.1 Khử giống trước khi trồng …………………………………………………………
10
1.3.3.2 Cải thiện môi trường nơi trồng………………………………………………………
10
1.3.3.3 Chọn mật độ thích hợp………………………………………………………………
10
1.3.3.4 Tỉa thoáng tán…………………………………………………………………………
10
1.3.3.5 Xen canh………………………………………………………………………………
10
1.3.3.6 Bón phân cân đối, đầy đủ……………………………………………………………
10

1.5.5.2 Vấn đề tạo tán, tỉa cành………………………………………………………………
14
1.5.5.3 Giống xoài………………………………………………………………………………
15
1.5.5.4 Tiến bộ khoa học kỹ thuật về canh tác xoài………………………………………
15
1.5.5.5 Tay nghề của các nhà vườn…………………………………………………………
15
1.5.5.6 Sử dụng thuốc trừ dịch hại……………………………………………………………
15
1.5.5.7 Phương tiện và kỹ thuật áp dụng thuốc bảo vệ thực vật…………………………
16
1.6 Tình hình dịch hại trên xoài………………………………………………........ 16
1.6.1 Sâu hại trên xoài………………………………………………………………. 17
1.6.1.1 Sâu đục trái (hột) xoài Deanolis albizonalis………………………………………
17
1.6.1.2 Rầy bông xoài…………………………………………………………………………
18
1.6.1.3 Sâu đục ngọn, chồi và cành non Dudua aprobola (Meyrick) …………………
18
1.6.1.4 Bọ cắt lá Deporaus marginatus (Pascoe) …………………………………………
19
1.6.1.5 Sâu ăn bông xoài Thalassodes falsaria (Geometridae – Lepidoptera)…………
19
1.6.1.6 Sâu ăn lá………………………………………………………………………………
19
1.6.1.7 Dòi đục trái Bactrocera………………………………………………………………
20
1.6.1.8 Bù lạch…………………………………………………………………………………
20


CHƯƠNG II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ...

32
2.1 Lịch sử các sự kiện về mô hình canh tác xoài…………………………….….. 32
2.2 Lịch thời vụ và chăm sóc xoài……………………………………………….. 33
2.3 Phân bố và mặt cắt sinh thái vùng trồng xoài……………………………..….. 34
2.4 Hiện trạng canh tác……………………………………………………….….. 34
2.4.1 Đặc điểm tình hình canh tác………………………………………………….. 34
2.4.2 Kỹ thuật canh tác và chăm sóc vườn trồng……………………………….….. 36
2.4.3 Tình hình dịch hại…………………………………………………………….. 37
2.4.4 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật…………………………………….. 38
2.5 Tình hình áp dụng IPM và tiến bộ kỹ thuật trên xoài……………………..….. 38
2.6 Mối quan hệ giữa hộ trồng xoài với các định chế nông thôn……………..….. 40
2.7 Phân tích SWOT của mô hình kinh tế vườn xoài……………………………... 41
2.7.1 Kết quả SWOT………………………………………………………………... 41
2.7.2 Chiến lược SWOT………………………………………………………...….. 43

v
2.7.2.1
Chiến lược SO: Phát huy thuận lợi và cơ hội để phát triển mô hình vườn xoài
43
2.7.2.2
Chiến lược WT: Khắc phục khó khăn và rủi ro để hoàn thiện mô hình xoài…
43
2.8 Phân tích xu hướng phát triển kinh tế vườn xoài………………………….….. 43
2.9 Hiệu quả của kỹ thuật canh tác và cơ giới của IPM trên xoài……………….... 44
2.9.1 Tình hình sâu bệnh ở điểm thí nghiệm………………………….…………….. 44
2.9.2 Ảnh hưởng của kỹ thuật canh tác IPM và loại thuốc xử lý ra hoa …………… 45
2.9.3 So sánh hiệu quả kinh tế giữa có và không áp dụng kỹ thuật canh tác IPM….. 46 viDANH SÁCH BẢNG
Tên bảng Trang
Bảng 1.1 Dịch hại phổ biến và biện pháp quản lý tổng hợp trên cây xoài………….. 23
Bảng 1.2 Các công cụ của PRA được sử dụng nghiên cứu…………….………….... 28
Bảng 2.1 Lịch sử các sự kiện về mô hình kinh tế vườn xoài ở Ba Chúc…………… 32
Bảng 2.2 Đặc điểm vườn điều tra nông dân ……………………............................... 34
Bảng 2.3 Kỹ thuật canh tác và chăm sóc vườn trồng của nông dân ………...…..….. 36
Bảng 2.4 Tỉ lệ vườn có sâu bệnh và mức độ thiệt hại ……..…..……………………

37
Bảng 2.5 Tình hình sử dụng thuốc BVTV của nông dân xã Ba Chúc ………........... 38
Bảng 2.6 Các yếu tố liên quan đến áp dụng IPM và kỹ thuật mới của hộ trồng xoài 39
Bảng 2.7 Phân tích thuận lợi, khó khăn, cơ hội và rủi ro của mô hình vườn xoài …. 42
Bảng 2.8 Dự báo các yếu tố liên quan đến tương lai phát triển kinh tế vườn xoài ở
TT. Ba Chúc – Tri Tôn – An Giang.........……………………………........ 44
Bảng 2.9 Thành phần và mức độ phổ biến của côn trùng gây hại trên các lô thí
nghiệm xoài Thanh Ca ở Ba Chúc - Tri Tôn - An Giang………………….. 45
Bảng 2.10 Ảnh hưởng của kỹ thuật canh tác và cơ giới trong biện pháp quản lý dịch
hại tổng hợp (IPM) và loại thuốc xử lý ra hoa lên trọng lượng trái xoài thu
hoạch ở TT. Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang …………………………………

46
Bảng 2.11 Hiệu quả kinh tế của kỹ thuật canh tác IPM so với không áp dụng………... 47


viii


MỞ ĐẦU

Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn dự đoán diện tích trồng xoài tại Việt
Nam sẽ gia tăng đến mức 150.000 ha, với sản lượng dự kiến đạt được là 1.500.000 tấn trong
năm 2010 (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 1998). Diện tích cây xoài ở An Giang
năm 2006 là 3.847 ha tăng vượt mức so với năm 2004 chỉ có 1.897,5 ha và đạt sản lượng
8.514 tấn so với năm 2004 chỉ có 4.640 tấn (Niên Giám Thống Kê An Giang, 2006). Điều đó
cho thấy tầm quan trọng của cây xoài trong phạm vi của tỉnh. Mặc dù được trồng từ rất lâu
đời tại Việt Nam nhưng nhìn chung năng suất bình quân của xoài không cao, chất lượng trái
cũng chưa đạt tiêu chuẩn chung xuất khẩu. Tại ĐBSCL trong những năm gần đây đã có
những tiến bộ kỹ thuật như ra hoa trái vụ; một số cây đầu dòng đã được xác định và nhân
giống vô tính; các dịch hại thường xuyên làm thất thu năng suất cây xoài cũng được xác
định,… Tuy nhiên thực tế sản xuất đã cho thấy nhiều nhà vườn đang gặp rất nhiều khó khăn
trong việc canh tác xoài sao cho có hiệu quả kinh tế và chất lượng cao. Một trong những khó
khăn lớn của các nhà vườn là vấn đề dịch hại trên xoài. Cho đến nay, để đối phó với các đối
tượng này, nhà vườn chủ yếu dựa vào thuốc bảo vệ thực vật (BVTV). Trong những năm qua
mặc dù phải sử dụng thường xuyên với khối lượng lớn thuốc BVTV nhưng nhiều nhà vườn
đã không đạt yêu cầu mong muốn, trái lại tại một số nơi dịch hại còn bộc phát dữ dội hơn.
Theo chiều hướng phát triển một nền nông nghiệp bền vững, có giá trị kinh tế cao, vấn đề sản
xuất xoài sạch là một hướng đi không thể thiếu và đây cũng là một trong những trở ngại rất
lớn cho vấn đề sản xuất xoài hiện nay tại Việt Nam. Để sản xuất được xoài “sạch”, điều quan
trọng hiện nay là phải hạn chế sử dụng hoá chất BVTV phát huy hiệu quả tổng hợp của các
biện pháp an toàn sinh thái khác,… hay nói khác đi là biện pháp quản lý dịch hại theo IPM.
Tuy nhiên việc áp dụng IPM trên xoài không phải là một vấn đề đơn giản không những cho
các nhà vườn tại Việt Nam mà cũng là một vấn đề khó khăn cho nhiều nước trong khu vực.
Thị trấn Ba Chúc huyện Tri Tôn thuộc vùng Bảy Núi thường có tập quán trồng giống
xoài Thanh Ca thích hợp với điều kiện đất đai vùng cao thuộc loại đất xám nghèo dinh dưỡng,
không có nước tưới chỉ lệ thuộc hoàn toàn vào nước mưa. Cho nên, dù giá trị thương mại của
giống xoài nầy không cao nhưng vẫn được bà con nông dân trồng phổ biến. Trong những năm
gần đây, một số hộ nhà vườn đã bước đầu áp dụng biện pháp xử lý ra hoa (XLRH) trái vụ trên

IPM là một chiến lược phòng trừ dịch hại dựa trên việc xác định ngưỡng kinh tế khi
mật số dịch hại tiến gần đến mức cần thiết phải áp dụng các biện pháp để tránh giảm lợi
nhuận. Nghĩa là giá trị dự đoán về sự tổn hại cây trồng xảy ra vượt quá chi phí kiểm soát dịch
hại (Frisbie và Adkisson, 1985).
Từ công lao lãnh đạo việc phát triển và mở rộng IPM trên toàn thế giới, Adkisson và
Smith nhận được giải thưởng Lương thực thế giới năm 1997. Hai ông định nghĩa IPM như
sau: “ Trong nông nghiệp, IPM là một chiến lược kiểm soát dịch hại sử dụng một loạt các
phương pháp bổ sung như: công cụ cơ giới, công cụ vật lý, sự quản lý di truyền, sinh học,
canh tác và hoá học. Các phương pháp nầy được thực hiện trong ba giai đoạn: phòng trừ,
quan sát và can thiệp. Nó là một phương pháp tiếp cận sinh thái với mục tiêu chính là giảm
hoặc loại trừ một cách có ý nghĩa việc sử dụng thuốc BVTV” (
IPM là một cách tiếp cận nhạy cảm với môi trường và có hiệu quả quản lý dịch hại khi
kết hợp các biện pháp thông thường. Chương trình IPM sử dụng những thông tin toàn diện và
phổ biến về dòng đời của dịch hại và sự tương tác của chúng với môi trường. Những thông tin
nầy kết hợp với những biện pháp kiểm soát dịch hại hiện có được dùng để quản lý dịch hại
bởi các phương tiện kinh tế nhất, và với những rủi ro có thể có thấp nhất cho con người, tài
sản và môi trường.
Theo Rainer và ctv (1994) thì quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là một hệ thống quản lý
dịch hại mà trong khung cảnh cụ thể của môi trường và những biến động quần thể của các
loài gây hại, sử dụng tất cả các kỹ thuật và biện pháp thích hợp có thể được, nhằm duy trì mật
độ của các loài gây hại ở dưới mức gây ra thiệt hại kinh tế.
Quản lý dịch hại tổng hợp cũng có thể định nghĩa là một hệ thống các biện pháp
phòng trừ hợp lý về kinh tế và vững bền, dựa trên sự phối hợp các biện pháp trồng trọt, sinh
học di truyền chọn giống và hoá học nhằm đạt được sản lượng cây trồng cao nhất và tác hại
của môi trường ít nhất (Oudejans, 1991, trích dẫn bởi Nguyễn Công Thuật 1996)
Các biện pháp trên cần được sử dụng phối hợp với nhau và ở mức độ thích hợp tuỳ
theo từng điều kiện cụ thể về tình hình dịch hại, khả năng chịu đựng và đền bù cả cây trồng,
điều kiện đất đai, thời tiết khả năng về kinh tế,… phối hợp ở đây chủ yếu là sử dụng nhiều
biện pháp để hỗ trợ cho nhau, tăng hiệu quả phòng trừ, không nên chỉ đơn thuần dựa vào một
biện pháp, nhất là không nên chỉ dựa vào biện pháp hoá học. Mức độ thích hợp tức là không

pháp trước đây không làm được. Kết quả là thuốc BVTV đã góp phần một cách có ý nghĩa
vào việc gia tăng năng suất trong thập niên 1940 - 1960. Việc sử dụng nông dược, đặc biệt là
thuốc trừ sâu, phát triển rất nhanh. Nhiều nông dân bắt đầu áp dụng thuốc trừ sâu theo lịch
đều đặn mà rất ít chú ý đến sự lây nhiễm thật sự. Kết quả, các dòng kháng thuốc đã phát triển.
Nông dược, đặc biệt là thuốc trừ sâu và thuốc trừ nấm, làm bộc phát các giống có lợi nào đó,
thường làm xuất hiện các loài ăn mồi có khi còn nguy hiểm hơn vấn đề dịch hại. Nhiều loại
thuốc trừ sâu có nguồn gốc clor hữu cơ đã có ảnh hưởng bất lợi cho môi trường và tỏ ra nguy
hiểm không chấp nhận được cho sức khoẻ con người. Phần lớn các hợp chất nầy đã được loại
bỏ và thay vào đó là những thuốc trừ sâu gốc lân, carbamate và pyrethroid tổng hợp ít lưu tồn
hơn (Allen, 1987).
Không lâu sau Thế Chiến II, khi thuốc trừ sâu tổng hợp được sử dụng rộng rãi, các
nhà côn trùng học ở California đã phát triển khái niệm “phòng trừ côn trùng bằng giám sát”.
Cùng lúc đó, các nhà côn trùng ở các tiểu bang thuộc vành đai bông vải như Arkansas cũng
ủng hộ cách tiếp cận tương tự. Theo hệ thống nầy, phòng trừ sâu hại được “giám sát” bởi các
nhà côn trùng học phân loại và sự áp dụng thuốc trừ sâu dựa trên những kết luận đạt được từ
sự giám sát chu kỳ mật số sâu hại và thiên địch. Điều nầy cho thấy cách thực hiện là có những
chương trình phun thuốc theo lịch. Phòng trừ giám sát dựa trên sự thông hiểu về sinh thái và
xu hướng dự đoán mật số sâu hại và thiên địch.

3
Sự phòng trừ có giám sát đã hình thành nhiều cơ sở khái niệm cho “sự phòng từ tổng
hợp mà các nhà côn trùng học ở California đã nói rõ ràng vào thập niên 1950. Sự phòng trừ
tổng hợp tìm cách xác định sự phối hợp tốt nhất giữa phòng trừ sinh học và hoá học cho một
loại sâu hại nhất định. Hoá chất BVTV được sử dụng trong chừng mực làm gảy đổ biện pháp
phòng trừ sinh học. Như vậy, thuật ngữ “tổng hợp” đồng nghĩa với thuật ngữ “tương thích”
(“compatible”). Phòng trừ bằng hoá chất được áp dụng chỉ sau khi quan sát thường kỳ cho
thấy mật số dịch hại đã đạt đến mức ngưỡng kinh tế cần xử lý bằng cách ngăn chặn mật số đạt
đến mức thiệt hại kinh tế mà ở điểm nầy sự tổn thất kinh tế sẽ vượt quá chi phí các biện pháp
phòng trừ nhân tạo.
IPM mở rộng khái niệm phòng trừ tổng hợp đến tất cả các loại dịch hại và phát triển

- Kết hợp các phương pháp kiểm soát
Kết hợp các phương pháp kiểm soát là một đặc trưng quan trọng của IPM. Sự kết hợp
giữa các biện pháp ngăn ngừa và diệt trừ để chặn đứng hoặc giúp ngăn chặn mật số dịch hại
chống lại sự phát triển tới một mức độ mà sự thiệt hại lớn xảy ra.

4
IPM nhắm vào mục tiêu này chủ yếu thông qua các kỹ thuật không sử dụng thuốc hoá
học. Dựa trên điều kiện cây trồng và điều kiện từng địa phương các biện pháp có thể bao
gồm: phương pháp canh tác chọn giống, vệ sinh đồng ruộng, sự can thiệp và cuối cùng ít ra
thúc đẩy sự phát triển của thiên địch.
1.2.4 Các nguyên lý và nguyên tắc của IPM
Việc áp dụng biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp phải dựa trên những nguyên lý
và nguyên tắc của nó. Theo Nguyễn Công Thuật (1996), phòng trừ dịch hại tổng hợp có
những nguyên tắc và nguyên lý như sau:
- Một là, trong hệ thống phòng trừ dịch hại tổng hợp tất cả các kỹ thuật tham gia cần
được xét đến sự hài hoà giữa các yếu tố của môi trường, đặc biệt là phải khai thác tối đa các
yếu tố gây chết tự nhiên của sâu hại. Mặt khác, tác động của tất cả các kỹ thuật được sử dụng
cũng phải được xem xét về mặt này.
- Hai là, không thể suy nghĩ một cách nông cạn cho rằng có thể tiêu diệt hết các cơ
thể gây hại trên đồng ruộng, mà cần hiểu rằng chỉ có thể duy trì mật độ của chúng ở dưới mức
gây ra thiệt hại kinh tế. Như vậy một biện pháp phòng trừ chỉ được áp dụng trong trường hợp
nếu không thực hiện thì giá trị tổn thất về sản lượng cây trồng sẽ lớn hơn những chi phí của
việc xử lý.
- Ba là, không thể quan niệm phòng trừ tổng hợp là một qui trình in sẵn để có thể áp
dụng trong mọi trường hợp, ở mọi nơi, mọi lúc, mà phải coi đó như là một nguyên tắc cần
phải tuân theo để cho phép xác định, trong mỗi tình huống cụ thể, một giải pháp tối ưu, xét về
mọi mặt.
- Bốn là, những biện pháp áp dụng trong phòng trừ tổng hợp rất phong phú và đa
dạng. Đồng thời những thành tựu mới trong nghiên cứu khoa học BVTV ngày nay càng được
đưa ra sử dụng trong sản xuất nhiều hơn, rộng rãi hơn và không ngừng lại một chỗ.

điểm sau:
+ Tiêu diệt dịch hại mạnh mẽ nhanh chóng và triệt để nhất là khi chúng phát sinh
mạnh mẽ đe doạ nghiêm trọng đến năng suất cây trồng, các biện pháp khác không thể ngăn
nổi.
+ Dùng thuốc có thể tiêu diệt hàng loạt dịch hại trong một thời gian ngắn hiệu quả
rõ ràng
+ Trong một thời gian ngắn có thể sử dụng trên một diện tích rộng lớn, nhất là với
các phương tiện phun rải hiện đại (máy phun động cơ, máy bay rảy thuốc).
+ Với những tiến bộ của khoa học con người có thể sáng chế ra những loại thuốc
ít độc với con người và môi trường.
- Các tác động xấu do thuốc hoá học gây ra:
Các loại thuốc hoá học ít hay nhiều đều có độc hại đối với con người, gia súc và các
động vật có ích khác.
+ Tiêu diệt các loài thiên địch của sâu hại.
+ Hình thành các loài kháng thuốc. Thực tế cho thấy ngày càng có nhiều loài sâu
kháng thuốc làm cho liều lượng sử dụng tăng lên gây ra tốn kém và ô nhiễm môi trường
+ Làm xuất hiện những đối tượng dịch hại quan trọng. người ta nhận thấy rằng ở
những nơi có sử dụng thuốc trừ sâu nhiều hơn bình thường thì làm cho nhện đỏ phát triển trở
thành đối tượng gây hại chủ yếu. Dùng nhiều thuốc trừ cỏ 2,4-D để diệt cỏ lác và cỏ lá rộng
sẽ làm cỏ hoà bản phát triển mạnh
+ Gây ra hiện tượng tái phát của dịch hại, có nhiều trường hợp năm đầu sử dụng
thuốc hoá học, dịch hại có giảm đi, trong những năm sau tuy lượng thuốc sử dụng tăng lên
nhưng dịch hại không những không giảm mà còn tăng hơn so với trước. Nguyên nhân của
hiện tượng nay là do dùng nhiều thuốc hoá học đã dẫn tới việc mất cân bằng sinh thái, do
thiên địch giảm sút, hình thành các loài dịch hại kháng thuốc kích thích các loài sống sót sinh
sản nhiều hơn. Khi một số loài sâu hại đã sống chung với một loại thuốc nào đó thì nhanh
chóng trở nên chống với các loại thuốc hoá học cùng nhóm gọi là hiện tượng kháng chéo,
nguy hiểm hơn là sâu hại có thể chống với nhiều nhóm thuốc khác nhau gọi là hiện tượng
chống đa tính. Gây nhiễm độc cho môi trường sống và để lại dư lượng trong nông sản (Võ
Văn Á và ctv, 1998).

phát sinh. Tránh phun thuốc lúc trời nắng gắt, sắp có mưa, có gió lớn, lúc hoa đang trổ rộ đặc
biệt đối với các loại thuốc trừ cỏ tiền hoặc hậu nẩy mầm phải sử dụng đúng thời gian qui
định.
- Đúng liều lượng và nồng độ: liều lượng là lượng thuốc thành phẩm cần dùng cho
một đơn vị diện tích. Còn nồng độ là lượng thuốc cần pha trong một lượng nước nhất định.
Cần phải pha đúng nồng độ và sử dụng đúng liều lượng để bảo đảm thuốc bao phủ hết diện
tích cây trồng đủ để diệt sâu bệnh, cỏ dại mà không gây hại cho con người. Không nên pha
đậm đặc để ít nước đi.
- Đúng cách: cần phun thuốc vào chỗ sâu bệnh thường phát sinh, tập trung nhiều.
Dùng thuốc trừ cỏ cho ruộng lúa cần phun trải đều trên mặt ruộng, tránh phun trùng lắp, chế
độ nước theo yêu cầu. Pha thuốc cho tan đều trong bình (Võ Văn Á và ctv, 1998).
Theo Chi Cục BVTV An Giang (2004) chương trình IPM trên lúa được triển khai ở
An Giang từ năm 1992-1997 với nguồn kinh phí do FAO tài trợ, qua chương trình này nông
dân đã hiểu được tầm quan trọng của hệ sinh thái đồng ruộng và trong thái độ của họ về cách
quản lý dịch hại đã có sự thay đổi rõ nét nhất là với côn trùng gây hại, sử dụng thuốc trừ sâu
thận trọng hơn. Tuy nhiên cốt lõi của chương trình IPM là “cân bằng sinh thái” nặng về quản
lý sâu hơn là bệnh và cũng từ đó bộc lộ một số khuyết điểm cần được cải thiện. Và một trong
những bước đột phá trong quản lý dịch hại trên lúa về sau đó là chương trình FPR (chương
trình nông dân tham gia thí nghiệm)
1.3 Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây ăn trái
Sử dụng biện pháp tổng hợp để quản lý dịch hại cây ăn quả trên cơ sở sinh thái học sẽ
làm tăng năng suất, cải thiện phẩm chất, bảo vệ sinh thái, giảm độc hại do sử dụng thuốc quá
đáng và giảm chi phí đầu tư. Quản lý dịch hại tổng hợp bằng cách tăng cường biện pháp sinh

7
học và các biện pháp kỹ thuật chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật khi thật cần thiết, sử dụng
đúng và có hiệu quả. An toàn cho người tiêu dùng, không làm hại quá đáng thiên địch, hạn
chế sự kháng thuốc của các loài sâu bệnh.
Theo Nguyễn Văn Kế (2001) thì một số các biện pháp chính về quản lý dịch hại tổng
hợp cho cây ăn quả sau:

- Chọn gốc ghép
Các cây nhân giống bằng phương pháp ghép thì cần chú ý đến gốc ghép, vì gốc ghép
truyền tính trạng của nó cho cả cây ghép. Đặc tính của gốc ghép là có thể truyền tính chống
chịu sâu bệnh, tính dễ bị nhiễm một loại bệnh nào đó, nhất là virus cho cây ghép; tính chống
chịu với môi trường như hạn, úng, mặn, phèn cũng như khả năng cho năng suất cao hay thấp,
phẩm chất quả ngon hay dở,…

8
Tại Nam Bộ trên các vùng phèn mặn, úng,… dọc theo bờ mương người trồng mãng cầu
xiêm thường phải dùng gốc ghép là bình bát (Annona glabra). Đối với cây họ cam quýt khi
ghép trên gốc bưởi dễ bị bệnh xì mủ gốc. Ở cây họ cam quýt người ta rất sợ nhóm bệnh virus,
một trong những bệnh đó là bệnh Tristeza đã tàn phá hàng chục triệu cây cam cam quýt ở
châu Mỹ. Cây cam đắng hay cây cam chua (C. aurantium) một loại gốc ghép một thời nổi
tiếng vì cho năng suất cao, phẩm chất tốt, rồi một thời “mang tiếng ” vì dễ nhiễm bệnh
Tristeza.
Gốc ghép có tầm quan trọng như vậy nên việc chọn gốc ghép thích hợp cho cây lâu năm
là một việc tối quan trọng. Tại Nam Bộ nhiều nhà vườn cho là những cây hoang dại hay bán
hoang dại có đặc tính chống chịu sâu bệnh tốt nên thường chọn những cây này làm gốc ghép,
chẳng hạn chọn cây xoài “cà lăm” làm gốc ghép cho xoài cát, chọn táo rừng làm gốc ghép
cho táo Taiwan, táo Hồng xanh,... Ở nhiều nước trên thế giới nhất là Mỹ, Pháp,... người ta
nghiên cứu chọn lựa gốc ghép thậm chí lai tạo cả những cây chỉ để làm gốc ghép chẳng hạn
Citrange Troyer,... chúng được đánh giá chống chịu với bệnh Tristeza rất tốt.
Nhưng cũng cần lưu ý thêm sự tương hợp giữa các thành phần của cây ghép, khả năng
cho năng suất và phẩm chất quả sau này.
- Chọn cành ghép
Cây mẹ, nhất là cây họ cam quýt cần được trắc nghiệm (test) để xem có mang mầm bệnh
virus hay không. Sử dụng cây chỉ thị bệnh để phát hiện sớm. Như chanh Mexique để giúp
kiểm tra Tristeza; Citron 684 – S1 để kiểm tra exocortis sớm,…
Đối với các loài cây không bị các bệnh nguy hiểm như cây họ cam quýt, cành ghép hay
cành chiết cũng phải được lựa chọn từ những cây khoẻ mạnh (đã được indexing) và lấy từ

- Tránh để vườn bị úng, hạn cây sinh trưởng yếu sẽ bị nhiễm bệnh.
- Tránh để vườn ẩm quá nấm bệnh sẽ phát triển nhanh. Tránh trồng dày đặc, cây xen quá
nhiều sẽ tạo độ ẩm cao, làm nấm phát triển mạnh.
- Hãy chú trọng bón vôi, tro,… nhất là trên đất có pH thấp, để nâng cao pH. Mỗi loại cây
trồng cần một pH thích hợp khác nhau, như: nấm gây bệnh héo rụi Panama trên cây chuối
phát triển mạnh ở pH thấp.
- Tưới nước đầy đủ và đúng phương pháp sẽ làm cây sinh trưởng tốt hơn, giảm sâu bệnh
đáng kể.
1.3.3.3 Chọn mật độ thích hợp
Mật độ tối ưu sẽ làm năng suất cao. Trồng thưa quá cỏ dại phát sinh nhiều. Trồng dày
quá năng suất giảm, quả bé, sâu bệnh nhiều, tỉ lệ quả đạt tiêu chuẩn xuất khẩu thấp.
1.3.3.4 Tỉa thoáng tán
Cần tạo tán thoáng để ánh sáng có thể lọt vào bên trong tán. Công việc tạo tán cần làm
ngay từ đầu và theo dõi sửa cành hàng năm. Ở các vườn thiếu ánh sáng không những bệnh
phát triển (như bệnh đốm rong,…) mà nhiều loài sâu đục cành cũng sẽ phát triển vì dạng
trưởng thành ưa tìm chỗ râm mát để đẻ trứng.
1.3.3.5 Xen canh
Xen canh hợp lý là một giải pháp lấy ngắn nuôi dài, hoặc ngay cả khi xen canh giữa các
cây ăn quả với nhau sẽ giúp phân tán ký chủ (như: bọ xít cam sẽ bị phân tán trong các vườn
cam xen lẫn nhãn. Rệp sáp bị phân tán trong vườn xoài xen lẫn mãng cầu ta. Sâu vẽ bùa phát
triển ít khi xen bưởi với nhãn,…). Một số nông dân có sáng kiến trồng những cây xua đuổi
côn trùng (chẳng hạn như: dây thuốc cá trồng dưới gốc xoài,…)
1.3.3.6 Bón phân cân đối, đầy đủ
Bón phân cân đối và đầy đủ sẽ giúp cây trồng khoẻ mạnh, tăng cường sức chống chịu
của cây đối với sâu bệnh và các điều kiện khắc nghiệt của môi trường. Bón phân đúng lúc sẽ
giúp sự ra chồi, ra quả tập trung hơn. Như vậy việc phòng trừ sâu bệnh sẽ dễ hơn.
1.3.3.7 Bao quả
Bao quả bằng giấy, nylon,… sẽ làm mã quả đẹp hơn, sâu bệnh ít tấn công hơn. Hiện nay
trên thế giới nhiều loại quả được bao như chuối, xoài, cam, bưởi, ổi,… Tập quán bao quả mới
được thực hiện bước đầu ở nước ta.

lấy mẫu 1 lần. Nếu xuất hiện vượt 10 con/ bẫy thì vượt ngưỡng gây hại.
- Rầy chổng cánh: vào mùa ra đọt điều tra 5 ngày/ lần, 5 đọt cây hễ thấy 1 con là phải
dùng thuốc rồi.
- Bù lạch hại xoài : từ phát hoa đến 3 tháng sau đậu quả, điều tra 5 chùm/cây, 7 ngày/ lần
bằng cách đập chùm bông vào khổ giấy A4 (21 x 30 cm) hứng và đếm. Nếu 50% số phát hoa
hoặc 10% số chùm quả có bù lạch thì cần phun thuốc.
1.3.4.3 Thuốc trừ sâu bệnh
Dùng các loại thuốc trong danh mục cho phép của Bộ Nông Nghiệp & PTNT.
1.3.4.4 Kiểm dịch thực vật
Luật pháp góp phần tích cực vào việc phòng ngừa dịch bệnh. Luật kiểm dịch ở các
nước tiên tiến rất gắt gao. Nước ta nên kiểm kỹ các loại cây ngoại nhập để bảo vệ cây trồng
trong nước.
1.4 Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên xoài
1.4.1 Sử dụng kỹ thuật canh tác
Đây là một biện pháp có hiệu quả rất cao trong công tác đối phó và ngăn ngừa các loại
dịch hại trên xoài. Biện pháp này chủ yếu sử dụng các kỹ thuật canh tác khác nhau nhằm tạo
điều kiện cho cây phát triển tốt nhất, ngăn ngừa và khống chế sự bộc phát và lây lan của dịch

11
hại cũng như tạo môi trường không thuận lợi cho sự phát triển của dịch hại đồng thời phát
huy hiệu quả các quần thể thiên địch có sẵn trong tự nhiên, tạo sự cân bằng sinh thái và an
toàn cho môi trường. Trên vườn cây ăn trái, các biện pháp này bao gồm việc:
- Sử dụng các cây giống sạch, khoẻ, không bị nhiễm dịch hại, chống chịu dịch hại tốt.
- Vệ sinh vườn, nhằm loại bỏ nguồn dịch hại, cắt đứt sự lây nhiễm.
- Xén tỉa cành tạo điều kiện cho vườn thông thoáng, không thuận lợi cho sự phát triển
của nhiều loại dịch hại, khống chế độ cao của cây để dễ dàng chăm sóc, thu hoạch…
- Bón phân hợp lý, sử dụng phân hữu cơ, không sử dụng phân bón lá định kỳ.
- Áp dụng mật độ trồng hợp lý, không trồng dày.
- Quản lý cỏ.
- Quản lý nước, tránh ngập úng,…

pháp hoá học nói riêng trong công tác bảo vệ thực vật trên xoài hiện nay và trong thời gian
sắp đến. Điều quan trọng là sử dụng thuốc gì? Và như thế nào để bảo đảm không những hiệu
quả kinh tế, hiệu quả kỹ thuật của thuốc mà còn đảm bảo được sự an toàn sinh thái, hạn chế

12
được tác động xấu của thuốc đến con người và môi trường. Đa số các loại thuốc có mặt trên
thị trường hiện nay đều thuốc nhóm độc II, tuy nhiên, như phần trên đã trình bày, điều này
không có nghĩa là sẽ an toàn khi sử dụng thuốc. Điều này cũng đòi hỏi rất nhiều kiến thức của
nhà vườn, tuy nhiên để sản xuất sản phẩm “sạch”, an toàn sinh thái, biện pháp sử dụng hoá
chất là biện pháp cuối cùng, chỉ sử dụng khi thật cần thiết và chỉ sử dụng những loại thuốc ít
độc hoặc không độc đối với môi trường. Tại Florida, hầu hết các loại thuốc nông dân sử dụng
trên xoài đều có tính an toàn đối với con người và môi trường khá cao. Trong 14 loại sản
phẩm được đăng số sử dụng để phòng trừ côn trùng và nhện gây hại trên xoài tại Florida,
ngoài sulfur thì chỉ có 4 loại thuốc là thuộc nhóm thuốc trừ sâu có độ độc thuộc nhóm II, còn
lại là 9 sản phẩm thuộc nhóm an toàn như thuốc trừ sâu sinh học (Bacilllus thuringiensis,
Beauveria bassiana), thuốc thảo mộc (azadirachtin, pyrethrin, rotenone), dầu thực vật và một
số sản phẩm an toàn khác. Kết quả điều tra của Trường Đại Học Florida năm 1999-2000 ghi
nhận có đến 50% nhà vườn (trồng xoài) sử dụng các loại dầu (crop oils) đề phòng trị nhện,
rầy mềm và rệp sáp gây hại trên xoài (Mossler và Nesheim, 2003, trích dẫn từ Nguyễn Thị
Thu Cúc, 2003).
1.4.4 Biện pháp sinh học
Thành phần thiên địch của dịch hại trên xoài khá phong phú và giữ vai trò khá quan
trọng trong việc khống chế nhiều loại dịch hại trên xoài. Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2003) tại
Đài Loan Chou KC và Chou Ly (1990) đã ghi nhận vào giai đoạn trứng, rầy bông I. clypealis
bị 5 loại ký sinh tấn công. Golez (1991) cũng phát hiện có hai loại ong ký sinh
(Trichogramma chilonis và T. chilotrae) tấn công trứng của sâu đục hột Deanolis albizonalis
và một loại ong ăn mồi vespid (Rhychium attrisimum) tấn công ấu trùng của sâu đục hột. Có
thể bảo tồn, phát huy và gia tăng số lượng thiên địch trong tự nhiên bằng nhiều biện pháp
khác nhau như hạn chế tối đa thuốc bảo vệ thực vật nói chung và thuốc trừ sâu nói riêng, tạo
điều kiện môi trường thuận lợi cho thiên địch phát triển,… Đây là những biện pháp hiện đang

Trong suốt giai đoạn phát triển từ lúc ra chồi, lá, hoa, trái… xoài điều bị dịch hại tấn
công. Đặc biệt vào giai đoạn ra chồi, ra hoa, trổ bông và tượng trái, giai đoạn quyết định rất
lớn cho năng suất, xoài thường xuyên bị tấn công bởi rất nhiều loại gây hại quan trọng và khó
trị như rầy bông Idiocerus, bù lạch Scirtothrips dorsalis, các loại sâu ăn bông, bệnh thán thư
(Colletotrichum gloeosporioides), sâu đục hột (Deanolis albizonalis), bệnh đốm vi khuẩn
(Xanthomonas campestris) và bệnh da ếch (Chaetothyrium sp.), dòi đục trái (Bactrocera sp.)
vào giai đoạn ra chồi, lá và cành non, xoài cũng là ký chủ của hàng chục loại dịch hại.
1.5.3 Đối tượng gây hại khó phòng trị
Hầu hết các đối tượng gây hại quan trọng như sâu đục trái Deanolis albizonalis, rầy
bông Idiocerus spp, bù lạch Scirtothrips dorsalis, các loại ăn bông và đục cành, bệnh thán
thư, bệnh đốm vi khuẩn,… đều rất khó phòng trị. Các loại côn trùng gây hại đều có chu kỳ
sinh trưởng ngắn, khả năng nhân mật số rất nhanh. Nhiều loài có khả năng kháng thuốc rất
cao như Idiocerus spp, Scirtothrips dorsalis hoặc thuộc nhóm đa ký chủ như Thalassodes
falraria, Comibaena, Autoba abrupta, Autoba versicolor, Aporandria specularis,… Bên cạnh
đó nhiều loại gây hại bên trong trái, trên bông (giai đoạn rất khó sử dụng thuốc để phòng trị vì
có thể tác động đến thiên địch, côn trùng thụ phấn cho xoài và có thể ảnh hưởng đến sự thụ
phấn) hoặc bên trong chồi hoặc cành, rất khó phát hiện.
1.5.4 Điều kiện thời tiết khí hậu thuận lợi
Thời tiết khí hậu tại miền Nam Việt Nam rất thuận lợi cho sự phát triển của xoài cũng
như của nhiều loại dịch hại trên xoài. Điều kiện ẩm ướt của mùa mưa đặc biệt thích hợp cho
nhiều loại bệnh phát triển, chỉ cần có thức ăn hiện diện là dịch hại gần như có thể phát triển
suốt năm. Bên cạnh đó nắng nóng và khô hạn rất thích hợp cho các đối tượng gây hại quan
trọng khác như bù lạch, rầy bông,…
1.5.5 Kỹ thuật canh tác xoài
Song song với những nguyên nhân nêu trên thì việc canh tác xoài như hiện nay cũng là
những yếu tố góp phần tạo điều kiện cho sự bộc phát cho nhiều loại dịch hại trên xoài. Có thể
kể một số kỹ thuật canh tác có thể tác động đến sự bộc phát của các loại dịch hại trên xoài
như sau:
1.5.5.1 Áp dụng không đúng một số thành tựu khoa học trên xoài
Tình trạng canh tác cho xoài trái vụ hiện nay là một vấn đề phổ biến, đây là một thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status