Phân tích tình hình tiêu thụ và lợi nhuận của công ty cổ phần sản xuất và thương mại Trường Hải - Pdf 28

MỞ ĐẦU
Vấn đề lớn nhất được đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình
hội nhập hiện nay không chỉ dừng lại ở sản xuất sản phẩm phù hợp nhu cầu mà còn
là hoạch định chiến lược sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh để
làm sao không bị thua trên chính sân nhà và ngày càng tiến xa hơn vào thị trường
thế giới.
Chính vì thế, với tư cách là một công cụ quản lý kinh tế, phân tích hoạt động
kinh doanh trong doanh nghiệp là một yêu cầu không thể thiếu được của các nhà
quản lý doanh nghiệp. Thông qua phân tích, các nhà quản trị sẽ đánh giá đúng kết
quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, xác định được những nguyên nhân tác
động đến quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh, từ đó có biện pháp thích hợp
khai thác khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp, đồng thời cũng là căn cứ để đưa ra
các quyết định kinh doanh đúng đắn, và là biện pháp quan trọng trong việc phòng
ngừa các rủi ro kinh doanh.
Một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường và ngày càng phát triển thì
doanh nghiệp đó phải tạo ra doanh thu và lợi nhuận bởi vì doanh thu và lợi nhuận
không chỉ phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh mà còn là cơ sở để tính ra các chỉ
tiêu chất lượng khác nhằm đánh giá đầy đủ hơn hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp trong từng thời kỳ hoạt động. Như vậy, doanh thu và lợi nhuận chính
là mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp. Thông qua việc phân tích tình hình
tiêu thụ và lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp đánh
giá được mức độ hoàn thành kế hoạch và mức độ tăng trưởng của doanh thu và lợi
nhuận nhằm tìm ra những nhân tố tích cực, nhân tố tiêu cực ảnh hưởng đến doanh
thu và lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó đề ra các biện pháp, chính sách để phát
huy nhân tố tích cực, khắc phục hay loại bỏ nhân tố tiêu cực, không ngừng nâng cao
lợi nhuận và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Việc đánh giá, xem xét một
cách khoa học tình hình doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp giúp cho nhà
quản trị tránh được những nhận định sai lầm về hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp, từ đó có thể đưa ra những quyết định đúng đắn phát triển hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp.
Qua thời gian học tập môn Phân tích hoạt động kinh doanh, được sự hướng

sang trọng, lịch sự ,với giá rẻ như chất lượng đảm bảo,các sản phẩm làm ra
chúng tôi đều sấy và sử lý gỗ theo tiêu chuẩn xuất khẩu nên các bạn yên tâm
về chất lượng và giá cả cạnh tranh .Công ty tôi lấy chất lượng sản phẩm lên
hàng đầu, chúng tôi mong đây là sự lựa chọn đúng đắn,vừa rẻ vừa tiết kiệm
của bạn
- Nhận gia công các mặt hàng bàn ghế ngoài trời theo mẫu của bạn vận chuyển hàng
toàn quốc
-Nhận làm hàng và xuất khẩu đi các nước trên thế giới
* Các giải thưởng, chứng nhận chất lượng, danh hiệu đã đạt được:
1. Được Mạng Doanh Nghiệp Việt Nam xét chọn là doanh nghiệp Việt Namuy tín –
chất lượng 2006 – Lĩnh vực: đồ thủ công mỹ nghệ (trang trí nội thất, thủ công mỹ
nghệ, design).
2. Được Mạng Doanh Nghiệp Việt Nam chứng nhận là thành viên chính thức – nhà
cung cấp đáng tin cậy tại Việt Nam.
3. Là thương hiệu đã được công bố trên mạng thuonghieuviet.com.vn – Thương
hiệu sử dụng cho sản phẩm trang trí nội thất.
4. Đạt Cúp bạc chất lượng hội nhập, sản phẩm: bàn ghế.
* Một số hình ảnh về sản phẩm của công ty Trường Hải:

Bàn bát giác nhỏ Ghế café

Bộ bàn salon 4 ghế Bộ bàn salon 2 ghế
Ghế xích đu gỗ
II-Phân tích tình hình tiêu thụ và lợi nhuận.
1- Ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tích tình hình tiêu thụ và lợi nhuận:
1.1 Ý nghĩa của phân tích tình hình tiêu thụ và lợi nhuận:
Ðối các doanh nghiệp sản xuất, tiêu thụ hàng hoá là khâu cuối cùng của một vòng
chu chuyển vốn; là quá trình chuyển đổi tài sản từ hình thái hiện vật sang hình thái
tiền tệ và vòng chu chuyển vốn của doanh nghiệp mới được hoàn thành.
Tiêu thụ hàng hóa là quá trình đưa sản phẩm, hàng hóa tới tay người tiêu dùng

- Chất lượng, chủng loại, cơ cấu hàng hóa.
- Phương thức bán hàng, chiến lược tiếp thị.
- Tổ chức và kĩ thuật thương mại.
*.Nguyên nhân khách quan (thuộc về bên ngoài hay còn gọi là môi trường kinh
doanh):
- Chính sách vĩ mô của chính phủ nhằm ổn định hóa như: chính sách tiền tệ,
chính sách tài khóa, chinh sách về tỉ giá hối đoái.
- Tình hình xã hội: cơ cấu nền kinh tế, mức sống, thu nhập, tập quán, lễ hội, mùa
vụ.
- Tình hình thế giới, khu vực: các khuynh hướng thương mại, xu thế hội nhập,
khu vực hóa và toàn cầu hóa
- Những nguyên nhân bất thường và định tính về bản chất khác.
Trong khi phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ, hẳn nhiên có
một số vấn đề hẳn rất khó hoặc không thể “cân đo” được. Tuy vậy, để kết quả phân
tích có lượng hóa đó mới đúng nghĩa là: “hệ thống thông tin hữu ích” của kế toán –
cở sở của các quyết định quản trị. Và chỉ có điều này mới làm cho phân tích tích
tinh hình kinh doanh nên thuyết phục và sẽ là một hoạt đọng thường xuyên được
quan tâm tại các doanh nghiệp.
Trong quá trình phân tích ngoài các phương pháp đã trình bày, đặc biệt là phương
pháp hồi qui rất hữu dụng, người ta còn vận dụng nhiều kiến thức kinh tế, và những
thuật toán phức tạp khác, trợ giúp công tác phân tích.
2.2. Phân tích tình hình tiêu thụ
-Tiêu thụ là khâu cuối cùng của vòng chu chuyển vốn ở doanh nghiệp.Sản phẩm
hàng hóa chỉ được coi là tiêu thụ khi doanh nghiệp đã nhận được tiền bán
hàng.Doanh nghiệp tiêu thụ được nhiều hay ít là biểu hiện ở chi tiêu khối lượng sản
phẩm hàng hóa tiêu thụ.Khối lượng sản phẩm hàng hóa tiêu thụ được biểu hiện dưới
hai hình thức đo lường là thước đo hiện vật và thước đo giá trị.
-Khối lượng sản phẩm hàng hóa được tính bằng thước đo hiện vật phản ánh khối
lượng hàng hóa đã tiêu thụ của từng mặt hàng chủ yếu trong kỳ.Song, đối với
những doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ nhiều loại mặt hàng thì không thể tổng

n
i
kiki
ki
n
i
i
PQ
PQ
T
t
: tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch tiêu thụ.
Q
1i
: khối lương sản phẩm tiêu thụ thực tế.
Q
ki
: khối lượng sản phảm tiêu thụ kế hoạch.
P
ki
: giá bán đơn vị kế hoạch.
Mức tăng (giảm) giữa thực tế so với kế hoạch:

D=
ki
n
i
i
PQ .
1

Bài giải:
1.Phân tích tình hình tiêu thụ thực tế so với kế hoạch
( ĐVT: ĐỒNG)
Sản phẩm t% ∆Q QkPk Q1Pk T% ∆D
Bàn bát giác nhỏ 98.8% -30 250,000,000 247,000,000 98.8% -3,000,000
Ghế café
108.31% 374 652,500,000 706,730,000 108.31% 54,230,000
Ghế xích đu gỗ
94% -18 930,000,000 874,200,000 94% -55,800,000
Bộ bàn sa lon 4 ghế 102% 15 1,950,000,000 1,989,000,000 102% 39,000,000
Bộ bàn sa lon 2 ghế
94% -42 875,000,000 822,500,000 94% -52,500,000
Tổng 4,657,500,000 4,639,430,000 99.61% -18,070,000
Nhận xét: Qua bảng phân tích số liệu ta có nhận xét như sau:
Với T = 99.61% và ∆D = -18,070,000 cho biết doanh nghiệp đã không hoàn thành
kế hoạch tiêu thụ sản phẩm và giảm với tỷ lệ 0.39 % tương ứng làm cho doanh thu
giảm một lượng tương ứng là 18,070,000. Cụ thể là do:
Sản phẩm ghế cafe và bộ bàn solon 4 ghế vượt mức kế hoạch tiêu thụ đề ra với tỷ lệ
lần lượt đạt được là 108,31% và 102% đã làm cho doanh thu tăng 54.230.000 đ và
39.000.000 đ. Trong khi đó, sản phẩm bàn bát giác nhỏ, ghế xích đu và bộ salon 2
ghế không hoàn thành kế hoạch chỉ đạt được lần lượt là 98,8%, 94% và 94% làm
cho doanh thu của doanh nghiệp giảm 1 lượng tương ứng lần lượt là 3.000.000 đ,
55.800.000 đ, và 52.500.000 đ.
Vậy doanh nghiệp cần phải có biện pháp đối với các sản phẩm không hoàn thành kế
hoạch.
2. Phân tích tình hình tiêu thụ kỳ này so với kỳ trước.
( ĐVT: ĐỒNG)
Nhận xét : Qua bảng phân tích số liệu ta có nhận xét như sau:
Với T = 107.8 % và ∆D = 318.672.600 cho biết kỳ này tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp đạt 107.8% và tăng so với kỳ trước 7.8% đã làm cho doanh thu tăng

-Tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch tiêu thụ mặt hàng chủ yếu được tính như sau:
T
tc
=
%100*
.
1
1
1


=
=
n
i
kiki
ki
n
i
k
i
PQ
PQ
T
tc
: Tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch tiêu thụ mặt hàng chủ yếu.
Q
k
i1
: khối lượng sản phẩm tiêu thụ thực tế trong giới hạn kế hoạch.

Bộ bàn 2 ghế 700 658 658 1.250 875.000 822.500 822.500 94.00%
Tổng 4.657.500 4.639.430 4.546.200 97.61%
Nhận xét:
Qua bảng số liệu tính toán ta có nhận xét sau:
Doanh nghiệp không hoàn thành kế hoạch tiêu thụ mặt hàng chủ yếu chỉ đạt được
97.61% so với kế hoạch đề ra. Nguyên nhân là do:
trong kỳ doanh nghiệp tiêu thụ 5 mặt hàng với doanh thu lần lượt là: 250.000,
652.500, 930.000, 1.950.000, 875.000 (nghìn đồng) và thực tế doanh nghiệp đã tiêu
thụ với doanh thu lần lượt là: 247.000, 652.500, 874.200, 1.950.000, 822.500
(nghìn đồng) .Qua đó cho thấy mặt hàng ghế café và bộ bàn bốn ghế đã hoàn thành
với tỷ lệ 100% trong khi mặt hàng bàn bát giác nhỏ, xích đu gỗ, bộ bàn 4 ghế đã
không hoàn thành kế hoạch với tỷ lệ đạt được lần lượt là 98,8%, 94%, 94%. Làm
cho doanh thu tiêu thụ trong kỳ giảm đi một lượng tương ứng lần lượt là:3000,
55.800, 52.500 (nghìn đồng)
sản phẩm Qo Q1
Q
0
1i
Pcđ (Po) Do D1
D
0
1i
tcy
Bàn bát giác
nhỏ 2.045 2.470 2.045 105 214.725 259.350 214.725 100.00%
Ghế cà phê 4.455 4.874 4.455 120,4 536.382 586.829,6 536.382 100.00%
Xích đu gỗ XK 207 282 207 3.040 629.280 857.280 629.280 100.00%
Bộ bàn 4 ghế 761 765 761 2.500 1.902.500 1.912.500 1.902.500 100.00%
Bộ bàn 2 ghế 670 658 658 1.200 804.000 789.600 789.600 98.21%
Tổng 4.086.887 4.405.560 4.072.487 99.65%

-Trong thực tế và trong nhiều trường hợp việc xem xét điểm hòa vốn không phải
đơn giản.Điều đó phụ thuộc vào vào hai yếu tố mức giá cả thị trường và tình hình
chi phí của doanh nghiệp. Vậy với số lượng sản phẩm đã sản xuất và tiêu thụ tương
ứng với nó là tổng chi phí đã biết thì điểm hòa vốn sẽ đạt tới khi khối lượng sản
phẩm sản xuất và tiêu thụ bán với giá đúng bằng chi phí biến đổi,còn ứng với lượng
sản phẩm đã bán được với giá bán lớn hơn chi phí biến đổi thì điểm hòa vốn sẽ đạt
tới điểm lượng nhỏ hơn lượng sản phẩm đã sản xuất.
-Qua phân tích hòa vốn,các doanh nghiệp có thể dự đoán được khối lượng sản
phẩm cần đạt để có thể hòa vốn hoặc có thể biết trước với giá tối thiểu bao nhiêu để
không lỗ.
Phân tích tiêu thụ theo điểm hòa vốn không những xác định sản lượng tiêu thụ
vốn mà còn chỉ ra phương hướng đẩy mạnh tiêu thụ, điều chỉnh chi phí để có quyết
định đúng đắn và sản phẩm trong kì kinh doanh.
- Trình tự phân tích
Xác định khối lượng tiêu thụ từng loại tại điểm hòa vốn
S: là doanh thu bán hàng.
Q: là khối lượng sản phảm tiêu thụ.
P: là giá bán đơn vị sản phẩm.
TC: là tổng chi phí sản xuất.
X: là khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ.
TFC: là tổng định phí.
VC: là chi phí biến đổi cho một đơn vị sản phẩm.
- Điểm hòa vốn: là điểm tại đó doanh thu băng chi phí, là điểm giao nhau giưa hai
đường doanh thu và chi phí.
S = TC
Hay:
Q.P = TFC + Q.VC suy ra Q = TFC / (P – VC)
Vậy, để đạt được điểm hòa vốn ta phải tiêu thụ một lượng sản phẩm là:

Tổng định phí

hv
Xhv Sản lượng X
Từ việc xác định điểm hòa vốn trong trường hợp kinh doanh một loại sản
phẩm, có thể khái quát cách xác định điểm hòa vốn đối với doanh nghiệp kinh
doanh nhiều loại sản phẩm như sau:
Doanh thu hòa vốn = Tổng định phí / Tỉ lệ số dư đảm phí
Để tính điểm hòa vốn khi kinh doanh nhiều mặt hàng cần chú ý một số vấn dề
sau:
- Xác định cơ cấu sản phẩm tiêu thụ và giả định cơ cấu này không thay đổi
trong ki phân tích.Đây là cơ sở tính số dư đảm phí đon vị binh quân (tỉ lệ số dư đảm
phí đơn vị binh quân).
- Xác định định phí trực tiếp cho từng sản phẩm và định phí chung cho các loại
sản phẩm. Tách rời hai loại định phí này co nhiều áp dụng trong kiểm toán chi phí
và phân tích ảnh hưởng khối lượng tiêu thụ từng mặt hàng đến hòa vốn chung cua
toàn doanh nghiệp.
Kết luận chung khi phân tích hòa vốn:
- Trong trường hợp số lượng sản phẩm tiêu thụ lớn hơn sản lượng hòa vốn, hoạt
động của doanh nghiệp mang lại lợi nhuận.Ngược lại, nếu sản lượng tiêu thụ nhỏ
hơn sản lượng hòa vốn, hoạt đọng tiêu thụ của doanh nghiệp bi lỗ.
- Trong trường hợp mức tiêu thụ của doanh nghiệp đã bảo hòa và mức này rất
gần điểm hòa vốn thì cần có những biện pháp để cắt giảm chi phí tại doanh
nghiệp.Đối với định phí, cần ưu tiên cắt giảm định phí tùy ý: còn đối với thì cần
quan tâm đến biến phí thuộc khả năng kiểm soat của đơn vị. Những biện pháp này
góp phần làm cho sản lượng hòa vốn của doanh nghiệp được giảm xuống.
- Trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh nhiều sản phẩm, phân tích tiêu thụ
theo điểm hòa vốn sẽ chỉ ra những thay đổi cơ cấu sản phẩm theo hướng có lợi cho
doanh nghiệp.
- Phân tích theo điểm hòa vốn còn cho thấy những thời điểm thích hợp trong kì
kinh doanh cần điều chỉnh giá bán, biến phí đơn vị để tăng sản lượng tiêu thụ và
vẫn đảm bảo mục tiêu lợi nhuận.

Bộ bàn
solon
4 ghế
Bộ bàn
salon
2 ghế
Sản lượng (Q1) 2.470 4.874 282 765 658
Tổng định phí 35.000 70.000 45.000 185.000 195.600
biến phí đơn vị 86 135 2.665 1.760 842
Giá bán đơn vị sản phẩm ( P1) 120 170 3.200 2496 1.300
tỷ lệ số dư đảm phí 0,28 0,21 0,17 0,29 0,35
sản lượng hòa vốn 1.029 2.000 84 251 427
doanh thu hòa vốn 123.529 340.000 269.159 627.391 555.197
Nhận xét: Qua bảng số liệu ta có nhận xét sau:
+ Đối với sản phẩm bàn bát giác nhỏ: Nếu doanh nghiệp tăng khối lượng sản phẩm
sản xuất và tiêu thụ của các mặt hàng này ở mức trên 1029 sp thì doanh nghiệp có
lãi, nếu doanh nghiệp tiêu thụ dưới 1029sp thì lỗ. Và nếu doanh thu tăng trên mức
123,529 triệu đồng thì doanh nghiệp sẽ có lãi, ngược lại thì lỗ.
+ Đối với sản phẩm ghế cafe: Nếu doanh nghiệp tăng khối lượng sản phẩm sản xuất
và tiêu thụ của các mặt hàng này ở mức trên 2000 sp thì doanh nghiệp có lãi, nếu
doanh nghiệp tiêu thụ dưới 2000 sp thì lỗ. Và nếu doanh thu tăng trên mức 340 triệu
đồng thì doanh nghiệp sẽ có lãi, ngược lại thì lỗ.
+ Đối với sản phẩm xích đu gỗ: Nếu doanh nghiệp tăng khối lượng sản phẩm sản
xuất và tiêu thụ của các mặt hàng này ở mức trên 84 sp thì doanh nghiệp có lãi, nếu
doanh nghiệp tiêu thụ dưới 84 sp thì lỗ. Và nếu doanh thu tăng trên mức 269,159
triệu đồng thì doanh nghiệp sẽ có lãi, ngược lại thì lỗ.
+ Đối với sản phẩm bộ bàn salon 4 ghế: Nếu doanh nghiệp tăng khối lượng sản
phẩm sản xuất và tiêu thụ của các mặt hàng này ở mức trên 251 sp thì doanh nghiệp
có lãi, nếu doanh nghiệp tiêu thụ dưới 251 sp thì lỗ. Và nếu doanh thu tăng trên mức
627,391 triệu đồng thì doanh nghiệp sẽ có lãi, ngược lại thì lỗ.

nhằm gia tăng khối lượng sản xuất để hạ thấp giá thành sản phẩm, đồng thời khối
lượng tiêu thụ tăng lên sẽ làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên. Ngược lại,
nếu như khối lượng sản phẩm sản xuất giảm là biểu hiện không tốt, cũng có thể do
nhu cầu thị trường giảm mà lam cho doanh nghiệp giảm khối lượng sản xuất để
giảm khối lượng tồn kho sản phẩm, hoặc do năng lương sản xuất bị giới hạn, cung
ứng nguyên vật liệu không kịp thời.
- Nhân tố khối lượng sản phẩm dự trữ cuối kỳ(cho kỳ sau)
Đây là nhân tố tác động ngược chiều với khối lượng sản phẩm tiêu thụ. Nếu khối
lượng sản phẩm cuối kỳ tăng lên là do trong kỳ khối lượng tiêu thụ trong kỳ giảm là
biểu hiện không tốt trong công tác tiêu thụ . Tuy nhiên nếu khối lượng tiêu thụ cuối
kỳ tăng lên là do sản xuất trong ky tăng mạnh ma doanh nghiệp có kế hoạch tiêu thụ
với khối lượng lớn trong kỳ sau là biểu hiện tích cực.Nếu khối lượng sản phẩm dự
trữ cuối kỳ giảm đáng kể trong khi nhu cầu thị trường của kì sau không giảm thì sẽ
làm ảnh hưởng đến kết quả tiêu thụ, sản phẩm không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ
của thị trường, ảnh hưởng làm giảm doanh thu, từ đó giảm lợi nhuận.
Tính chất quan hệ sản xuất, tiêu thụ và dự trữ rất phức tạp nên khi đánh giá tình
hình trên cần phải xem xét trong những mối quan hệ nhất định. Nếu như khối lượng
sản phẩm tiêu thụ tăng trong khi khối lượng sản phẩm sản xuất tăng và khối lượng
sản phẩm dự trữ cuối kỳ đáp ứng được yêu cầu tiêu thụ cho kỳ sau thì đánh giá là
cân đối giữa sản xuất, tiêu thụ và dự trữ. Tuy nhiên có một số trường hợp mất cân
đối giữa sản xuất, tiêu thụ và dự trữ như sau:
* Nếu khối lượng sản phẩm tiêu thụ tăng lên, trong khi khối lượng sản xuất và dự
trữ đầu kỳ tăng, khối lượng sản xuất trong kỳ giảm và khối lượng dự trữ cuối kỳ
tăng lên. Thông thường khối lượng sản xuất trong kỳ giảm thì gắn liền với nhu cầu
thị trường giảm, nhưng dự trữ cuối kỳ tăng lên sẽ không thực hiện được tiêu thụ
trong kỳ sau, làm cho chi phí tồn kho cao, giảm hiệu quả sử dụng vốn
* Nếu khối lượng sản phẩm tiêu thụ tăng, trong khi khối lượng sản xuất tăng, khối
lượng dự trữ cuối kỳ giảm thì tình hình này sẽ không đáp ứng được yêu cầu tiêu thụ
trong kỳ sau nếu như nhu cầu thị trường không giảm
Những trường hợp trên là điển hình khi xem xét mối quan hệ giữa khối lượng

KẾ
HOẠCHKH TT KH TT KH TT KH TT
Bàn bát giác
nhỏ 120 132 2590 2400 2500 2470 210 62 100
Ghế cà phê 350 318 4400 4640 4500 4874 250 84 145
Xích đu gỗ 30 27 315 305 300 282 45 50 3100
Bộ bàn 4 ghế 70 59 700 750 750 765 20 44 2600
Bộ bàn 2 ghế 50 63 700 650 700 658 50 55 1250
BẢNG TÍNH TỶ LỆ % HOÀN THÀNH KẾ HOẠCH TIÊU THỤ ( Tt)
SẢN PHẨM Qk Q1 Pk Q1Pk QkPk Tt ( % )
Bàn bát giác nhỏ 2500 2470 100 247.000 250.000 98.80%
Ghế cà phê 4500 4874 145 706.730 652.500 108.31%
Xích đu gỗ 300 282 3100 874.200 930.000 94.00%
Bộ bàn 4 ghế 750 765 2600 1.989.000 1.950.000 102.00%
Bộ bàn 2 ghế 700 658 1250 822.500 875.000 94.00%
Tổng cộng 4.639.430 4.657.500 99.61%
Nhận xét : Qua bảng số liệu ta có nhận xét sau:
Doanh nghiệp đã không hoàn thành kế hoạch tiêu thụ chỉ đạt được 99,61%
so với kế hoạch đề ra làm cho dự trữ tiêu thụ giảm 18.070 ngàn đồng. Để thấy được
sự ảnh hưởng đến tình hình hình trên, ta phân tích cụ thể qua từng sản phẩm như
sau:
+ Sản phẩm bàn bát giác nhỏ : đã không hoàn thành khối lượng tiêu thụ, chỉ đạt
được 98,8% so với kế hoạch, mức dự trữ đầu kỳ nhiều hơn so với kế hoạch cho nên
doanh nghiệp giảm khối lượng sản xuất trong kỳ không đảm bảo lượng tiêu thụ
như kế hoạch đề ra
+ Sản phẩm ghế cà phê : khối lượng tiêu thụ trong kỳ hoàn thành kế hoạch đề ra,
sản xuất trong kỳ tăng 4640 – 4400 = 240 sản phẩm, tồn kho cuối kỳ giảm do tồn
kho đầu kỳ không đảm bảo cộng với mức tiêu thụ trong kỳ tăng so với kế hoạch dẫn
đến lượng tồn kho cuối kỳ thiếu 250 – 84 = 166 sản phẩm. Điều này là biểu hiện
không tốt vì mặc dù vượt mức kế hoạch đề ra về sản lượng tiêu thụ, nhưng do


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status