1
Luận văn
Tình hình BHLĐ trong các cơ
sở sản xuất nói chung và tại
công ty Gang Thép Thái
Nguyên 2
LỜI MỞ ĐẦU
Nhằm nâng cao hiểu biết và sự tiếp cận thực tế đối với quy trình sản xuất
em được đi thực tế kiến tập tại Công ty Gang Thép Thái Nguyên. Nhờ có
chuyến đi tại cơ sở mà chúng em được mở mang thêm tầm hiểu biết của bản
thân và có cơ hội được áp dụng những kiến thức đã được học tại nhà trường đối
với thực tế trong lao động sản xuất. Nó mang lại cho chúng em một nguồn kiến
thức không nhỏ về vấn đề công tác an toàn và vệ sinh lao động tại cơ sở. Qua
đó giúp cho các sinh viên có một nhận xét, đánh giá chung tình hình BHLĐ
trong các cơ sở sản xuất nói chung và tại công ty Gang Thép Thái Nguyên nói
riêng.
năm 1985 chuyển sang hoạt động theo công ty gồm 24 đơn vị thành viên trải
dài từ Đà Nẵng đến Thái Nguyên.
Công ty là một ngành công nghiẹp thu nhỏ của Việt Nam, tập trung sản
xuất Gang thép, vật liệu xây dựng, khai thác mỏ than, quặng sắt
Sau hơn hoạt động, các công trình bị xuống cấp nhiều, được sự đầu tư
của nhà nước:
Giai đoạn 1: Thay đổi một số dây truyền công nghệ gồm lò cao, lò siêu
công suất.
Giai đoạn 2: Nâng sản xuất phôi thép nên 751 triệu tấn /năm gấp 2 3 lần.
Công ty Gang Thép Thái Nguyên là công ty trực thuộc bộ Công Nghiệp
Việt Nam, nguyên liệu chính của công ty quặng, than, sắt, thép, phế thải
Mặt bằng công ty nằm ở vị trí hết sức thuận lợi cho sự phát triển công
nghiệp. Nền của công ty được dặt trên gần 1000 quả đồi lớn nhỏ nên chịu lực
rất tốt. Bên cạnh đó công ty được xây dựng gần 2 con sông là sông Cầu và sông
Công nên việc lấy nước phục vụ các quy trình công nghệ, vận chuyển nguyên
liệu hoặc phòng chông cháy nổ rất dễ dàng và thuận tiện.
Dọc theo quốc lộ 3, cách Hà Nội gần 70 km, công ty tiếp nhận sự chỉ đạo
của trung ương rất nhanh. Bên cạnh đó công ty Gang Thép Thái Nguyên còn
nằm trong chiến lược xây dựng và phát triển khu công nghiệp nặng của các tỉnh
miền núi phía Bắc của Đảng và Nhà nước.
Với những ưu điểm nói trên của Công ty Gang Thép Thái Nguyên đang
khẳng định mình là một khu công nghiệp lớn nhất của các tỉnh miền núi phía 4
Bắc. Tuy nhiên Công ty lại xây dựng gần khu dân cư nên vấn đề ô nhiễm rất
búc xúc, cần có biện pháp triệt để xử lý nguồn ô nhiễm, tránh làm ô nhiễm môi
trường và ảnh hưởng đến cuộc sống của nhân dân xung quanh nhà máy.
1. Bộ máy tổ chức của công ty.
Sơ đồ hệ thống tổ chức quản lý của công ty Gang Thép Thái Nguyên.
thi
ế
t b
ị
P.Giám đốc
s
ả
n xu
ấ
t
Hội đồng Bảo
h
ộ
lao
đ
ộ
ng
Khối cơ quan
P.Kỹ thuật
công ngh
ệ
P.Kế hoạch vật tư
P.Kế toán thống kê
P.Hành chính
P.Tổ chức lao động
được thể hiện khái quát qua sơ đồ trên.
2. Lực lượng lao động.
Tổng Công ty Gang Thép Thái Nguyên có 25 đơn vị thành viên có tổng
số công nhân viên khoảng 9000 người, sản xuất trên hơn 1000 ngành nghề khác
nhau có nhiều yếu tố độc hại (trong lò luyện thép, cán thép, lò gang, các hoá
chất độc hại ). Lực lượng cán bộ kỹ thuật là 2400, trong đó trình độ kỹ sư và
trên đại học là 1300 người, trung cấp kỹ thuật là 1050 người, chiếm 27%
28% lực lượng lao động của công ty.
3. Các quy trình công nghệ và thiết bị của công ty.
Công nghệ chính gồm các công đoạn sau: Luyện Gang, Thép, cán thép
với công suất là 3 vạn tấn/năm.
Công nghệ sản xuất Gang Thép: Quy trình truyền thống, tự sản xuất phôi
thép hoặc nhập phôi để sản xuất.
Riêng luyện Gang có 2 lò cao: Một lò có dung tích 1000 m
3
, một lò có
dung tích 120 m
3
.
Về luyện thép: Phần lớn dùng lò điện quang từ 1,5 30 tấn /mẻ.
Về công nghệ cán có 2 nhà máy cán: Nhà máy cán Lưu Xá và nhà máy
cán Gia Sàng. Với sản lượng 33 tấn/mẻ (năm 2003).
Những năm gần đây nhà máy đã trang bị được một số thiết bị máy móc
hiện đại để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Riêng ngành luyện kim
cũng đã thay đổi dược dây truyền sản xuất vào năm 2001- 2002.
4. Tình hình sản xuất kinh doanh.
Với những thuận lợi sẵn có cùng với sự tích cực đầu tư đổi mới công
nghệ, cơ chế quản lý đã tạo chỗ đứng vững chắc cho đơn vị nhà máy nói
riêng và tổng công ty nói chung trên thị trường. Hiệu quả sản xuất kinh doanh
của đơn vị ngày một nâng cao, đời sống cán bộ công nhân viên chức ngày càng
7
AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY.
I. Công tác an toàn bảo hộ lao động ở công ty.
Công ty đã trải qua trên 40 năm vận hành và đã sản xuất cho tổ quốc
nhiều tấn gang thép. Đặc diểm nổi bật của công ty là máy móc đã già cỗi, lạc
hậu thường xuyên phải sửa chữa, đại tu thay thế. Số người làm việc đông, công
việc vận hành sửa chữa theo ca kíp rất nóng, có nhiều yếu tố độc hại ảnh hưởng
đến sức khoẻ của người láo động: Bụi độc hại, công việc vất vả, nặng nhọc rất
dễ xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. ý thức được tầm quan trọng của
công tác thực hiện an Toàn Vệ Sinh Lao Động lãnh đạo công ty thường xuyên
kiểm tra và có các biện pháp kỹ thuật an toàn có hiệu quả.
1. Biện pháp tổ chức.
Nhận rõ tầm quan trọng của công tác Bảo Hộ Lao Động. Hàng năm khi
lạp kế hoạch sản xuất kinh doanh, công ty xây dựng các kế hoạch về bảo hộ lao
động và được triển khai khá tốt. Hàng năm công ty đầu tư 15 20 tỷ đồng cho
công tác Bảo Hộ Lao Động, chiếm 20% dự toán.
Công ty đã thành lập hội đồng Bảo Hộ Lao Động do giám đốc công ty
làm chủ tịch hội đồng, phó giám đốc phụ trách sản xuất trực tiếp chỉ đạo công
tác BHLĐ.
Chỉ đạo công tác BHLĐ ở công ty bao gồm: Ban Giám đốc, cán bộ
BHLĐ, công đoàn, y tế, bảo vệ.
Giao cho một cán bộ BHLĐ về an toàn vệ sinh toàn công ty.
Quản đốc phân xưởng trực tiếp chỉ đạo công tác BHLĐ ở phân xưởng
mình.
Mỗi tổ trong các phân xưởng có một an toàn vệ sinh viên chịu trách
nhiệm về BHLĐ ở tổ mình.
Hệ thống an toàn viên có trong các tổ sản xuất và hoạt động khá hiệu
quả. Các an toàn viên trực tiếp giám sát sản xuất an toàn trong ca làm việc và
người lao động.
3. Phòng tổ chức công tác BHLĐ.
Ban chấp hành công đoàn công ty có 15 người, trong đó có 2 nữ. Ban
thường vụ có 5 người trong đó có 1 nữ là trưởng ban nữ công kiêm phó chủ
tịch công đoàn. Ban nữ công có 9 người. ban thanh tra công nhân có 5 người,
ban công đoàn có 3 người.
Có tất cả 114 uỷ viên chấp hành công đoàn làm mọi việc có liên quan
đến việc bảo vệ lợi ích cho công nhân la động, chăm sóc sức khoẻ người lao
động tạo điều kiện tốt nhất cho công nhân lao động.
4. Mạng lưới an toàn vệ sinh viên.
Là hình thức hoạt động của người lao động nhằm bảo dảm quyền lợi và
lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động về BHLĐ. Hiện nay công ty có 9
hơn 800 ATVSV tạo thành mạng lưới an toàn vệ sinh viên thực hiện các chức
năng nhiệm vụ được phân công về BHLĐ như sau:
+ Đôn đốc,kiểm tra, giám sát mọi người trong tổ chấp hành nghiêm
chỉnh quy định về ATVS. Nhắc nhở tổ trưởng sản xuất chấp hành các chế độ
chính sách.
+ Về BHLĐ, Hướng dẫn biện pháp làm việc an toàn đối với công nhân
mới tuyển dụng hoặc mới chuyển đến tổ.
+ Tham gia đóng góp ý với tổ trưởng sản xuất các nội dung cảu kế hoạch
BHLĐ có liên quan đến tổ.
+ Kiến nghị với tổ trưởng sản xuất hoặc cấp trên thực hiện đầy đủ các
chế độ BHLĐ, các biện pháp ATVSLĐ, khắc phục kịp thời những hiện tượng
thiếu các thiết bị ATVS trong sản xuất.
5. Phương thức hoạt động.
Phòng KTAT - BHLĐ của công ty duy trì đều đặn hàng tháng tập trung
Nhà máy luyện cán thép Gia Sàng được khởi công xây dựng ngày
23/3/1971, là đơn vị thành viên trực thuộc tổng công ty gang thép Thái
Nguyên.
Được cộng hoà dân chủ Đức đầu tư quy trình công nghệ khép kín với
công suất thiết kế ban đầu là 62.500 tấn thép thỏi và 5000 tấn thép kéo dây mạ
kẽm.
Đây là 3 sản phẩm chính của nhà máy. Sau 4 năm xây dựng ngày
1/5/1975 mẻ thép đầu tiên ra lò đúng vào ngày quốc tế lao động đó là ngày
truyền thống của nhà máy.
- Ngày 28/81975 công nghệ cán thép đi vào sản xuất.
- Ngày 12/6/1976 công nghệ kéo dây mạ kẽm đi vào sản xuất.
Sản phẩm của nhà máy sản xuất theo TCVN, tiêu chuẩn Nga, tiêu chuẩn
Nhật Bản.
Sau 3 năm sản xuất, năm 1978 nhà máy đã vượt công suất thiết kế thép
cán, thép thỏi trên 5000 tấn, thép cán vượt 12% so với thiết kế ban đầu. Năm
1984 sản lượng thép thỏi hàng năm chỉ còn 6000 tấn do đó trước tình hình đó
cán bộ nhà máy chuyển hướng công nghệ mới lò luyện thép sang lò luyện hồ
quang.
Năm 1985 được sự giúp đỡ của Đức công ty Gang Thép đầu tư cho nhà
máy một lò luyện thép công suất 5 tấn/mẻ.
Năm 1999 phân xưởng cán thép đã vượt lên và được cấp giấy chứng
nhận tiêu chuẩn quốc tế ISO 9002.
Sau khi đã cải tạo nâng cấp đến nay năm 2002 nhà máy đã sản xuất được
112.000 tấn thép cán các loại.
Được đầu tư đổi mới thiết bị lò luyện thép, cán thép với cơ cấu tự động
đã góp phần nâng cao năng xuất đến năm 2004 đạt sản lượng thép thỏi 70.000 11
Giám đốc
P.Giám đốc 1 phụ
trách s
ả
n xu
ấ
t
P.Giám đốc 2 -
k
ỹ
thu
ậ
t
Phòng tổ
chức lao
động
Phòng kế
hoạch
kinh
doanh
Phòng kỹ
thuật
Phòng cơ
+ Nu thộp 16: 4,6 4,8 tn.
Phõn
xng
luyn
thộp
Phõn
xng
cỏn thộp
1
Phõn
xng cỏn
thộp 2
Phõn
xng
c in
NL
Phõn
xng
may
Trm
in110
kV
Phế thải,
than, quặng sắt
Phôi
Bãi xếp phôi
đầu lò nung
(Theo cẩu xe
goòng)
Máy đẩy vào
13
III. Tìm hiểu công tác BHLĐ tại phân xưởng cán thép I
1. An toàn điện.
Tại các phân xưởng đều bố trí bảng điện chính và điện cho các hộp điện
đều được nối đất bảo vệ. Các động cơ máy móc đều được nối đất tiếp mát đề
phong điện giật. Nhưng vấn đề tồn tại là nhiều hộp điện bị mất nắp và khóa an
toàn ảnh hưởng đến việc bảo vệ. Các điểm nối tại trạm đấu dây không được
chặt, phích cắm lỏng vẫn gây ra hiện tượng phóng điện.
Yêu cầu về kỹ thuật điện của nhà máy, phân xưởng cán thép rất cao, khi
sửa chữa các thiết bị điện phải tiếp mát và ngắt cầu dao, luồng ánh sáng đưa tới
là 36V dùng để sửa chữa phải do ngành điện quản lý, đảm bảo về các yêu cầu
kỹ thuật an toàn. Khi sửa chữa ở đầu nguồn cấp điện phải có biển báo: "cấm
đóng điện có người đang làm việc". Thiết bị điện đưa vào hầm kín nơi có nhiên
liệu dễ cháy phải đảm bảo có đủ hệ thống bao che, đấu bắt điện thật chặt chẽ,
kín, đề phòng phát tia lửa điện gây cháy, nổ
Những yêu cầu về nối đất, cách điện bảo vệ trong nhà máy đặt ra rất cao
nhưng việc chấp hành nội quy chưa triệt để ở khâu tổ chức, quản lý. Sự phối
hợp đồng bộ giữa hai yếu tố trên sẽ thu được kết quả khả quan.
2. An toàn cơ.
Việc ứng dụng KTAT cơ chế chủ yếu tập trung ở phân xưởng cán tại
phân xưởng luyện gang hầu như không có. Do đặc thù riêng của phân xưởng
luyện gang là quy trình hoạt động cảu máy nâng chuyển, ăng truyền nồi chứa
gang lỏng đêu được điều khiển từ xa trong phòng cách li với khu sản xuất. Do
đó việc an toàn cơ tại phân xưởng là tuyệt đối, còn trong phân xưởng cán thép
việc sử dụng các thiết bị nâng chuyển cũng khá phổ biến và quan trọng, nhưng
do các thiết bị hầu như đã cũ nên vấn đề an toàn cũng cần phải thực hiện một
cách sát sao hơn, thực hiện kiểm định định kỳ các thiết bị nhằm sửa chữa kịp
làm mát là phải kín, khí H
2
phân tán với áp lực lớn chia nhỏ
tia hồ quang tránh nổ thiết bị áp lực. Tuy nhiên ở đây phát sinh ra vấn đề là H
2
cũng là chất dễ cháy, vì vậy phải có biện pháp an toàn thật cụ thể khi sử dụng.
6. Kĩ thuật vệ sinh
6.1. Kĩ thuật thông gió.
Mục tiêu chống nóng, chống bụi, chống hơi khí độc đảm bảo vi khí hậu.
Khi vào các phân xưởng ta thường có cảm giác nặng nề khó thở, ngột
ngạt, đó là việc bố trí thông gió không tốt, đa số sử dụng thông gió tự nhiên.
Trong nhà máy luyện cán thép Gia Sàng không khí nóng và ẩm, khi vào các
phân xưởng sản xuất ta có cảm giác nóng kinh khủng. Tại phân xưởng cán thép
I và II thường bố trí thông gió tự nhiên kết hợp với thông gió cơ khí có bố trí
lắp các quạt thông gió trên tường và tại nơi các công nhân làm việc, vị trí của
quạt để ở lối đi rất cồng kềnh, thổi thẳng vào công nhân qua lại và có cảm giác
rất khó chịu. Nói chung vấn đề thông gió trong các phân xưởng sản xuất còn rất
kém.
6.2. Kỹ thuật chiếu sáng.
Trên trần cao của các phân xưởng đều có hệ thống đèn dây tóc chạy dọc.
Các phân xưởng được thiết kế mở nhiều cửa kính để phục vụ cho chiếu sáng.
tuy nhiên phân xưởng quá rộng lớn và cao nên ánh sáng thực sự không đủ. 15
Khi công nhân nhà máy đi sửa chữa thiết bị đều phải dùng thêm ánh sáng
điện áp 36V. Đặc biệt hệ thống đèn trên trần bị cháy nhiều mà chưa được thay
thế.
máy đều được huấn luỵen về PCCC để đảm bảo biét sử dụng các trang thiết bị 16
phục vụ chữa cháy cơ bản như bình cứu hoả và bơm chữa cháy. Định kỳ 6
tháng một lần nhà máy tổ chức kiểm tra, thay thế, bổ sung các trang thiết bị,
phương tiện phục vụ chữa cháy như: Bình bột, bình khí CO
2
, bơm chữa cháy
Hiện nay nhà máy có đầy đủ trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho
công tác PCCC đảm bảo yêu cầu thực tế đặt ra bao gồm: Bơm cứu hoả chạy
bằng xăng, bơm cứu hoả chạy bằng dầu, bình bột MF, bình khí cácbonic MT3,
thang cứu hoả
8. Chế dộ chính sách.
Căn cứ vào bộ luật lao động ngày30/6/1994 và nghị định 06/CP tháng
7/1995 về quy định chi tiết một số điều của bộ luật lao động về AT - VSLĐ.
Nhà máy đã thực hiện một số chính sách về AT - VSLĐ:
+ Năm nào nhà máy cũng được sở y tế Thái Nguyên, trung tâm y tế dự
phòng đo đạc các yếu tố độc hại cho tất cả các phân xưởng trong toàn nhà máy
có hồ sơ lưu giữ theo đúng các quy định.
+ Nhà máy tổ chức khám sức khoẻ cho cán bộ, công nhân viên chức 1
năm một lần. Sau khi khám các bệnh điều trị cấp tính chuyên khoa, quản lý
thep dõi các bệnh mãn tính. Nhà máy tổ chức cho công nhân đi điều dưỡng
hàng năm tại Hải Phòng, Cửa Lò và Đồ Sơn Nhà máy có một phòng y tế
thường xuyên theo dõi điều trị xử lý các sự cố có thể xảy ra với sức khoẻ người
công nhân. Phòng khám được trang bị các phương tiện kỹ thuật y tế thích hợp
đầy đủ: Thuốc, bông băng , kim tiêm cán bộ công nhân viên được hưởng trợ
cấp tiền thuốc trung bình 11.000VNĐ/người trong 1 tháng. Đối với những
người mắc bệnh nghề nghiệp với mức 84.600 VNĐ/tháng (đối với người tiếp
với mức đóng góp của công nhân là 5% tiền lương cơ bản hàng tháng, nhà máy
đóng 15% tổng quỹ tiền lương của cán bộ công nhân viên trong nhà máy.
Người lao động được hưởng các chế độ BHXH: Trợ cấp ốm đau, thợ cấp tai
nạn lao động, BNN Hàng năm nhà máy tổ chức đại hội công nhân viên chức
do ban chấp hành công đàon tổ chức, lấy ý kiến tập thể về nội dung thoả ước
lao động tập thể, biên bản phải có chữ ký của đại diện ban chấp hành công đoàn
nhà máy và được đăng ký với cơ quan lao động.
Toàn thể công nhân trong nhà máy đều được ký hợp đồng lao động với
nhà máy bằng các văn bản.
Mỗi năm một lần nhà máy tổ chức thi nâng bậc cho công nhân.
18
PHẦN III.
NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Qua việc khảo sát, đánh giá thực trạng công tác an toàn và vệ sinh lao
động tại nhà máy luyện cán thép Gia Sàng trực thuộc tổng công ty Gang Thép
Thai Nguyên, ta thấy rằng công tác BHLĐ tại đây đã được chú trọng, tuy
không đạt tới yêu cầu nhưng cũng giúp được công nhân lao dộng làm việc
trong môi trường lao động tốt hơn, giảm thiểu đáng kể số TNLĐ, mạng lưới
ATVSV phát huy tốt và được phân công rõ trách nhiệm BHLĐ từng cấp. Công
tác tuyên truyền BHLĐ có nhiều cố gắng, các đơn vị đều chấp hành nghiêm
,
tiếng ồn cao nhất là 88,9 dB tiêu chuẩn cho phép là 50 70 dB.
Căn cứ vào thực trạng của công tác an toàn vệ sinh lao động của các nhà
máy, các biện pháp tổ chức quản lý, quy trình công nghệ, dây truyền sản xuấtvà
các chỉ tiêu đánh giá em xin có vài đề xuất sau: 19
1. Tăng cường các biện pháp kỹ thuật giảm tiếng ồn cho các máy móc
thiết bị ở những khâu sản xuất có mức độ ồn quá lớn cụ thể là ở các máy cán
thép. Có thể sử dụng biện pháp chặn ồn tại nguồn phát sinh như sử dụng lớp
che chắn hay sử dụng hệ thông bao bọc giảm thanh ở giữa bằng các lớp bảo ôn.
Sau khi sử dụng tất cả các biện pháp trên không được mới phải sử dụng bịt tai
an toàn cho người lao động.
2. Trang bị BHLĐ cho công nhân tại nhà máy cần thay đổi, hiện nay
quần áo BHLĐ được cấp phát đều được may trên sợi tổng hợp có chứa nilon,
mặc rất nóng và bức. Khi có hiện tượng bỏng xảy ra trong các phân xưởng như
phân xưởng cán thép số II (dây truyền sản xuất thủ công), áo cháy, chất nilon
dính chặt vào da gây bỏng nặng hơn và đau hơn rất nhiều.
3. Cần có khâu xử lý nước thải, tránh để dầu, hoá chất hay các tạp chất ô
nhiễm đổ thẳng ra sông.
4. Không ngừng củng cố đội ngũ an toàn viên đủ số lượng, giỏi về
chuyên môn, tâm huyết với nghề. Tuy nhiên theo em cần có trang phục riêng và
thẻ an toàn vệ sinh viên để nâng cao trách nhiệm của những an toàn vệ sinh
viên đó.
5. Đối với các vị trí có nhiệt độ lớn, nóng bức, khó chịu, ngột ngạt nên
bố trí quạt gió thổi mát nếu cần thiết thiết kế thêm các miệng hút để khử lượng
nhiệt thừa.
6. Đối với các phân xưởng có ánh sáng kém nên bố trí thêm các bóng