MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Đến nửa cuối thế kỷ XIX, văn học trào phúng Việt Nam đã phát triển
thành một dòng lớn mạnh bên cạnh các dòng văn học khá, với một đội ngũ
tác giả đông đảo và những hình tượng nghệ thuật điển hình. Sự phát triển
của văn học trào phúng chứng tỏ sự trưởng thành vượt bậc của văn học dân
tộc trong giai đoạn lịch sử mới, thúc đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa nội
sinh, tiến tới hình thành nền văn học cận hiện đại. Tiến trình của một nền
văn học cũng giống như cuộc đời một con người. Con người ta cũng chỉ
thực sự biết cười một khi đã trưởng thành, đã có đủ trí tuệ, đã biết đến đau
khổ và điều quan trọng hơn là đã tự nhận thức được về những hạn chế của
chính bản thân mình. Đó cũng là lúc con người ấy không chỉ còn biết cười
thiên hạ, mà còn biết cười buồn về mình, biết tự trào văn trào phúng Việt
Nam phải nói đến Nguyễn Khuyến và Tú Xương mới trở thành sự thật.
Nguyễn Khuyến chính là một trong những tác gia tiêu biểu nhất của văn
học trào phúng ở giai đoạn trưởng thành này, ông cũng là một trong những
đại diện cuối cùng và lớn nhất của nền văn học Việt Nam trung đại ở vào
giai đoạn chung cục. Tam Nguyên Yên Đổ cũng là người có nhiều bài thơ
mang ý vị tự trào vào loại hay và tiêu biểu nhất trong văn học dân tộc.
Thơ tự trào là một trong những mảng thơ thể hiện rất rõ tâm trạng
của nhà thơ một cách khá chân thực. Để hiểu thêm về vấn đề này tôi quyết
định đi sâu tìm hiểu về đề tài: “Tự trào trong thơ văn Nguyễn Khuyến”
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nói đến Nguyễn Khuyến là độc giả nghĩ ngay đây là hai nhà thơ kiệt
xuất của thơ ca trào phúng Việt Nam, trong đó mảng thơ tự trào chiếm một
vị trí không nhỏ. Từ lâu “tự trào” cũng là chủ đề bàn thảo trong nhiều cuộc
sinh hoat văn chương. Tuy nhiên, việc nghiên cứu vấn đề chưa được quan
tâm đi vào nghiên cứu một cách có hệ thống.
1
Cuốn sách Nguyễn Khuyến về tác giả và tác phẩm, của Nguyễn Huệ
Chi, NXB Giáo dục, Hà Nội,2003.
trào là một mảng của thơ ca trào phúng Việt Nam. Tự trào là những tiếng
cười chế giễu bản thân, từ hình dáng bên ngoài đến phẩm cbên trong, từ
bản thân đến cuộc sống gia đình…Mỗi nhà thơ đều có những nổi niềm,
những tâm sự riêng và những điều bất mãn về bản thân để từ đó tạo ra
những vần thơ tự trào theo từng tâm trạng khác át nhau, phủ định hay
khẳng định. Nhưng chung quy lại thơ tự trào cũng để thổ lộ, giãi bày tâm
sự những điều bí bách trong lòng.
1.2.Nguyễn Khuyến –cái nhìn không chỉ thời buổi ấy
Trong văn học Việt Nam, Nguyễn Khuyến là một hiện tượng đặc
biệt. Ông vừa là nhà thơ trữ tình xuất sắc, vừa là nhà thơ trào phúng hàng
đầu; vừa là một đại khoa triều quan vừa là một thôn dân thực thụ; vừa coi
mọi chuyện trên đời như không có gì đáng bận tâm lại vừa mang trong lòng
một mối ưu hoài năm canh nhỏ lệ.
Về nghệ thuật văn chương, các nhà nghiên cứu từ trước tới nay đều
hết sức ca ngợi và trên thực tế, các tác phẩm của ông đã sống, đã thành một
phần tâm thức của dân tộc.
Từ quan, bất hợp tác với thực dân Pháp, dùng ngòi bút để phơi bày
những tội ác của thực dân và quan lại xấu xa, những giả trá, đen bạc của xã
hội thời bấy giờ, giữ tấm lòng trong sạch và ngay thẳng cho đến cuối đời -
đó đã là một nhân cách lớn.
3
Bi kịch của Nguyễn Khuyến không phải là bi kịch của một cá nhân,
mặc dù ông không được thi thố tài kinh bang tế thế của mình, mặc dù ông
đã có lúc đói ăn. Khi có người cho một miếng thịt, ông đã viết:
Cho ta thịt không phải sợ gì ta
Mà chỉ vì thương ta riêng một mình đói bụng
Bồi hồi khó nói ra lời
Ta đành cầm lấy thịt rồi ôm mặt khóc.
(Tặng nhục)
Ông từ quan, nghe bạn bè từ quan, nhất là khi đọc thư Đỗ Huy Liệu,
văn học Việt Nam mang một vẻ đẹp mới, vẻ đẹp của chủ nghĩa cổ điển
trong chủ nghĩa hiện thực.
Có thể nói, Nguyễn Khuyến là nhà thơ đầu tiên và thành công nhất
về quê hương làng cảnh VN.
Một đánh giá thật xác đáng về Nguyễn Khuyến. Hai vùng văn hóa
lớn: Nghệ Tĩnh - Nam Định, Hà Nam đã hun đúc nên một Nguyễn Khuyến.
Nguyễn Khuyến đã làm rạng rỡ làng Yên Đổ và quê hương ông. Ông là
dòng sông lớn chảy mãi trong văn học, trong lịch sử văn hóa Việt Nam. Và
sự khám phá về ông cũng dường như vô tận.
5
Chương II: Tự trào trong thơ văn Nguyễn Khuyến
2.1. Thế giới hình tượng thơ độc đáo
Xã hội mà Nguyễn Khuyến sống là xã hội thực dân nửa phong kiến
với những biểu hiện lố lăng, kệch cỡm. Ở đó mọi giá trị đạo đức truyền
thống đã bị đảo lộn, còn cái mới lại mang bộ mặt của kẻ xâm lược. Ngòi
bút thâm trầm mà sâu cay của Nguyễn Khuyến đã chĩa mũi nhọn vào
những chỗ hiểm yếu nhất của cái ung nhọt đó. Trong văn học trào phúng,
phê phán và phủ định điều này cũng chính là để khẳng định, bảo vệ một
chân lí nào đó. Nguyễn Khuyến châm biếm, đả phá cái giả Nho, cái vô
dụng, chính là đẻ khẳng định cái chân Nho, khẳng định những giá trị truyền
thống của dân tộc, khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của riêng mình đẻ
tự phản tỉnh trước thực tế của sự khủng hoảng các giá trị đạo đức đương
thời. Nguyễn khuyến luôn đem mình ra đẻ tự chế giễu, tự chê trách. Đẻ từ
đó trào phúng cả một tầng lớp đại diện cho xã hội thối nát, một nền học vấn
đã hết thời, một giai cấp đang từng bước chấm dứt vai trò lịch sử. Ông đã
có những phài thơ tự trào rất thành công và xây dựng một hình tượng thơ
rất độc đáo.
Trong Tiến sĩ giấynhà thơ đã đem ra trào phúng, châm biếm, hạ bệ
thần tượng cao nhất của cả một thế chế xã hội đã tồn tại hàng mấy năm –
ông tiến sĩ.
Rõ chú hoa man khéo vẽ trò
Bỡn ông mà lại dứ thằng cu.
(Vịnh tiến sĩ giấy, I)
Nghĩ mình cũng gớm cho mình nhỉ
Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng.
7