Những kiến nghị giải quyết những hạn chế của vốn FDI ở các quốc gia đang phát triển - Pdf 28

I. Tổng quan về FDI và các nước đang phát triển:
1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI):
a) Khái quát FDI:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) là hình
thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác
bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước
ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.
b) Các hình thức FDI:
i. Phân theo bản chất đầu tư
• Đầu tư phương tiện hoạt động: Đầu tư phương
tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua sắm và
thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư. Hình thức
này làm tăng khối lượng đầu tư vào.
• Mua lại và sáp nhập: Mua lại và sáp nhập là
hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt
động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể đang hoạt
động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có
vốn FDI ở nước nhận đầu tư. Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng
khối lượng đầu tư vào.
ii. Phân theo tính chất dòng vốn
• Vốn chứng khoán: Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần
hoặc trái phiếu doanh nghiệp do một công ty trong nước phát hành ở
một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của
công ty.
• Vốn tái đầu tư: Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận
thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm.
• Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ: Giữa các chi nhánh hay
công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để
đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau.
iii. Phân theo động cơ của nhà đầu tư
• Vốn tìm kiếm tài nguyên: Đây là các dòng vốn nhằm khai thác

mức thu nhập bình quân đầu quân đầu người (GNI/người). Nếu lấy mức
2000 USD/ người làm mốc phản ánh khả năng giải quyết được những
nhu cầu cơ bản của con người, đạt được mức này phản ánh sự biến đổi về
chất trong hoạt động kinh tế và đời sống xã hội thì hiện nay vẫn còn
khoảng 100 nước đang phát triển có mức thu nhập dưới 2000 USD/người,
trong đó có khoảng 40 nước có thu nhập bình quân dưới 600 USD/người.
- Các nước đang phát triển phải đối đầu với một thách thức là năng suất
lao động thấp. Do không có cơ hội được học hành đầy đủ, tỷ lệ biết chữ ở
mức rất thấp nên lao động ở các nước đang phát triển thường có tay nghề
không cao, chủ yếu là lao động phổ thông. Hơn thế nữa, do thiếu vốn và
công nghệ, các nước đang phát triển càng gặp khó khăn trong việc nâng
cao năng suất lao động. Đây luôn là vấn đề gây đau đầu cho các nhà
hoạch định chính sách ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
- Tốc độ gia tăng dân số, vấn đề người ăn theo, gánh nặng phụ thuộc
là những khó khăn đã đeo đẳng các nước đang phát triển từ rất lâu.
Nó như là một trở lực kìm hãm sự phát triển đi lên của những nước này.
Dân số những nước này vốn đã đông, sự bùng nổ về dân số ở những quốc
gia nàyđã tạo ra một hạn chế lớn cho phát triển kinh tế. Tỷ lệ gia tăng dân
số thường ở mức cao hơn tỷ lệ tăng trưởng kinh tế đã làm cho mức sống
của nhân dân ngày càng giảm. Thu nhập giảm tất yếu dẫn đến giảm sức
mua và tỷ lệ tiết kiệm, sự mất cân đối giữa tích lũy và đầu tư đã làm kìm
hãm sản xuất, trong khi dân số tiếp tục gia tăng, tạo áp lực về việc làm và
làm cho năng suất lao động không tăng lên được.
- Do áp lực tăng dân số, quy mô kinh tế không được mở rộng, làm cho
nhiều lao động không kiếm được việc làm. Do họ thường không có tay
nghề, chỉ là lao động thủ công, chưa qua đào tạo cho nên ở nhưng nước
này xảy ra tình trạng thừa lao động giản đơn và thiếu lao động có trình độ
cao. Để giải quyết vấn đề này, đòi hỏi rất nhiều thời gian cũng như chi
phí để đào tạo lao động, điều này thì rất khó với các nước đang phát triển
do họ thiếu thốn về kinh nghiệm cũng như tài chính để thực hiện dự án

Source: UNCTAD (percent)
Như vậy, tính đến năm 2005 thì nguồn vốn đổ vào các quốc gia đang
phát triển chiếm khoảng 35.9% ( tăng khá so với 20.3% năm 1980 ) và có
xu hướng ngày một tăng lên ( trong khi nguồn FDI đầu tư vào các quốc
gia phát triển có xu hướng giảm đi về mặt tỷ trọng trong tổng FDI toàn
cầu)
Vậy những nguồn vốn khổng lồ này xuất phát từ đâu? Theo các nghiên
cứu gần đây của UNCTAD thì các tập đoàn đa quốc gia(TNCs ) đang là
nguồn cung cấp chủ yếu FDI cho toàn cầu. Và mục tiêu của các tập đoàn
này là các quốc gia đang phát triển ( đặc biệt là các nước Đông Á, Nam Á
và Đông Nam Á- 2/3 số vốn FDI đầu tư cho các nước đang phát triển tập
trung ở đây). Nguyên nhân là do các nước này có các chính sách thu hút
vốn đặc biệt hấp dẫn, đem lại nguồn lợi nhuận khổng lồ cho các nhà đầu
tư – điều mà họ không thể tìm được ở nước mình.
Sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á 1997( nguyên nhân
được cho là do sự đổ vào ồ ạt và rút ra quá nhanh của vốn đầu tư nước
ngoài), các nước đang phát triển đều có thái độ e ngại khi tiếp nhận vốn
đầu tư nước ngoài. Nhưng hiện nay tình hình đã hoàn toàn khác, để giải
quyết những khó khăn về vốn, hầu hết các nước đang phát triển đều có
thái độ hồ hởi đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Các nước này đều cố
gắng tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà đầu tư như giảm thuế, đưa ra
những chính sách giảm bớt phiền hà cho các nhà đầu tư nước ngoài. Do
thế mà nguồn vốn FDI đổ vào các quốc gia có chính sách mở ngày một
tăng.
2. Ảnh hưởng tiêu cực của FDI:
FDI thực sự phát huy được vai trò chiến lược của nó từ sau chiến tranh
thế giới thứ II, khi Mỹ đổ tiền ào ạt vào châu Âu theo kế hoạch Marshall
để vực dậy lục địa bị chiến tranh tàn phá này. Sau đó là sự đầu tư lẫn
nhau của các nước châu Âu thực hiện liên minh tư bản, tăng cường khả
năng kinh tế chống lại độc quyền của nhà đầu tư Mỹ. Cho đến ngày nay,

• Nếu phía nước ngoài nắm quá nhiều quyền sở hữu thì nguy cơ
“giảm vốn” có thể xảy ra: Tức là các công ty nước ngoài khi làm ăn có lãi
thì bắt đầu chuyển vốn về nước chủ đầu tư tức là đồng nội tệ sẽ được đổi
ra đồng tiền của nước chủ đầu tư, chuyển ra nước ngoài khiến vốn sẽ bị
chuyển ra khỏi nước nhận đầu tư.
• Doanh nghiệp FDI trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp hoặc tiềm
tàng của các doanh nghiệp trong nước: FDI là công cụ thâm nhập thị
trường có sức mạnh như “ phát đại bác xuyên thủng hàng rào nội địa”, có
khả năng bóp chết những doanh nghiệp nội địa nhờ tính khoa học và hiệu
quả vượt trội của mình
• Nguy cơ trở thành bãi rác công nghệ:
• Ô nhiễm môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên:
• Lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị bị ảnh hưởng
Trong đó 3 hạn chế thường được nhắc đến và đang ngày càng bộc lộ rõ
đó là: (1) Nguy cơ trở thành bãi rác công nghệ,(2) Ô nhiễm môi trường,
cạn kiệt tài nguyên,(3) Lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị bị ảnh hưởng.
Những hạn chế này không phải chỉ tập trung trong một vài nhóm nước
mà đang trở thành nguy cơ phổ biến, nhỡn tiền ở hầu hết các nước nhận
đầu tư. Vì thế việc tìm ra biểu hiện, nghiên cứu nguyên nhân và tìm ra
giải pháp đang là những ưu tiên hàng đầu cho các nước này.
a) Nguy cơ trở thành bãi rác công nghệ:
Độc quyền về công nghệ là sức mạnh, là con át chủ bài của các công ty
đa quốc gia. Như một nguyên tắc các TNCs không bao giờ chuyển giao
những công nghệ tiên tiến nhất của mình cho các chi nhánh ở các nước
đang phát triển. Không phải lúc nào việc chuyển giao công nghệ cũng
mang ý nghĩa tốt đẹp. Mục đích của các tập đoàn đa quốc gia là tiết kiệm
tư bản, tiếp tục kéo dài chu kỳ sống của công nghệ đã trở nên lạc hậu tại
nước họ, mang nó đến những nước đang khát vốn và nghèo về công nghệ.
Điều này đã được đề cập đến trong Lý thuyết “ Vòng đời quốc tế của
sản phẩm” ( International product life cycle- IPLC) của Raymond

phẩm công nghệ cao, trong đó có 87% là của doanh nghiệp có vốn nước
ngoài, 65% là của doanh nghiệp do nước ngoài đầu tư 100% (đầu tư
100% có lợi cho việc nhà đầu tư nước ngoài kiểm soát bí mật kỹ thuật cơ
bản, độc chiếm lợi nhuận cao) và nắm quyền xuất khẩu sản phẩm công
nghệ cao, mang lại lợi nhuận lớn. Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng
quyết liệt, nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã tăng cường việc kiểm soát
bí quyết công nghệ, kỹ thuật độc đáo như căn cứ vào số tiền bán hàng thu
được để tính tiền sử dụng li-xăng, sử dụng kỹ thuật độc đáo, tận dụng ưu
thế kỹ thuật nắm được để thu lợi nhuận cao, khiến cho mức bội chi trong
tài khoản sử dụng li-xăng tăng lên tương đối nhanh. Mức bội chi trong tài
khoản sử dụng li-xăng tăng lên chứng tỏ việc sử dụng li-xăng của nước
ngoài tăng tương đối nhanh còn kỹ thuật độc đáo, thương hiệu bản xứ
tương đối ít. Nó cũng chứng tỏ trong quá trình đầu tư tại Trung Quốc, các
công ty nước ngoài ít chuyển giao công nghệ cho Trung Quốc. Đó là điều
trái với mong muốn ban đầu của Trung Quốc khi thu hút đầu tư trực tiếp
của nước ngoài.
Như vậy, vô hình chung các nước đang phát triển trở thành nơi tập kết
của những công nghệ lạc hậu, đã hết khấu hao ở các nước tư bản phát
triển. Chẳng bao lâu sau khi các nhà đầu tư kết thúc công việc của mình,
khi chuyển giao công nghệ được tiến hành, nước đang phát triển sẽ được
chuyển giao những gì? Họ sẽ tiếp tục sản xuất với công nghệ đã quá lạc
hậu. Chi phí họ bỏ ra để khắc phục những hậu quả từ công nghệ lỗi thời
ấy: ô nhiễm môi trường, vấn đề an toàn lao động, năng suất thấp so với
năng suất trung bình của thế giới là rất lớn. Rồi khi những công nghệ ấy
đã quá xa so với công nghệ của thế giới thì họ sẽ giải quyết nó thế nào?
Chưa có ai có được câu trả lời và cũng chưa có một giải pháp nào được
đưa ra.
Với chiêu bài xuất khẩu công nghệ, các nước phát triển thông qua các
công ty đa quốc gia đã giải quyết được những công nghệ bỏ đi, không
phù hợp với nền sản xuất của họ. Còn các nước đang phát triển tưởng như

for a country rich in natural resources to find investors abroad willing to
exploit those resources, especially if the price is right. Far more difficult,
however, is creating an industrial or service based economy. In 1994,
foreign investment in manufacturing was a mere 7 per cent, compared with


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status