Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
“Thuê tài chính là gì ?”có thể đó là câu hỏi mà nhiều người đặt ra và
không nhiều người có thể trả lời chính xác về nó.Mặc dù hoạt động này đã có
ở Việt Nam khá lâu khoảng 11năm nhưng thật sự là hoạt động này còn rất ít
được biết đến, chưa phổ biến và chưa được nhiều doanh nghiệp sử dụng như
một kênh huy động vốn cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là
một hoạt động rất cần thiết tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.Thuê tài chính là một hình thức tín dụng trung
và dài hạn tạo điều kiện cung cấp vốn cho các doanh nghiệp,mà vấn đề vốn
hiện nay là vấn đề nhức nhối của nhiều doanh nghiệp.Nhất là trong tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế,Việt Nam cần chuyển dịch cơ cấu kinh tế để đạt được
mô hình hợp lý đảm bảo thúc đẩy kinh tế tăng trưởng ,và nâng cao sức cạnh
tranh.Mà để thực hiện tốt vấn đề này cần huy động nhiều nguồn lực mà quan
trọng nhất là vốn.Nhu cầu vốn nhất là vốn trung và dài hạn để đầu tư phát
triển kinh tế xã hội đang là vấn đề được quan tâm giải quyết hàng đầu.
Hơn nữa,thuê tài chính còn là hoạt động tín dụng đảm bảo tốt cho bên
cho thuê vì họ vẫn còn quyền sở hữu tài sản,tránh được những khoản nợ khó
đòi hay vỡ nợ . Hoạt động thuê tài chính phát triển chưa mạnh ở nước ta nên
việc hạch toán hoạt động này vẫn còn nhiều bàn cãi và chưa thống nhất .Nắm
bắt được tình hình đó bộ tài chính đã đưa ra chuẩn mực kế toán số 06 “thuê tài
sản” và thông tư số 105/2003/TT-BTC đã hướng dẫn phương pháp kế toán
thuê tài sản , để thống nhất trong các doanh nghiệp mở đường cho thuê tài
chính nói riêng và thuê tài sản nói chung phát triển.Nhưng đây là vấn đề
tương đối mới nên còn nhiều bất cập do đó phải có nhiều điều chỉnh để hoàn
thiện và phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế số 17.Vấn đề hạch toán là
một khâu rất quan trọng trong các hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp,muốn phát triển hoạt động thuê tài chính thì vấn đề đầu tiên cần quan
tâm là hoàn thiện phương pháp hạch toán trong hoạt động này.Hoạt động thuê
tài chính là một hoạt động tạo ra rất nhiều lợi ích và thuận lợi cho cả bên thuê
lý luận về hạch toán thuê tài chính . Đồng thời, với quan điểm duy vật lịch sử
kết hợp với các phương pháp kế toán nhằm xem xét và phân tích phương pháp
hạch toán thuê tài chính theo một trình tự lôgic chặt chẽ, tạo cơ sở đưa ra
những kiến nghị nhằm góp phần phát triển và hoàn thiện hạch toán thuê tài
chính ở Việt Nam.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
5.Những đóng góp của đề tài
Đề tài nghiên cứu khoa học của chúng em mong rằng sẽ làm rõ thêm về
một số khái niệm ,thuật ngữ chuyên dùng trong hạch toán hoạt động thuê tài
chính .Khái quát và hệ thống hoá quá trình kế toán thuê tài chính.
Hơn nữa ,qua quá trình tìm tòi nghiên cứu về vấn đề này chúng em đã
đưa ra một số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện hạch toán thuê tài chính và
phát triển hoạt động này trên nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
6.Kết cấu của đề tài
Đề tài bao gồm ba phần:
Phần I: Khái quát về hoạt động thuê tài chính
Phần II: Kế toán thuê tài chính ở đơn vị đi thuê
Phần III:Một số ý kiến đề xuất
Tuy đã rất cố gắng nhưng chắc chắn đế tài sẽ không tránh khỏi những
thiếu sót ,chúng em rất mong rằng sẽ nhận được sự đóng góp quý báu của các
thầy cô giáo ,cũng như của các bạn sinh viên để chúng em có thể mở rộng
thêm tầm hiểu biết và có thể biết ,sửa chữa những sai lầm của mình.
Chúng em xin cảm ơn sự giúp đỡ và chỉ bảo rất tận tình của TS.Phạm
Bích Chi để chúng em có thể hoàn thành bài viết này.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
PHẦN I: KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG THUÊ TÀI CHÍNH
1. Khái niệm
Thuê tài chính là một hoạt động rất mới ở nước ta hiện nay.Vì lý do đó
mà có rất nhiều cách hiểu về thuê tài chính.Dưới đây là một số quan điểm về
khái niệm thuê tài chính:
dụng không cần có sự thay đổi, sửa chữa lớn nào
2.Vai trò của hoạt động thuê tài chính
Thuê tài chính là một hình thức cung cấp vốn trung và dài hạn, mới xuất
hiện ở Việt Nam.Nhưng trên thế giới thì hoạt động này đã có từ khá lâu
rồi.Vào đầu thập kỷ 50, mà cụ thể là năm 1952, thuê tài chính được sáng tạo
ra ở Mỹ.Từ đó thuê tài chính được phát triển sang châu Á, Âu rất nhanh vào
thời gian ngay sau đó. Tại Việt Nam nghiệp vụ cho thuê tài chính được áp
dụng thí điểm vào năm 1995,sau đó chính phủ đã ban hành một số nghị định
về hoạt động này.Hiện nay, khi nền kinh tế thị trường phát triển thì hoạt động
thuê tài chính càng có cơ hội phát triển, thực tế cho thấy tỷ lệ thiết bị được tài
trợ bởi thuê tài chính chiếm tỷ lệ khá cao trên thế giới.Sở dĩ hoạt động này
phát triển nhanh và được ưa chuộng trên thế giới là do vai trò to lớn của nó
đối với bên thuê và bên cho thuê nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Đối với nước ta hiện nay, đang trong quá trình hội nhập nền kinh tế quốc
tế thì hoạt động thuê tài chính rất cần được phát triển.Hoạt động này có thể
thúc đẩy nền kinh tế phát triển, nâng cao năng suất lao động, bổ sung một
hình thức vay vốn mới trong nền kinh tế.Cụ thể vai trò của hoạt động thuê tài
chính thể hiện ở cả bên thuê và bên cho thuê tài sản.
2.1. Đối với bên thuê
Hiện nay,vấn đề vốn đang là vấn đề gian nan của không ít những doanh
nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp mới thành
lập.Muốn kinh doanh tốt, muốn doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, muốn mở
rộng quy mô của doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần phải có vốn.Mà kênh tài
trợ quen thuộc vẫn là đi vay ở các ngân hàng thương mại.Nhưng việc vay vốn
ở các ngân hàng thương mại cũng không phải là việc dễ dàng.Nhất là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ,các doanh nghiệp mới thành lập.Giải pháp tối ưu
cho những trường hợp này là huy động vốn thông qua thuê tài chính.Vậy thuê
tài chính có gì tốt hơn vay vốn ngân hàng?
Thứ nhất phải kể đến ở đây chính là thủ tục, với thuê tài chính thủ tục
đơn giản hơn nhiều so với vay vốn ngân hàng.Khi vay vốn ngân hàng thì điều
Mặt khác,nếu doanh nghiệp đã và đang dùng, hay đã mua tài sản cố định
về nhưng lại thiếu vốn để đầu tư cho hoạt động khác thì vẫn có thể áp dụng
thuê tài chính.Mới nghe có vẻ lạ nhưng đó là sự thật, khi đó doanh nghiệp có
thể bán lại thiết bị ,tài sản cho công ty thuê tài chính rồi thuê lại tài sản
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đó.Như vậy chỉ là chuyển giao quyến sở hữu mà thôi còn trên thực tế thì tài
sản vẫn thuộc quyền sử dụng của công ty đi thuê, công ty vẫn hoạt động, sử
dụng bình thường , sự chuyển giao chỉ là trên giấy tờ mà thôi. Điều đó thể
hiện tính linh hoạt của hoạt động thuê tài chính, nó góp phần tăng thêm lợi ích
mà hoạt động này mang lại.
Nói đến đi thuê nhiều người quan niệm rằng phải sử dụng tài sản của bên
cho thuê một cách thụ động.Nhưng đối với thuê tài chính thì không phải hoàn
toàn là như vậy.Khi bạn muốn thuê một tài sản bạn có quyền lựa chọn tài sản,
công nghệ phù hợp với doanh nghiệp.Khi đó bên cho thuê chịu trách nhiệm
thanh toán tiền mua công nghệ, thiết bị đó.Như vậy bên thuê vừa có tài sản
theo ý mình vừa không mất tiền mua tài sản đó.Có thể đó cũng là một lợi ích
lớn mà thuê tài chính mang lại cho bên thuê mà các hình thức thuê khác
không có được.
Hơn nữa, khi kết thúc thời hạn thuê, doanh nghiệp muốn mua lại tài sản
thì sẽ được mua theo giá ưu đãi thấp hơn so với giá trị còn lại của tài
sản.Doanh nghiệp vừa có tài sản lại vừa mua được giá rẻ đó là một ưu điểm
lớn mà thuê tài chính mang lại.
Thuê tài chính thực sự mang lại rất nhiều lợi ích cho bên thuê tài sản.Nó
có thể là một con đường mới mở ra cho nhiều doanh nghiệp đang trong giai
đoạn khó khăn về vốn và công nghệ.Nó có vai trò hết sức to lớn trong việc
phát triển của các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.
2.2. Đối với bên cho thuê
Có thể nói rằng thuê tài chính là hoạt động mà cả hai bên đều có lợi.Nó
không chỉ đem lại lợi ích to lớn với bên thuê mà bên cho thuê cũng có được
những lợi ích đáng kể. Điều đầu tiên kể đến ở đây là sự đảm bảo, đối với ngân
A. HẠCH TOÁN THUÊ TÀI CHÍNH TẠI ĐƠN VỊ ĐI THUÊ Ở VIỆT NAM
1.Giải thích một số thuật ngữ liên quan
+Khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu:
Mục đích của bên cho thuê đưa ra khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu
nhằm có một sự bảo đảm giá trị của tài sản thuê
Do có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyến sở
hữu cho bên thuê và thời gian thuê chiếm phần lớn thời gian sử dụng hữu ích
của tài sản thuê nên bên cho thuê được quyền đưa ra khoản thanh toán tiền
thuê tối thiểu.
Nó được tính:
-Đối với bên thuê :Khoản tiền thuê phải trả trong suốt thời gian
thuê( không bao gồm bất cứ một khoản chi phí dịch vụ, thuế mà bên cho thuê
đã trả mà bên thuê hoàn lại cộng với tiền phát sinh thêm) và giá trị được bên
thuê hoặc một bên liên quan đảm bảo thanh toán
- Đối với bên cho thuê thì đó là khoản tiền nhận được từ bên thuê trong
thời gian thuê cộng với giá trị còn lại của tài sản được đảm bảo thanh toán
bởi:
Bên thuê
Bên liên quan đến bên thuê
Bên thứ ba độc lập có khả năng tài chính
+Thới hạn thuê tài sản ở đây bao gồm khoảng thời gian ghi trong hợp
đồng cộng với khoảng thời gian bên thuê được gia hạn thuê tài sản phải trả
thêm hoặc không phải trả thêm nếu quyền gia hạn được xác định tương đối
chắc chắn tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản
Tuy nhiên, nếu trong hợp đồng có điều khoản bên thuê được mua lại tài
sản với giá thấp hơn giá trị hợp lý của tài sản thuê vào cuối thời điểm thuê thì
khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu bao gồm tiền thuê trong hợp đồng thuê và
khoản thanh toán cho việc mua lại tài sản thuê.
Đầu tư gộp trong thuê tài chính là tổng khoản thanh toán tiền thuê tối
thiểu trong hợp đồng cho thuê tài chính cộng với giá trị còn lại của tài sản
- Thời hạn thuê chiếm phần lớn thời gian sử dụng kinh tế của tài sản
- Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, giá trị của khoản thanh toán tiền
thuê tối thiểu chiếm phần lớn giá trị hợp lý của tài sản thuê
- Tài sản thuê thuộc loại chuyên dùng mà chỉ có bên thuê có khả năng
sử dụng, không cần thay đổi, sửa chữa mới
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Tài sản cố định phải thuê của công ty cho thuê tài chính
- Riêng thuê tài sản là quyền sử dụng đất và nhà
Đất thường có thời gian sử dụng kinh tế vô hạn và quyền sở hữu sẽ
không chuyển giao cho bên thuê khi hết thời hạn thuê, bên thuê không nhận
phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu đất do đó thuê tài sản là
quyền sử dụng đất được hạch toán là thuê hoạt động.
3. Hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
3.1. Chứng từ sử dụng.
-hoá đơn thuế GTGT
- Phiếu thu,phiếu chi
- Biên bản giao nhận tài sản cố định
- Biên bản thanh lý tài sản cố định
- Hợp đồng thuê tài sản
- Giấy đề nghị và phương án thuê
- Bản xác nhận lựa chọn tài sản
3.2. Tài khoản sử dụng
TK212-Tài sản cố định thuê tài chính
Phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động của toàn bộ tài sản cố
định thuê tài chính của doanh nghiệp.
-Nguyên tắc hạch toán:
+ Nguyên giá của tài sản cố định thuê tài chính không bao gồm số thuế
giá trị gia tăng bên cho thuê đã trả khi mua tài sản cố định để cho thuê
+ Số thuế giá trị gia tăng bên thuê phải trả cho bên cho thuê theo định kỳ
nhận được hoá đơn thanh toán tiền thuê tài chính được hạch toán như sau:
• Khi nhận tài sản cố định thuê tài chính, kế toán căn cứ vào hợp đồng
thuê tài sản và các chứng từ liên quan phản ánh giá trị tài sản cố định thuê tài
chính theo giá chưa có thuế GTGT:
Nợ TK 212
Có TK 315:Số nợ gốc phải trả kỳ này
Có TK 342: Giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu hoặc
giá trị hợp lý của tài sản trừ(-) số nợ gốc phải trả kỳ này.
• Định kỳ nhận được hoá đơn thanh toán tiền thuê tài chính.
-Trường hợp tài sản cố định thuê tài chính dùng vào hoạt động sản xuất
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo
phương pháp khấu trừ.
Khi xuất tiền trả nợ gốc, lãi thuê và thuế GTGT cho bên cho thuê
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nợ TK 635: Tiền lãi thuê phải trả kỳ này
Nợ TK 315: Nợ gốc trả kỳ này
Nợ TK 1332:Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 111,112.
Khi nhận được hoá đơn thanh toán tiền thuê tài sản nhưng
doanh nghiệp chưa trả tiền ngay, căn cứ vào hoá đơn kế toán ghi:
Nợ TK 635
Nợ TK 133
Có TK 315:Nợ dài hạn đến hạn trả
-Trường hợp tài sản cố định thuê tài chính dùng vào hoạt động sản xuất
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT hoặc
chịu thuê GTGT theo phương pháp trực tiếp.
Khi xuất tiền trả nợ gốc, tiền lãi thuê và thuế GTGT cho bên cho thuê
Nợ TK 635: Tiền lãi thuê
Nợ TK 315: Nợ gốc phải trả kỳ này
Nợ TK 627,641,642:Thuế GTGT phải trả kỳ này
Có TK 111,112
Hoặc Nợ TK 627,641,642
Có TK138
d. Định kỳ kế toán tiến hành trích khấu hao tài sản cố định thuê tài chính
vào chi phí sản xuất kinh doanh hoặc vốn hoá vào giá trị tài sản dở dang
Nợ TK627,641,642,241
Có TK2142
e. Cuối niên độ kế toán căn cứ vào hợp đồng thuê tài chính xác định số
nợ gốc thuê tài chính đến hạn trả trong niên độ kế toán tiếp theo
Nợ TK 342
Có TK 315
f. Cuối thời hạn thuê
+Nếu doanh nghiệp trả lại tài sản thuê
Nợ TK 2142
Có TK212
+ Nếu doanh nghiệp mua lại tài sản thuê .
• Khi chuyển tài sản cố định thuê tài chính thành tài sản thuộc sở hữu
của doanh nghiệp
Bút toán 1
Nợ TK 2142
Có TK 2141:Hao mòn tài sản cố định hữu hình
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bút toán 2
Nợ TK 211
Có TK 212
• Số tiền phải trả khi mua lại tài sản cố định thuê tài chính:
Nợ TK 212
Có TK 111,112
g.Trường hợp bán và thuê lại tài sản cố định.
Theo chuẩn mực 06 quy định: Khoản lãi (lỗ) từ việc bán và thuê lại tài
sản không được ghi nhận ngay vào doanh thu ( chi phí ) trong kỳ mà phải