luận văn thạc sĩ Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 28

MỤC LỤC
2.3.1.1. Xây dựng quy trình nghiệp vụ 67
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán (TTCK) đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới nhưng
mới chỉ được thành lập tại Việt Nam chưa đầy một thập kỷ. Trước năm 2000, thuật
ngữ TTCK còn khá xa lạ. Từ cuối tháng 7 năm 2000, TTCK Việt Nam đi vào hoạt
động nhưng chưa có dấu hiệu của sự sôi nổi, đối tượng tham gia chủ yếu là các
công ty chứng khoán (CTCK) và một số ít nhà đầu tư cá nhân. Đến cuối năm 2006,
TTCK Việt Nam mới thực sự bùng nổ. Có được kết quả này là do định hướng phát
triển và hội nhật kinh tế đúng đắn của Đảng và Chính phủ, do môi trường đầu tư tại
Việt Nam ngày càng thuận lợi hơn.
Trước cơ hội TTCK Việt Nam phát triển chưa từng thấy, các đối tượng tham
gia thị trường đã tận dụng nhiều nguồn lực để đầu tư kiếm lời. TTCK Việt Nam đã
được ví như “cỗ máy hái ra tiền” hiệu quả thứ hai trên thế giới, chỉ sau TTCK
Zimbabwe, đó là lý do khiến giới đầu tư không thể đứng ngoài cuộc. Cũng xuất
phát từ lợi ích không nhỏ đó, cuộc cạnh tranh giữa các chủ thể thị trường được đẩy
lên cao hơn bao giờ hết.
Trên phương diện nhà đầu tư, các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài
liên tục mở tài khoản giao dịch tại các CTCK, số lượng tài khoản và lượng tiền đổ
vào thị trường tăng vọt theo từng ngày, các CTCK phục vụ hết công suất nhưng đôi
lúc cũng không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Một số CTCK lớn đã phải
hạn chế lượng khách hàng đến giao dịch. Trên phương diện trung gian thị trường,
các CTCK cũng cạnh tranh nhau gay gắt để giành lấy thị phần. Đổi mới công nghệ,
miễn và giảm phí môi giới, dịch vụ khách hàng tốt, tặng tiền khi khách hàng mở tài
khoản giao dịch… là những chính sách thu hút khách hàng khá hiệu quả của một số
CTCK mới gia nhập thị trường. Với chi phí thành lập và duy trì hoạt động rất lớn,
nhiều CTCK mới đã có sự khởi đầu tốt đẹp song lại sớm gặp khó khăn, thậm chí
hoạt động cầm chừng trong những giai đoạn thị trường trồi sụt. Trái lại, một số
CTCK mới khác đã phát triển bền vững, tăng dần thị phần và khẳng định được vị
1

chứng khoán.
- Giải pháp tin học quản lý khách hàng tại công ty chứng khoán Việt Nam.
- Giải pháp kết nối thông tin giữa TTGDCK và công ty chứng khoán.
- Vai trò của công ty chứng khoán trong hoạt động tư vấn đầu tư chứng
khoán cho khách hàng.
- Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các tổ chức trung gian trong
việc hỗ trợ phát hành chứng khoán ra công chúng.
- Giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra, giám sát công ty chứng khoán.
- Giải pháp hoàn thiện mối quan hệ giữa công ty chứng khoán và khách hàng.
- Các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức cung ứng
dịch vụ chứng khoán trong điều kiện hội nhập.
Còn lại đa số là các bài báo, phân tích, nhận định mang tính thời sự về chứng
khoán, TTCK và các CTCK đang hoạt động tại Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài được thực hiện với mục đích đưa ra đánh giá về năng lực cạnh tranh
của Agriseco sau bảy năm hoạt động, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh
tranh của Agriseco trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Agriseco trên TTCK Việt Nam;
- Tìm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Agriseco.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của Agriseco trên TTCK
3
Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi TTCK Việt Nam, có tham
khảo thông tin về TTCK ở một số quốc gia khác trên thế giới. Tác giả tiến hành
nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến cuối năm 2007.

doanh chứng khoán, có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và thực hiện các nghiệp vụ
trên TTCK.
Hiện nay chưa có một định nghĩa nào thực sự rõ ràng về CTCK, nhưng định
nghĩa phổ biến nhất là: “Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung
gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán”.
CTCK đóng vai trò là tổ chức trung gian trong các giao dịch trên TTCK, là
nơi kết nối và thực hiện giao dịch giữa người mua và người bán. Bên cạnh đó,
CTCK còn là trung gian về thông tin, cung cấp thông tin tư vấn, các sản phẩm
nghiên cứu nhằm hỗ trợ nhà đầu tư chọn lựa được các chứng khoán cho danh mục
đầu tư của mình. CTCK cũng là trung gian về vốn khi đóng vai trò là cầu nối giữa
nhà đầu tư và tổ chức phát hành,…
Tại Việt Nam, trong Luật Chứng khoán và các nghị định hướng dẫn đều không
nêu định nghĩa hay khái niệm CTCK. Duy chỉ trong Quyết định 27/2007/QĐ-BTC
ngày 24/4/2007 của Bộ Tài chính có quy định: “Công ty chứng khoán là tổ chức có
5
tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số
hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo
lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán”.
1.1.1.2. Phân loại CTCK
Hiện nay trên thế giới, các CTCK có rất nhiều hình thức pháp lý như quốc
doanh, cổ phần, trách nhiệm hữu hạn, liên doanh, doanh nghiệp tư nhân… Theo
Luật Chứng khoán hiện hành, các CTCK hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam chỉ có
hai hình thức pháp lý là công ty cổ phần hoặc trách nhiệm hữu hạn. Quy định này
giúp CTCK có khả năng huy động vốn lớn và chia sẻ rủi ro trong phạm vi vốn góp.
Hoạt động của các CTCK rất đa dạng và phức tạp, khác hẳn với các doanh
nghiệp sản xuất hay thương mại thông thường vì môi trường hoạt động là TTCK -
thị trường tài chính bậc cao của nền kinh tế thị trường. Do hoạt động đa dạng và
phức tạp như vậy nên vấn đề xác định mô hình tổ chức kinh doanh của CTCK ở
mỗi quốc gia lại có những điểm khác biệt nhất định tùy theo đặc điểm của hệ thống
tài chính và sự cân nhắc lợi hại của những người làm chính sách ở quốc gia đó.

giá dự án, quản lý tài sản và định hướng đầu tư.
- Tạo cơ chế huy động vốn: Mục tiêu của các tổ chức phát hành khi tham gia
vào TTCK là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán. Vì thế, qua
hoạt động bảo lãnh phát hành và đại lý phát hành, CTCK cung cấp cơ chế huy động
vốn phục vụ đối tượng khách hàng này.
1.1.2.2. Đối với các nhà đầu tư
- Kiểm soát rủi ro trong hoạt động đầu tư: TTCK là thị trường của những sản
phẩm tài chính, để thẩm định chất lượng và giá cả của chúng thì cần phải thu thập,
xử lý thông tin. Vì thế CTCK có vai trò giúp nhà đầu tư đánh giá đúng và chính xác
giá trị khoản đầu tư của mình. Với dịch vụ tư vấn, CTCK trở thành một kênh thông
tin hiệu quả cho nhà đầu tư. Những thông tin này bao gồm giá cả các loại cổ phiếu,
7
trái phiếu, tình hình chính sách, môi trường kinh tế trong và ngoài nước. Những
thông tin này được CTCK cung cấp chính xác và kịp thời, là cơ sở để các nhà đầu
tư thực hiện các quyết định mua bán của mình.
- Đảm bảo an toàn trong giao dịch: Thông qua việc lưu ký và đăng ký chứng
khoán, các CTCK nắm được thông tin về các chứng khoán và tỷ lệ sở hữu chứng
khoán của nhà đầu tư, từ đó kịp thời đưa ra các quyết định xử lý khi tỷ lệ này vượt
quá mức quy định của pháp luật hiện hành. Cũng qua hoạt động này, CTCK cung
cấp cho nhà đầu tư những thông tin về chứng khoán bị mất cắp hay không còn giá
trị lưu hành, đảm bảo cho các chứng khoán mua bán là các chứng khoán thực nhằm
bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. Khi giao dịch chứng khoán được thực hiện, các
CTCK tiến hành chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán và thanh toán tiền giữa
các bên tham gia giao dịch. Như vậy, CTCK làm nhiệm vụ đảm bảo an toàn cho các
giao dịch chứng khoán.
1.1.2.3. Đối với TTCK
- Góp phần tạo lập giá cả và điều tiết thị trường: Giá cả là do thị trường
quyết định, nhưng để đưa ra mức giá cuối cùng, người mua và người bán phải thông
qua CTCK vì họ không được trực tiếp tham gia vào quá trình mua bán. Ngoài ra,
CTCK còn thực hiện vai trò ổn định thị trường, can thiệp để điều tiết giá cả. Vai trò

tế cho các chủ thể tham gia thị trường mà còn tạo ra lợi ích kinh tế cho toàn xã hội.
Đó là việc giảm chi phí giao dịch, lưu thông các dòng chảy tài chính, từ đó thúc đẩy
từ tiết kiệm sang đầu tư cho nền kinh tế.
1.1.3. Các nghiệp vụ của CTCK
Hoạt động của CTCK rất đa dạng và phong phú với nhiều sản phẩm, dịch vụ
để thích ứng với sự phát triển của TTCK. Để tham gia thị trường, các CTCK có thể
thực hiện một, một vài hoặc tất cả các hoạt động sau:
9
1.1.3.1. Môi giới chứng khoán
Là việc CTCK làm trung gian môi giới giúp khách hàng mua và bán chứng
khoán, qua đó hưởng hoa hồng trên tổng doanh số mà khách hàng thực hiện mua
bán và chính khách hàng phải tự chịu trách nhiệm về các quyết định của mình.
Hoạt động môi giới cung cấp cho khách hàng thông tin và các khuyến nghị
đầu tư, cũng qua hoạt động môi giới, CTCK chuyển đến nhà đầu tư các sản phẩm
và dịch vụ tài chính.
1.1.3.2. Tự doanh chứng khoán
Hoạt động tự doanh chứng khoán là hoạt động kinh doanh của CTCK, trong
đó CTCK mua bán chứng khoán cho chính mình. Khi thực hiện hoạt động tự doanh,
công CTCK có nhiều mục tiêu khác nhau. Nó có thể là đầu tư hưởng chênh lệch
giá, đầu tư nắm quyền kiểm soát, bình ổn giá chứng khoán hoặc tạo thị trường cho
các chứng khoán mới phát hành.
Hoạt động này diễn ra song song với hoạt động môi giới, vừa phục vụ lệnh
giao dịch của khách hàng đồng thời cũng phục vụ cho giao dịch của chính mình. Vì
vậy, trong quá trình hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa khách hàng và
bản thân CTCK. Do đó, luật pháp các nước đều yêu cầu tách biệt rõ ràng giữa hoạt
động môi giới và tự doanh, CTCK phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước
khi thực hiện lệnh của mình. Vì vậy đòi hỏi CTCK phải có nguồn vốn lớn và đội
ngũ nhân viên có đạo đức nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn, có khả năng phân
tích và đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý, đặc biệt trong trường hợp đóng vai trò
là nhà tạo lập thị trường. Khoản thu từ hoạt động tự doanh đến từ hai nguồn: Cổ

Nguồn thu từ hoạt động này được hình thành từ phí tư vấn, thường được tính
trên tỷ lệ phần trăm doanh số giao dịch chứng khoán của khách hàng.
1.1.3.5. Các dịch vụ khác
11
Bên cạnh các hoạt động nghiệp vụ chính, CTCK còn thực hiện một số các
hoạt động phụ trợ để cung cấp cho khách hàng. Có thể kể đến một vài hoạt động
phụ trợ sau:
a, Lưu ký chứng khoán
Lưu ký chứng khoán là hoạt động nhằm lưu giữ, bảo quản chứng khoán của
khách hàng thông qua các tài khoản lưu ký và giúp khách hàng thực hiện các quyền
của mình đối với chứng khoán. Đây là quy định bắt buộc trong giao dịch chứng
khoán, bởi vì giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung được thực hiện dưới
hình thức giao dịch ghi sổ. Khách hàng phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại
các CTCK nếu chứng khoán phát hành dưới hình thức ghi sổ hoặc ký gửi các chứng
khoán nếu chúng được phát hành dưới hình thức chứng chỉ vật chất. Khi thực hiện
hoạt động lưu ký cho khách hàng, CTCK sẽ nhận được các khoản phí như phí lưu
ký và chuyển nhượng chứng khoán.
b, Quản lý quyền
Hoạt động này của CTCK xuất phát từ việc lưu ký chứng khoán cho khách
hàng. Khi thực hiện hoạt động này, CTCK đứng ra làm dịch vụ thu nhận và sau đó
chi trả cổ tức cho khách hàng, thực hiện các quyền khác cho khách hàng như nhận
cổ phiếu thưởng, mua cổ phiếu phát hành thêm…
c, Hoạt động tín dụng
Đối với TTCK phát triển, bên cạnh nghiệp vụ môi giới chứng khoán cho
khách hàng để hưởng hoa hồng, CTCK còn triển khai dịch vụ cho khách hàng vay
chứng khoán để thực hiện giao dịch bán khống hoặc cho khách hàng vay tiền để
thực hiện mua chứng khoán. Ở Việt Nam hiện nay, các CTCK không được thực
hiện hoạt động tín dụng, do đó, các CTCK không được trực tiếp thực hiện dịch vụ
này. Vì vậy, CTCK đứng ra làm trung gian giúp khách hàng tiếp cận và vay vốn của
ngân hàng, đồng thời CTCK giúp ngân hàng phong tỏa các chứng khoán làm tài sản

13
thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán
hàng hóa với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp.
b, Năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của
doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của
khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là các yếu tố
nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ,
tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần
đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực,
cùng một thị trường. Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong
doanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với
các đối tác cạnh tranh. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh
tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình.
Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng
mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh.
1.2.1.2. Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp
Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ
tất cả những yêu cầu của khách hàng. Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt
này và có hạn chế về mặt khác. Vần đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết được
điều này và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt
nhất những đòi hỏi của khách hàng. Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong một
doanh nghiệp được biểu hiện thông qua các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh
nghiệp như marketing, tài chính, sản xuất, nhân sự, công nghệ, quản trị, hệ thống
thông tin… Tuy nhiên, để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, cần
phải xác định được các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực hoạt
động khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định tính và định lượng. Các
doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau có
14

Nguồn nhân lực có thể được xếp vào tiêu chí định lượng khi xét về số lượng
nhân viên. Tuy nhiên, đó chỉ là phần nổi. Đánh giá nguồn nhân lực chủ yếu được
dựa trên chất xám và hiệu quả hoạt động của họ.
Khi thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh, nhân viên của CTCK thường xuyên
phải độc lập ra những quyết định. Đối với nghiệp vụ tự doanh, một quyết định có
giá trị hàng tỷ đồng chỉ trong thời gian tính bằng giây, bằng phút. Chính vì vậy nhân
viên kinh doanh phải có kinh nghiệm cũng như trình độ chuyên môn nhất định, khả
năng tự quyết cao và đặc biệt là sự “nhạy cảm” đối với thị trường.
b, Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức
Mọi hoạt động kinh doanh được thực hiện đều phải tuân thủ chiến lược đầu tư
nói riêng và chiến lược hoạt động tổng thể của CTCK nói chung. Việc hoạch định
nên những chiến lược này mang đậm dấu ấn của đội ngũ lãnh đạo, nhất là phong cách
của người đứng đầu. Quan điểm khác nhau sẽ dẫn đến việc hoạch định chiến lược
hoạt động khác nhau, cách thức tổ chức bộ máy kinh doanh khác nhau, lựa chọn
chiến lược đầu tư khác nhau và do đó kết quả kinh doanh cũng sẽ khác nhau.
CTCK là một định chế tài chính đặc biệt, vì vậy hoạt động của CTCK rất đa
dạng và phức tạp. Việc tổ chức quản lý của công ty có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu
quả hoạt động nói chung và hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty nói riêng.
Do các hoạt động của CTCK có đặc thù là độc lập nhưng vẫn có ảnh hưởng nhất định
tới nhau nên cơ cấu tổ chức của CTCK phải đáp ứng được yêu cầu cơ bản là chuyên
môn hóa ở mức độ cao, mỗi bộ phận chỉ chuyên trách một hoạt động cụ thể.
Một CTCK muốn hoạt động tốt ngoài việc đáp ứng yêu cầu chuyên môn hoá
còn phải tổ chức sao cho các bộ phận chuyên môn phối hợp nhịp nhàng với nhau.
Mọi hoạt động của CTCK có thể trở nên hỗn loạn trước những biến động bất ngờ
của thị trường nếu chúng không được sắp xếp hợp lý bởi một chiến lược rõ ràng và
một định hướng ưu tiên có cơ sở.
c, Mức độ cạnh tranh và hợp tác giữa các CTCK
16
Nền kinh tế thị trường mang trong mình đặc trưng cạnh tranh. Cạnh tranh
củng cố thêm sức mạnh cho các thành phần tham gia. Cạnh tranh giúp các doanh

ràng buộc, ảnh hưởng lẫn nhau.
Ở tầm vi mô, các cú sốc ảnh hưởng tiêu cực trực tiếp đến hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp. Các CTCK, nơi thông qua đó, công chúng đặt niềm tin
vào TTCK sẽ chịu tác động sớm từ nhiều phía khi khủng hoảng xảy ra. Chính vì
thế, chuẩn bị mọi nguồn lực và phương sách đối phó với rủi ro là công tác quan
trọng được đặt lên hàng đầu để giảm thiểu thiệt hại do khủng hoảng gây ra.
Năng lực phản ứng với những cú sốc có thể bao gồm các công cụ trong hệ
thống quản trị rủi ro của CTCK và các công cụ kế hoạch của công ty. Quản trị rủi ro
và dùng kế hoạch là công cụ điều hành sẽ là “vũ khí” có hiệu quả để đối phó với
từng cú sốc, với từng loại rủi ro khác nhau, mang đến sức mạnh cạnh tranh không
nhỏ của các trung gian hoạt động trên TTCK nói chung và các CTCK nói riêng.
1.2.2.2. Tiêu chí định lượng
a, Tiềm lực tài chính
Tiềm lực tài chính của một CTCK bao gồm các chỉ tiêu như: vốn điều lệ, vốn
chủ sở hữu, tổng tài sản, các khoản nợ, tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận. Bên
cạnh đó còn là các chỉ tiêu khác như Tài sản cố định (lưu động)/Tổng tài sản, Tỷ
suất lợi nhuận trên doanh thu, Tỷ suất lợi nhuận trên vốn, Nợ phải trả/Tổng tài sản,
Khả năng thanh toán (hiện thời, thanh toán nhanh, thanh toán bằng tiền).
Khả năng tài chính luôn là yếu tố hàng đầu trong mọi hoạt động của CTCK,
đặc biệt, hoạt động tự doanh và bảo lãnh phát hành đòi hỏi công ty phải có một
lượng vốn rất lớn. CTCK khi triển khai hoạt động tự doanh không chỉ mua một
hoặc hai loại chứng khoán có triển vọng thu lời cao mà phải xây dựng cho mình
một danh mục đầu tư nhằm giảm thiểu các rủi ro, vì vậy trong danh mục này thường
bao gồm khá nhiều loại chứng khoán thuộc các ngành nghề khác nhau. Mặt khác, số
lượng chứng khoán trong danh mục cũng phải tương đối lớn để công ty có khả năng
18
thu được lợi nhuận đề ra. Trong trường hợp tạo lập thị trường, CTCK cũng cần nắm
giữ một số lượng chứng khoán đủ lớn cũng như lượng tiền mặt dồi dào để sẵn sàng
mua bán nhằm điều tiết được giá cả trên thị trường. Vì vậy, khả năng tài chính tốt
hoặc có một chỗ dựa tài chính vững chắc là rất cần thiết.

- Hệ thống công nghệ thông tin phục vụ giao dịch: giao dịch trực tuyến, giao
dịch qua tin nhắn điện thoại, giao dịch qua điện thoại bàn.
- Chất lượng đội ngũ cán bộ môi giới của doanh nghiệp.
1.2.3.2. Tự doanh chứng khoán
Năng lực cạnh tranh trong nghiệp vụ Tự doanh của CTCK thể hiện qua:
- Tiềm lực tài chính: vốn điều lệ, tổng tài sản.
- Quy mô đầu tư (vốn cho đầu tư), đối tượng đầu tư (cổ phiếu – trái phiếu) và
loại hình đầu tư (ngắn hạn – dài hạn).
- Chất lượng đội ngũ cán bộ tự doanh của doanh nghiệp.
1.2.3.3. Bảo lãnh phát hành
Sức cạnh tranh trong nghiệp vụ Bảo lãnh phát hành của CTCK được thể hiện
qua các chỉ tiêu như:
- Tiềm lực tài chính: vốn điều lệ, vốn khả dụng.
- Quan hệ khách hàng: khách hàng lớn, khách hàng tổ chức, đối tác chiến lược.
- Đối tượng bảo lãnh phát hành (Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp…).
1.2.3.4. Tư vấn đầu tư chứng khoán
Tư vấn đầu tư chứng khoán là một nghiệp vụ đòi hỏi nhiều chất xám, do vậy
năng lực cạnh tranh của CTCK trong nghiệp vụ này thể hiện ở các chỉ tiêu sau:
20
- Chất lượng cán bộ tư vấn.
- Mức độ đa dạng các loại hình tư vấn (tư vấn cổ phần hóa, tư vấn định giá
doanh nghiệp, tư vấn niêm yết…).
- Mức độ thu phí các dịch vụ tư vấn.
1.2.4. Điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCK
1.2.4.1. Điều kiện mang tính nhân tố: nguồn nhân lực, nguồn lực tri thức,
nguồn lực công nghệ, vốn
a, Nguồn nhân lực
Lợi thế cạnh tranh về yếu tố nguồn nhân lực trong lĩnh vực chứng khoán thể
hiện qua các chỉ tiêu như: quy mô đào tạo hàng năm, trình độ, kỹ năng của đội ngũ
sinh viên được đào tạo trong lĩnh vực chứng khoán khi ra trường và khả năng đáp

tiêu như số lượng và trình độ nhân lực trong lĩnh vực công nghệ thông tin; dung
lượng đường truyền quốc gia; tính ổn định của đường truyền; các quy định pháp lý
liên quan đến bảo mật, đến các giao dịch điện tử; mức độ tin học hóa trong các
doanh nghiệp cũng như các cơ quan quản lý; mức độ tin học hóa trong cộng đồng
dân cư (thể hiện qua trình độ sử dụng công nghệ thông tin của người dân, số lượng
máy tính trên đầu người…). Đây là những điều kiện mang tính cơ sở cho việc triển
khai các dịch vụ hiện đại.
d, Điều kiện về vốn
Điều kiện này thể hiện rõ nhất ở sự phát triển của hệ thống tài chính quốc
gia. Điều kiện về vốn còn được thể hiện qua mức tiết kiệm trong dân cư phản ánh
tổng quan về lượng cung vốn của nền kinh tế, khả năng huy động các nguồn vốn hỗ
trợ từ bên ngoài.
1.2.4.2. Điều kiện về cầu
Ngành chứng khoán là một ngành dịch vụ cung cấp một số lượng lớn, đa
22
dạng các loại hình dịch vụ khác nhau. Cầu đối với dịch vụ chứng khoán vì thế cũng
rất đa dạng và phong phú. Khách hàng của CTCK là các tổ chức lớn trong nước và
nước ngoài và một bộ phận lớn cư dân. Đánh giá về cầu đối với dịch vụ chứng
khoán vì thế là một việc làm rất phức tạp. Cầu trong nước trên phương diện là một
yếu tố trong môi trường quốc gia tác động đến năng lực cạnh tranh của hệ thống các
CTCK ở những khía cạnh sau:
- Cấu trúc cầu trong nước đối với các dịch vụ chính của CTCK là: cầu về
dịch vụ môi giới, dịch vụ lưu ký, dịch vụ tư vấn, dịch vụ bảo lãnh phát hành…
- Quy mô của tổng cầu và tốc độ tăng trưởng cũng như mức độ bão hòa của
cầu: là yếu tố kích thích đầu tư và thu hút những thành viên mới tham gia thị trường.
- Cơ chế chuyển đổi cầu trong nước thành cầu quốc tế và ngược lại là một
khía cạnh mới khi nghiên cứu về cầu. Nhu cầu đối với các sản phẩm, dịch vụ, đặc
biệt là các sản phẩm, dịch vụ tài chính, chứng khoán có khả năng di chuyển rất cao
cùng với sự di chuyển của các luồng vốn quốc tế, các hoạt động thanh toán quốc tế
làm cho cầu trong nước và cầu quốc tế có mối liên hệ rất mật thiết.

Nghiên cứu các chỉ tiêu của môi trường kinh tế vĩ mô cũng như chiều hướng
phát triển của toàn bộ nền kinh tế còn là cơ sở quan trọng để các nhà chiến lược
hoạch định chiến lược đầu tư, đổi mới của mình.
1.2.4.5. Yếu tố văn hóa, xã hội
Năng lực cạnh tranh, đặc biệt là năng lực cạnh tranh quốc tế của một ngành có
thể bị tác động rất nhiều bởi một số yếu tố về văn hóa, xã hội. Những đặc điểm đó tác
động đến nhiều mặt của một ngành và trong lĩnh vực chứng khoán, tác động đến nhiều
nhất đến yếu tố con người thông qua việc tác động đến nhu cầu và nguồn nhân lực.
Những đặc điểm xã hội ảnh hưởng đến cầu đối với dịch vụ chứng khoán có
thể kể đến như lòng tin của dân chúng, thói quen tiêu dùng và tiết kiệm, trình độ
24

Trích đoạn Định hướng phỏt triển Agriseco Cải tiến cụng nghệ Đào tạo nguồn nhõn lực Cụng tỏc marketing và dịch vụ khỏch hàng GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỪNG NGHIỆP VỤ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status