khảo sát thành phần thiên địch của rầy nây hại lúa tại châu thành, An Giang - Pdf 28



Chủ nhiệm đề tài: Ths. NGUYỄN THỊ THÁI SƠN Long Xuyên, tháng 06 năm 2010

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Long Xuyên, tháng 06 năm 2010


i
TÓM LƯỢC

Trong hệ sinh thái nông nghiệp bền vững, côn trùng có ích đã được quan tâm
ứng dụng trong quản lý dịch hại cây trồng. Đề tài được tiến hành tại năm địa bàn (Cần
Đăng, Vĩnh Hanh, Vĩnh Bình, Vĩnh An và Vĩnh Nhuận) thuộc huyện Châu Thành tỉnh
An Giang từ tháng 03 năm 2009 đến tháng 02 năm 2010, điều tra 50 hộ trồng lúa bằng
phương pháp điều tra nông dân, sau đó chọn lại trên mỗi địa bàn 3 ruộng tiêu biểu (ít
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật như không sử dụng thuốc 40 NSS, phun thuốc theo
phương pháp bốn đúng) để khảo sát về thành phần và sự đa dạng của các loại côn
trùng thiên địch. Kết quả điều tra nông dân trên 50 hộ trồng lúa, ghi nhận nông dân ở
ii
MỤC LỤC

Nội dung Trang
Cảm tạ ...........................................................................................................................................i
Tóm lược .......................................................................................................................................ii
Mục lục .........................................................................................................................................iii
Danh sách bảng ..........................................................................................................................vii
Danh sách hình ..........................................................................................................................viii
Ký hiệu và viết tắt .......................................................................................................................ix
CHƯƠNG I. MỞ ĐẦU…………………………………………………………………….........1
A. MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU……………………………………………....2
I. MỤC TIÊU………………………………………………………………………………….....2
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU………………………………………………………………....2
B. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU……………………………………………....2
I. ĐỐI TƯỢNG…………………………………………………………………………………..2
II. PHẠM VI NGHIÊN CỨU…………………………………………………………………...2
C. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………………………………....3
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN……………………………………………………………………………..3
1. Khái quát về điều kiện tự nhiên và hiện trạng sản xuất nông nghiệp của huyện
Châu Thành……………………………………………………………………………….3
1.1. Điều kiện tự nhiên………………………………………………………………........3
1.1.1. Vị trí – giới hạn…………………………………………………………………….3
1.1.2. Thổ nhưỡng………………………………………………………………………...3
1.1.3. Khí tượng ……………………………………………………………………….....4
1.2. Hiện trạng sản xuất nông nghiệp…………………………………………………….5
1.2.1. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp………………………………………………5
1.2.2. Hiện trạng sản xuất nông nghiệp…………………………………………………..5

2.3.1.2. Đặc điểm sinh học của một số loài côn trùng thiên địch trong điều kiện
phòng thí nghiệm………………………………………………………………………………..22
2.2.3.3. Khảo sát khả năng ăn mồi của một số loài thiên địch phổ biến………………..24
2.4. Định danh……………………………………………………………………….. 25

iv
2.5. Xử lý số liệu…………………………………………………………………….....25

CHƯƠNG II. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ……………………………………………….26
1. Điều tra nông dân……………………………………………………………………26
1.1. Diện tích canh tác……………………………………………………………….....26
1.2. Đặc điểm canh tác các hộ điều tra……………………………………………........26
1.3. Hiện trạng canh tác các hộ điều tra……………………………………………......28
1.4. Côn trùng gây hại theo cách đánh giá của nông dân…………………………........30
1.5. Hóa chất bảo vệ thực vật được nông dân phòng trừ sâu hại……………………....30
1.6. Khả năng hiểu biết về thiên địch của nông dân…………………………………....31
1.7. Biện pháp phòng trừ rầy nâu và bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá gây hại trên lúa….....32
2. Kết quả điều tra trực tiếp ngoài đồng………………………………………………..34
2.1. Tình hình chung trên các ruộng khảo sát………………………………………….34
2.2. Tình hình côn trùng thiên địch hiện diện trên các ruộng lúa………………….......36
2.3. Thành phần côn trùng gây hại trên ruộng lúa năm 2009 tại Châu Thành
–An Giang…………………………………………………………………………42
3. Kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm…………………………………..........43
3.1. Đặc điểm hình thái, sinh học của Bọ Rùa Menochilus sexmaculatus,
Micraspis discolor trong điều kiện phòng thí nghiệm…………………………….43
3.1.1. Bọ rùa Menochilus sexmaculatus……………………………………………….43
3.1.2. Bọ rùa Micraspis discolor...................................................................................45
3.2. Khảo sát khả năng ăn mồi của hai loài BR Micraspis discolor,
Menochilus sexmaculatus phổ biến trên ruộng lúa trong điều kiện
phòng thí nghiệm…………………………………………………………………..46

Giang.

27
4
Tỷ lệ % nông dân tham gia lớp IPM, chương trình KN và tập huấn
28
5
Hiện trạng canh tác của các hộ điều tra

29
6
Thành phần côn trùng và nhện gây hại theo cách ghi nhận và đánh
giá của nông dân tại 5 xã thuộc huyện Châu Thành – An Giang,
năm 2009

30
7
Loại thuốc hóa học nông dân thường sử dụng để phòng trừ sâu hại

31
8
Đánh giá khả năng hiểu biết về thiên địch của nông dân

32
9
Cách phòng trị rầy nâu và bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá gây hại trên
lúa

33
10

C, H%: 75 – 85%), ĐHAG -
2009

44
16
Chu kỳ sinh trưởng của bọ rùa loài M. discolor trong điều kiện
phòng thí nghiệm (T
0
: 28 – 30
0
C, H%:75 - 85%), ĐHAG - 2009

46
17
Khả năng ăn mồi của bọ rùa loài Micraspis discolor trên rầy nâu
trong điều kiện phòng thí nghiệm: T
0
C: 28-30; H%: 75-85%,
ĐHAG - 2009

47
18
Khả năng ăn mồi của bọ rùa loài Menochilus sexmaculatus trên
rầy nâu trong điều kiện phòng thí nghiệm (T
0
C: 28 - 30
0
C; H%: 75
- 85%), ĐHAG - 2009
47

39
8
Các loài bọ xít thuộc bộ Hemiptera
40
9
Các loài thiên địch thuộc bộ cánh cứng Coleoptera
41
10
Muồm muỗm Conocephalus sp. (Tettigoniidae)
41
11
Bọ đuôi kìm Euborellia sp. (Carcinopheridae), (a): trứng; (b):
thành trùng
42
12
Trứng
Menochilus sexmaculatus
44
13
Ấu trùng T2 của Menochilus sexmaculatus

45
14
Trứng Micraspis discolor
45
Năng suất tấn trên hecta tấn.ha
-1

Thành trùng TT
Ấu trùng AT
Tuổi 1 T1
Tuổi 2 T2
Tuổi 3 T3
Tuổi 4 T4
Rầy nâu RN
Bọ rùa BR
Trung bình TB

CHƯƠNG I
MỞ ĐẦU
Trong vài năm gần đây, nhất là vụ Đông Xuân năm 1999 - 2000 rầy nâu
(Nilaparvata lugens) luôn là một trong những loài côn trùng gây hại quan trọng
trên lúa. Rầy nâu không chỉ gây nên hiện tượng cháy rầy, mà nguy hiểm hơn là
làm lây truyền virus gây bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá cho cây lúa. Những thiệt hại
do rầy nâu gây ra bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá thường rất lớn. Năm 2005, đồng bằng
sông Cửu Long thất thu khoảng 700.000 tấn lúa do rầy nâu gây ra (Kinh tế Việt
Nam và Thế giới, 2008). Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2007) vụ
lúa đông xuân 2006 - 2007 tại các tỉnh phía Nam đã xuống giống gần 1.600.000
ha, diện tích nhiễm rầy nâu là 282.713 ha, nhiễm nặng 37.810 ha, nhiễm vàng lùn
và lùn xoắn lá 61.692 ha, nhiễm nặng 18.076 ha.

Riêng ở An Giang, trong vụ
Đông Xuân 2007-2008 thì tổng diện tích nhiễm bệnh vàng lùn là 3.262 ha với
nhiễm trung bình là 58 ha và nhiễm nặng là 147 ha (Chi Cục Bảo Vệ Thực Vật An
Giang, 2008). Mặc dù đã áp dụng nhiều biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp,

- Mức độ phong phú thiên địch của rầy nâu trên ruộng lúa.
2. Khảo sát một số đặc điểm sinh học của một số loài thiên địch phổ biến.
- Các giai đoạn phát triển.
- Khả năng đẻ trứng và tuổi thọ của thành trùng.
- Tỷ lệ trứng nở.
- Thử khả năng ăn mồi (rầy nâu) của một số loài thiên địch trong điều kiện
phòng thí nghiệm.
B. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
I. ĐỐI TƯỢNG
Phân loại, định danh và khảo sát khả năng ăn mồi của một số loài thiên địch
phổ biến đối với rầy nâu gây hại trên lúa tại Châu Thành - An Giang trong điều
kiện phòng thí nghiệm.
II. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu mức độ phong phú thiên địch của rầy nâu trên lúa thu thập từ 5
xã thuộc huyện Châu Thành - An Giang.
Bố trí thí nghiệm về khả năng ăn mồi và khảo sát một số đặc điểm sinh học
của một số loài thiên địch phổ biến của rầy nâu gây hại trên lúa tại Châu Thành -
An Giang.
2
C. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Khái quát về điều kiện tự nhiên và hiện trạng sản xuất nông nghiệp của
huyện Châu Thành
1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1. Vị trí – giới hạn
Huyện Châu Thành nằm tiếp giáp Thành phố Long Xuyên, với tổng diện
tích tự nhiên 34.682 ha, diện tích đất sản xuất nông nghiệp 29.252 ha, dân số

0
C). Nhiệt độ trung bình năm
26
0
C - 30
0
C.
Độ ẩm trung bình hàng năm khá cao khoảng 82% rất thích hợp cho sự phát
triển của cây lúa và hoa màu.
- Độ ẩm trung bình mùa khô khoảng 79 %.
- Độ ẩm trung bình mùa mưa khoảng 83 %.
Gió huyện Châu Thành mang tính chất chung của đồng bằng sông Cửu
Long, hằng năm có hai hướng gió chính:
- Từ tháng 05 dl đến tháng 10 dl chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam.
- Từ tháng 11 dl đến tháng 04 dl chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc.
- Mưa: Chế độ mưa phân bố theo hai mùa rõ rệt.
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 dl đến tháng 11 dl. Lượng mưa chiếm 90 % -
93 % tổng lượng mưa hàng năm.
- Mùa khô từ tháng 12 dl đến tháng 04 dl năm sau. Lượng mưa chiếm từ 7
% - 10 % tổng lượng mưa toàn năm. Chế độ mưa ít biến động qua các năm.
1.1.4. Thủy văn
Huyện Châu Thành sử dụng nguồn nước ngọt từ sông Hậu. Nguồn nước dồi
dào, chất lượng nước khá tốt, ít bị nhiễm bẩn do chất thải công nghiệp và sinh
hoạt, ít nhiễm phèn, không nhiễm mặn và hàm lượng phù sa khá cao vào mùa lũ.
- Mùa kiệt: chế độ bán nhật triều của Biển Đông ảnh hưởng mạnh trên sông
và truyền vào mạng lưới hệ thống kênh rạch nội đồng.
- Biên độ triều trên sông đạt từ 1 - 1,2 m.
- Mùa mưa, ảnh hưởng của triều Biển Đông yếu dần, đến tháng 9 dl, tháng
10 dl thì phụ thuộc hoàn toàn vào chế độ thủy văn sông Mê Kông.


- Cây hằng năm khác: tổng diện tích gieo trồng là 57,3 ha, năng suất đạt 45
tấn.ha
-1
, sản lượng 257 tấn. 5
Bảng 1: Tình hình sản xuất nông nghiệp năm 2006
STT Loại cây trồng Diện tích (ha) Năng suất (tấn.ha
-1
) Sản lượng (tấn)
1
2
3


27.681
126,5
415,3
395,8
1,5
18
1.076,6
45
1,9
89,6
940,1
254,5
34,2
211,2
0,1
1
8,3
57,3
62,9
71,5
54,5
47
349,3
34,6
165
149,7
288,6
14,3
-
144,4

2.1. Vị trí phân loại, phân bố và ký chủ
Rầy nâu hay còn gọi là “muội nâu” có tên khoa học là Nilaparvata lugens
Stal, họ rầy Delphacidae, bộ cánh đều Homoptera. Nilaparvata lugens được Stal
đặt tên lần đầu tiên vào năm 1854, từ đó còn có những tên khác nhau: Delphax
lugens Stal (1854), Delphax parisatis Kirkaldy (1907), Nilaparvata oryzae Esaki
và Mashimoti (1932),… (Nguyễn Xuân Hiền và ctv., 1979).

6
Rầy nâu xuất hiện ở tất cả các nước trồng lúa, nhất là các nước ở vùng nhiệt
đới Á Châu như Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, Nhật Bản, Philippins, Indonesia,
Malaysia, Việt Nam,… (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004).
Ở Việt Nam, rầy nâu có mặt ở khắp các vùng trồng lúa nhất là các vùng lúa
thâm canh. Chúng có mặt ở các vùng đồng bằng, ven biển, trung du cho đến các
vùng núi cao như Điện Biên (Nguyễn Công Thuật, 1996).
Kết quả điều tra tương đối toàn diện trong hai năm 1967 - 1968 ở miền Bắc
khẳng định loài Nilaparvata có hai loài là Nilaparvata baberi không hại lúa và loài
Nilaparvata lugens hại lúa, ngô và cỏ dại tại các tỉnh Hà Giang, Hà Tây, Thái
Bình,... Kết quả bước đầu của đợt điều tra sâu hại ở miền Nam bắt đầu từ tháng 3
năm 1977 cho thấy đã gặp rầy nâu ở các tỉnh Đồng Nai, Tiền Giang, Hậu Giang
trên các cây lúa và ngô (Nguyễn Xuân Hiền và ctv., 1979).
Ngoài ký chủ chính là cây lúa, rầy nâu còn có các loại ký chủ tạm thời như
lúa mì và nhiều loại cỏ dại như cỏ gấu, cỏ lồng vực (Hà Huy Niên và Nguyễn Thị
Cát, 2004).
2.2. Đặc điểm hình thái và sinh học
Trứng rầy nâu được đẻ thành từng hàng vào bên trong bẹ cây lúa, mỗi hàng
có từ tám đến 30 cái. Trứng rầy giống hình hạt gạo, dài từ 0,3 - 0,4 mm, mới đẻ
màu trắng trong, sắp nở màu vàng, thời gian ủ trứng từ 5 - 14 ngày. Ấu trùng rầy
nâu hay còn gọi là rầy cám, khi mới nở rất nhỏ, màu trắng sữa, càng lớn rầy càng
chuyển thành màu nâu nhạt. Ấu trùng rầy nâu có năm tuổi, phát triển trong thời
gian từ 14 - 20 ngày. Rầy trưởng thành có cơ thể dài từ 3,6 - 4 mm, màu nâu vàng,

Hiền và ctv., 1979).
2.3. Tập quán sinh sống và cách gây hại
Rầy trưởng thành tập trung thành từng đám ở trên thân lúa phía khóm lúa để
hút nhựa, khi bị khua động thì lẫn trốn bằng cách bò hoặc nhảy sang cây khác,
nhảy xuống nước, hoặc bay xa đến chỗ khác. Ban ngày rầy nâu ít hoạt động trên lá
lúa. Chiều tối bò lên phía trên thân lúa hoặc lá lúa (Nguyễn Đức Khiêm, 2005).
Sau khi vũ hóa từ 3 - 5 ngày thành trùng cái bắt đầu đẻ trứng bằng cách
rạch bẹ lá hoặc gân chính của phiến lá, gần cổ lá. Rầy cái tập trung đẻ trứng ở gốc
cây lúa, cách mặt nước 10 - 15 cm. Cả thành trùng và ấu trùng rầy nâu đều thích
sống dưới gốc cây lúa, chúng chích hút cây lúa bằng cách cho vòi chích hút vào
mạch libe của mô hút nhựa. Trong khi chích hút rầy tiết nước bọt phá hủy mô cây,
cản trở sự di chuyển nhựa nguyên và nước lên phần trên của cây lúa làm cây lúa bị
héo khô, gây ra hiện tượng cháy rầy (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004).
Rầy nâu thích tấn công cây lúa còn nhỏ, nhưng nếu mật số cao có thể gây
hại mọi giai đoạn tăng trưởng của cây lúa:
- Lúa đẻ nhánh: rầy chích hút nơi bẹ tạo thành những sọc màu nâu đậm dọc
theo thân do nấm và vi khuẩn tấn công tiếp theo.

8
- Lúa từ làm đòng đến trổ: rầy thường tập trung chích hút ở cuống đòng
non. Ngoài ảnh hưởng gây hại trực tiếp như trên, rầy nâu còn gây hại gián tiếp cho
cây lúa như:
- Mô cây tại các vết chích hút và đẻ trứng của rầy trên thân cây lúa bị hư do
sự xâm nhập của một số loài nấm, vi khuẩn.
- Phân rầy tiết ra có chất đường thu hút nấm đen tới đóng quanh gốc lúa,
cản trở quang hợp, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa.
- Rầy nâu thường truyền các bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá cho cây lúa, làm
lúa bị thất thu hoặc giảm năng suất.
2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến mật số rầy
Theo W.H. Reissig và ctv. (1985), thì những trận dịch rầy nâu thường kết

loài thiên địch ghi nhận được ở các nước trồng lúa thuộc Châu Á (Phạm Văn Lầm,
2003). K. L. Heong và ctv. (1991) ghi nhận có 46 loài ăn mồi thuộc nhóm bọ xít và
nhện, 14 loài ong ký sinh các loài rầy gây hại trên ruộng lúa tại Philippines. Theo
A. T. Barion và J. A. Litsinger (1995), có trên 342 loài nhện đã được phát hiện trên
các ruộng lúa tại Philippines và các nước khác ở vùng Đông Nam Châu Á. Phạm
Văn Lầm (2000) phát hiện 415 loài thiên địch trên lúa ở Việt Nam thuộc 14 bộ, 58
họ, 241 giống của các lớp côn trùng, nhện, nấm và tuyến trùng. Có khoảng 85 loài
hiện diện thường xuyên trong ruộng lúa, chiếm 20,4 % trong tổng số loài đã phát
hiện được. Trong đó đã phát hiện được 84 loài thiên địch của rầy nâu và rầy lưng
trắng, 71 loài thiên địch trên sâu cuốn lá nhỏ và 51 loài thiên địch trên sâu cuốn lá
lớn. Về diễn biến hệ sinh thái trong ruộng lúa, Lã Phạm Lân và ctv. (1995) ghi
nhận: nhóm ăn mồi phát triển quần thể khá ổn định, nhóm ký sinh hiện diện tương
đối thấp, có chiều biến thiên cùng chiều với sự xâm nhập của sâu hại.
Bambaradeniya & Amerasinghe (2003) ghi nhận có khoảng 280 loài côn
trùng hiện diện trên các ruộng lúa tại Sri Lanka. Theo Lã Phạm Lân và ctv. (1995)
thì nhóm sâu hại chiếm 20 %, nhóm ăn mồi chiếm khoảng 20 - 30 %, và nhóm
khác chiếm 2 - 50 % có vai trò chủ yếu là cầu dinh dưỡng.
3.1. Sự đa dạng và phong phú về côn trùng gây hại trên ruộng lúa
Theo M. D. Pathak & Z. R. Khan (1994), có trên 800 loài côn trùng gây hại
trên cây lúa, mặc dù phần lớn các loài này gây hại không đáng kể trên cây lúa. Số
lượng loài côn trùng gây hại trên cây lúa biến động từ 20 đến 30 loài (W. H.
Riessig và ctv., 1986). Tại Việt Nam, theo Nguyễn Văn Huỳnh (2004), trên cây lúa
có rất nhiều loài côn trùng và nhện gây hại như: ruồi đục lá, sâu phao, sâu phao
mới đục bẹ, bù lạch, muỗi hành, sâu keo, cào cào xanh, sâu cuốn lá nhỏ, các loài
sâu đục thân: sâu màu vàng, sâu sọc nâu đầu đen, sâu sọc nâu đầu nâu, sâu màu
hồng, bọ xít đen, bọ gai, sâu sừng, sâu cuốn lá lớn, rầy nâu, rầy lưng trắng, các loại
rầy xanh, rầy zigzag, bọ xít hôi, nhện gié.

đông trong bờ cỏ hơn là trong ruộng lúa. Các loài Collembolans cư trú đều cả trên
ruộng lúa và bờ cỏ dại; nhện họ Lycosidae, Therididae và Theridiosomatidae đều
cư trú cả trong ruộng và bờ cỏ dại (Lã Phạm Lân và ctv., 1996). Vai trò của các
nơi cư trú quanh ruộng lúa (các loài ăn mồi) liên hệ mật thiết với qui luật phòng

11
trừ sinh học tự nhiên ở mức độ cộng đồng các nhóm sinh vật trong hệ sinh thái
ruộng lúa (K. L. Heong và ctv.,1994).
4. Các nhóm thiên địch trong ruộng lúa
4.1. Nhóm côn trùng ăn mồi
Trong nhóm ăn mồi, côn trùng thiên địch giữ một vai trò rất quan trọng.
Côn trùng thiên địch gần như hiện diện trong rất nhiều bộ khác nhau. Tuy nhiên,
hầu hết các loài quan trọng được tập trung vào các bộ Coleoptera (Cánh cứng) với
ba họ chủ yếu Cocinellidae, Carabidae và Cicindellidae; bộ Diptera (Hai cánh) với
hai họ Syrphidae và Asilidae, bộ Hemiptera (Cánh nửa cứng) có họ Reduviidae và
bộ Orthoptera có họ Mantidae.
Khác với nhóm ký sinh, sinh vật ăn mồi thường có khả năng tấn công trên
nhiều con mồi khác nhau. Nhóm ăn mồi thường rất năng động trong việc tìm kiếm
mồi, chúng có thể sử dụng miệng nhai gậm để cắn và nhai con mồi (như bọ rùa, bọ
ngựa, chuồn chuồn, bọ chân chạy) hoặc sử dụng miệng chích hút dịch cơ thể của
con mồi (bọ xít bắt mồi, ruồi ăn mồi) (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2002).
- Bọ rùa (Coccinellidae)
Bọ rùa thuộc họ Coccinellidae, bộ cánh cứng Coleoptera. Gồm những loài
có kích thước nhỏ, bầu dục hoặc tròn, tùy loài mặt lưng của cơ thể thường vồng
lên hình bán cầu, mặt bụng thì bằng, đa số có màu sắc tươi sáng và có nhiều đốm,
hoa văn (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004). Hầu hết các loài bọ rùa thuộc
nhóm có lợi, tấn công chủ yếu các loại rầy mềm, nhện gây hại, rầy phấn trắng, rệp
sáp và các loại côn trùng có kích thước nhỏ và trứng của một số loại côn trùng
khác. Cả thành trùng và ấu trùng đều ăn mồi. Thành trùng ăn cùng một loại thức
ăn như ấu trùng, chỉ một thời gian ngắn sau khi vũ hóa, thành trùng đã có khả năng

- Bọ chân chạy (Carabidae)
Cả thành trùng và ấu trùng đều ăn mồi, tấn công trên ấu trùng, nhộng, trứng
và thành trùng của các loại côn trùng có thân mềm khác hiện diện trong đất. Có rất
nhiều loại có kích thước khác nhau, từ rất nhỏ (khoảng 3 mm) đến rất lớn. Phần
lớn có màu đen, bóng, mắt to, râu dài. Thành trùng sinh sống chủ yếu trên mặt đất,
ban ngày thường ẩn nấp dưới lá, các chất dư thừa thực vật, hoạt động chủ yếu vào
ban đêm. Thành trùng rất hoạt động, chạy rất nhanh khi bị khuấy động hoặc săn
mồi (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000).
- Bọ xít bắt mồi (Reduviidae)
Nhóm này gồm nhiều loại bọ xít có hình dạng rất dễ phân biệt với những
loại bọ xít gây hại trên cây trồng do bọ xít bắt mồi có đầu hẹp dài, phần sau mắt
kéo dài như một cái cổ, vòi chích hút có ba đốt, thường cong và mạnh. Bụng
thường rộng ở phần giữa, rìa bụng lồi ra bên ngoài cánh. Thường có màu đỏ đen,
rất dễ nhận diện. Nhóm này có nhiều khă năng tấn công trên nhiều loại côn trùng
khác nhau như sâu ăn lá, rầy mềm, rầy bông, ấu trùng các loại bọ xít khác.

13
Nhóm này cũng hiện diện rất phổ biến trên các vùng đất trồng trọt, nhóm
hoạt động ban ngày thường có màu sắc tươi sáng, và nhóm hoạt động ban đêm
thường có màu sắc tối. Ấu trùng có thể sống rất lâu trong điều kiện thiếu thức ăn,
chu kỳ phát triển thường dài, khả năng sinh sản cao. Tại Mã Lai, trên 500 loài đã
được phát hiện trên bốn quần đảo Sarawak, Sumatra, Kalimamtan và Java (L. G.
E. Kalshoven, 1981).
- Bọ xít râu 5 đốt (Pentatomidae)
Đa số có cơ thể rắn chắc, phiến mai ở đầu ngực phát triển, râu đầu có năm
đốt. Cả thành trùng lẫn ấu trùng đều ăn mồi, ký chủ ưa thích là các loài sâu thuộc
bộ cánh vẩy.
Hầu hết các loại bọ xít râu năm đốt thuộc phân họ Asopinae đều thuộc
nhóm ăn mồi, chuyên tấn công các loại côn trùng khác. Chúng rất thích những côn
trùng có cơ thể mềm như ấu trùng bộ cánh vẩy và ấu trùng bộ cánh cứng. Trứng


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status