THC TRNG XY DNG V HON THIN TH CH
KINH T TH TRNG NH HNG XHCN VIT NAM
TS. Đinh Văn Ân
Viện trởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW
1. Bối cảnh và khái niệm
Đờng lối đổi mới kinh tế theo hớng thị trờng đã đuợc chính thức khẳng định từ
Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), khi thông qua kế hoạch cải cách
kinh tế theo hớng đổi mới. Đờng lối này sau đó đã đợc thể chế hóa trong Hiến
pháp (1992) và đợc tiếp tục phát triển trong các văn kiện của các Đại hội Đảng và
các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ Việt Nam về phát triển nền kinh
tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, theo định hớng XHCN. Để cụ thể hóa đ-
ờng lối chính trị này, Chính phủ và nhân dân Việt nam những năm qua đã có
những nỗ lực không ngừng nhằm hình thành một hệ thống thể chế kinh tế mới:
thể chế kinh tế thị trờng định hớng XHCN.
ở Việt Nam, thể chế kinh tế thị trờng hiện đợc hiểu là một bộ phận cấu thành của
hệ thống thể chế xã hội, tồn tại song trùng với các bộ phận khác nh thể chế chính
trị, thể chế gia đình, thể chế văn hóa; thể chế tôn giáo, v.v Các yếu tố cấu thành
của hệ thống thể chế đó bao gồm: (i) các quy tắc, chuẩn mực (rules and norms) về
hành vi kinh tế diễn ra trên thị trờng; (ii) bản thân các bên tham gia thị trờng với
t cách là các chủ thể thị trờng (market actors); (iii) cách thức tổ chức thực hiện
các quy tắc, chuẩn mực thị trờng, nhằm đạt đợc mục tiêu, hay kết quả mà các bên
tham gia thị trờng mong muốn; và (vi) hệ thống các thực thể thị trờng vật chất, tức
là bản thân các thị trờng- với t cách là các địa điểm, là sân chơi, là các đầu
mối giao dịch, nơi hàng hóa, dịch vụ đợc trao đổi trên cơ sở cung cầu, quy định
của luật chơi (Bảng 1).
Việc Việt nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trờng định hớng XHCN xuất phát từ
thực tế là mô hình kinh tế CNXH cổ điển, đặc trng bởi hệ thống kinh tế kế hoạch
hoá tập trung, sau nhiều thập kỷ tồn tại, đã tỏ ra không còn sức sống và khả năng
tự phát triển nội sinh về mặt kinh tế. Trong khi đó, kinh tế thị trờng với t cách là
một phơng thức sản xuất, đã đợc chứng minh là có thể đợc sử dụng nhằm phục vụ
1
o Cơ chế phân cấp quản lí kinh tế;
o Cơ chế phối hợp;
o Cơ chế tham gia; v.v.
Các sân chơi kinh tế hay
hệ thống các thị trờng
cứng
o Thị trờng hàng hóa;
o thị trờng vốn,
o thị trờng lao động,
o thị trờng bất động sản,
o v.v.
2
Phần dới đây sẽ trình bày ngắn gọn về thực trạng quá trình hình thành và hoàn
thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở Việt Nam trong
những năm gần đây.
2. Thực tiễn quá trình hình thành và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế
2.1 - Những thành tựu
Ngay từ khi công cuộc cải cách kinh tế mới bắt đầu, Việt Nam đã xây dựng và
ban hành nhiều văn bản pháp luật dới dạng Bộ luật, Luật và Pháp lệnh liên quan
trực tiếp đến phát triển kinh tế thị trờng và khuyến khích kinh doanh. Tính từ
1986 đến nay đã có h ng tr ăm luật và Pháp lệnh (kể cả Luật và Pháp lệnh sửa đổi,
bổ sung) đã đợc ban hành và đa vào áp dụng. Số lợng văn bản pháp luật đợc ban
hành trong 3 nhiệm kỳ của Quốc hội (VIII, IX và X) đã gấp nhiều lần so với tất cả
các nhiệm kỳ trớc cộng lại. Đó là cha kể hàng trăm văn bản pháp luật dới các
hình thức nghị quyết, nghị định của Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tớng
Chính phủ; quyết định, chỉ thị, thông t của Bộ trởng
1
. Nội dung pháp luật kinh tế
đã phù hợp hơn với cơ chế thị trờng, đáp ứng đợc hầu hết những đòi hỏi từ công
cuộc cải cách kinh tế. Khuôn khổ luật pháp mới đã cho phép thực hiện những bớc
của nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN và các đòi hỏi của quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế; nhằm mục tiêu trớc hết là khắc phục sự chia cắt, tách biệt áp dụng
theo thành phần kinh tế của hệ thống luật pháp (trớc đó) về doanh nghiệp, khi mà
các doanh nghiệp có cùng loại hình pháp lý, song nếu thuộc các thành phần kinh
tế khác nhau, lại bị điều chỉnh bởi các quy định pháp luật khác nhau về nhiều ph-
ơng diện, bao gồm từ thủ tục, điều kiện gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trờng, đến
cách thức quản lý nội bộ, v.v
2
. Nay, nhờ có Luật Doanh nghiệp mới (2005),
quyền tự do và bình đẳng trong kinh doanh - điều đợc quy định rõ trong Hiến
pháp 1992 - đã thực sự đi vào cuộc sống và đang giúp tạo ra bầu không khí mới
trong môi trờng đầu t ở Việt Nam.
Tơng tự nh vậy, Luật đầu t (chung), thay thế cho Luật đầu t nớc ngoài và Luật
khuyến khích đầu t trong nớc, đợc Quốc hội Việt Nam thông qua năm 2005, có
hiệu lực từ 1/7/2006, đã thực sự là bớc tiến dài theo hớng cải thiện môi trờng đầu
t kinh doanh, tạo một sân chơi bình đẳng cho các nhà đầu t cả trong và ngoài n-
ớc. Luật này còn bao gồm các quy định mới về đơn giản hóa thủ tục đầu t, tạo
nhiều điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn vốn
đầu t, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
- Khung pháp lý về thị trờng hàng hoá, dịch vụ đã và đang tạo điều kiện cho cơ
chế thị trờng vận hành có hiệu quả
2
Ví dụ: Các DNNN hoạt động theo Luật DNNN (2003), Luật Doanh nghiệp (1999) áp dụng cho các
DNTN, còn các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoại là đợc điều chỉnh bằng Luật về đầu t trực tiếp nớc
ngoàI (1996).
4
Những đổi mới thể chế đầu tiên nhằm phát triển nhanh thị trờng hàng hoá, dịch
vụ đặc biệt là hàng tiêu dùng, xuất khẩu, là một trong những chơng trình cải cách
quan trọng góp phần tạo ra các thành tựu trong giai đoạn đầu của Đổi mới. Điều
này đợc thực hiện trớc hết thông qua các chủ trơng về giải quy chế, rỡ bỏ các
5
- Hình thành khung luật pháp cho việc xây dựng và vận hành thị trờng các yếu tố
sản xuất quan trọng nhất
Trong hơn 10 năm qua, Nhà nớc Việt Nam đã cố gắng xây dựng khung pháp lý
cho một số thị trờng yếu tố quan trọng nhất đợc hình thành và bớc đầu đa vào vận
hành. Đối với thị trờng lao động: bộ Luật Lao động đã (năm 1994) đã tạo thành
nền tảng pháp lý đầu tiên cho thị trờng lao động bằng việc công nhận quyền tự do
tìm việc làm và quyền lựa chọn ngời lao động hai yếu tố cơ bản tạo ra quan hệ
cung cầu cho thị trờng lao động. Cùng với nó, nhiều văn bản pháp lý khác
cũng đợc ban hành để điều chỉnh những hành vi trên thị trờng còn tơng đối sơ
khai này
3
. Dựa trên cơ sở đó, giao dịch trên thị trờng lao động đã hình thành và
từng bớc phát triển, không chỉ riêng trong lãnh thổ Việt nam mà còn vơn ra cả
phạm vi ngoài nớc. Đối với thị trờng bất động sản, thời gian vừa qua, bên cạnh
việc ban hành Luật Đất đai (năm 1988, sửa đổi vào năm 1993 và 2003)
4
, Luật
Xây dựng (năm 2004), Nhà nớc còn ban hành và bổ sung hệ thống các văn bản
pháp lý, đề ra các chính sách sách liên quan đến việc điều chỉnh từng vấn đề cụ
thể nh: thị trờng đất đai, thị trờng nhà ở, v.v. Khung pháp lý cho thị trờng vốn
cũng dần đợc hoàn thiện: những năm đầu của cải cách, kinh tế Việt nam đã phải
đơng đầu với nạn lạm phát phi mã, hệ thống NHNN vừa có chức năng phát hành
vừa có chức năng cung ứng nguồn tín dụng cho nền kinh tế. Chính vì vậy, việc
chuyển đổi từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống ngân hàng hai cấp là
một bớc đi cực kỳ quan trọng để kiềm chế lạm phát, đồng thời tạo cơ sở cho việc
thực hiện chính sách tiền tệ tơng ứng với cơ chế thị trờng. Năm 1990, UBTVQH
đã ban hành Pháp lệnh NHNN Việt nam và Pháp lệnh ngân hàng, HTX tín dụng
và các công ty tài chính. Năm 1997, Quốc hội đã ban hành Luật NHNN Việt nam
và Luật về các tổ chức tín dụng thay thế cho 2 Pháp lệnh trên. Với khung khổ
Sau khi Luật Đầu t nớc ngoài đợc ban hành, để thúc đẩy thu hút vốn đầu t nớc
ngoài và tiến tới hài hòa luật pháp của Việt Nam với khung luật pháp quốc tế,
Luật đầu t nớc ngoài đã đợc điều chỉnh, bổ sung và sửa đổi 4 lần (vào các năm
1990, 1992, 1996 và 2000). Ngoài Luật đầu t nớc ngoài, Việt Nam cũng đã tiếp
tục bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện nhiều luật quan trọng khác nh: Luật đất đai,
Luật Lao động, Luật cạnh tranh, theo h ớng hỗ trợ hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong quan hệ quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã tích cực tham gia ký kết nhiều
hiệp định thơng mại song phơng và đa phơng với các nớc và vùng lãnh thổ
5
, gia
nhập các tổ chức thơng mại khu vực và quốc tế. Nhiều cam kết trong các Hiệp
định nh: xoá bỏ phân biệt đối xử giữa ngời tiêu dùng trong nớc với ngời nớc ngoài
về giá, phí một số hàng hoá, dịch vụ
6
; giảm dần những hạn chế về chuyển giao
công nghệ, quản lý ngoại hối, sử dụng đất đai, một mặt đã góp phần giảm bớt
những rào cản về thơng mại, đầu t quốc tế, mặt khác đã tạo nền cho việc tiếp
5
Đến nay, Việt Nam đã ký kết 47 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu t với các nớc và vùng lãnh thổ,
trong đô Hiệp định thơng mại Việt Nam Hoa Kỳ đã mang lại nhiều cơ hội mới cho các doanh nghiệp.
6
Lộ trình xoá bỏ chế độ 2 giá đang đợc đẩy mạnh. Giá vé máy bay nội địa đã đợc thống nhất áp dụng từ
1/1/2004. Trong khuôn khổ đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết xoá bỏ sự phân biệt về giá
điện cho sản xuất vào năm 2005
7
tục hoàn thịên hệ thống pháp luật về đầu t nớc ngoài ở Việt Nam. Hiện nay để
sớm có kết quả tốt trong việc đàm phán gia nhập WTO, Chính phủ Việt Nam
đang tích cực, khẩn trơng xây dựng, sửa đổi hệ thống luật pháp, chính sách hiện
hành theo hớng mở cửa kinh tế thị trờng, đáp ứng đòi hỏi của WTO. Đồng thời,
việc tham gia tích cực hơn vào các thoả thuận, cam kết quốc tế, các nỗ lực làm
quy định pháp lý trong Luật Doanh nghiệp đang đợc sửa đổi nhằm bảo đảm tính
thực tiễn, sát thực và phù hợp.
- Mô hình quản trị DNNN đang đợc đổi mới trên cơ sở bảo đảm quyền của chủ sở
hữu, hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp và cạnh tranh bình đẳng với các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế khác. Chức năng sở hữu nhà nớc và chức
năng quản lý nhà nớc đang ngày càng đợc phân biệt, làm rõ. Nhà nớc đang dần
dần chuyển đổi phơng thức quản lý doanh nghiệp từ phơng thức đầu t, sở hữu toàn
bộ doanh nghiệp sang phơng thức đầu t, góp vốn để nắm giữ tỷ lệ cổ phần hoặc
phần vốn góp chi phối. L
- Quyền lợi hợp pháp của các đồng chủ sở hữu trong DNNN có vốn đầu t của các
thành phần kinh tế khác nhau ngày càng đợc tôn trọng và bảo đảm. Hiện tợng can
thiệp của các cơ quan hành chính nhà nớc đối với các quyết định hợp pháp, đúng
luật, đúng điều lệ của doanh nghiệp ngày càng giảm, đặc biệt là đối với các công
ty cổ phần đợc hình thành từ việc cổ phần hóa DNNN.
- Việc chuyển đổi các tổng công ty sang mô hình công ty mẹ công ty con; hình
thành và phát triển các loại tập đoàn kinh tế, chủ yếu là tập đoàn đa sở hữu trên cơ
sở liên kết và đầu t về vốn lẫn nhau giữa các doanh nghiệp, cổ phần hoá các tổng
công ty; đồng thời khuyến khích tạo điều kiện cho việc phát triển các loại tập
đoàn kinh tế trên cơ sở các công ty cổ phần, Cty TNHH, doanh nghiệp t nhân
đang ngày càng thu hút đợc sự chú ý của nhiều bên có liên quan.
- Các quy phạm pháp luật về vấn đề liên kết kinh tế, hợp đồng liên kết nhằm nâng
cao tính chuyên nghiệp và chuyên môn hóa cao cho các doanh nghiệp; minh bạch
hóa hệ thống thông tin doanh nghiệp nhằm giảm rủi ro và chi phí cơ hội cho
doanh nghiệp trong quá trình hình thành, ký kết và thực hiện liên kết kinh tế
thông qua hợp đồng đang đợc nghiên cứu sửa đổi và bổ sung; tạo điều kiện hình
thành và khuyến khích phát triển các hình thức liên kết kinh tế.
3.2 Các hạn chế và tồn tại
Tuy vậy, quá trình cải cách các DNNN hiện vẫn đang gặp nhiều khó khăn và
hạn chế cần đợc khắc phục, trong đó quan trọng nhất phải kể đến là:
9
có trên 2 triệu lao động làm việc trong khu vực DNNN.
- Năng suất lao động trong công nghiệp cha có tiến bộ đáng kể: Số liệu về năng
suất lao động xã hội của Tổng cục Thống kê 2002 cho thấy năng suất lao động
10
thời kỳ 1996-2001 tăng bình quân mỗi năm 4,8%, chậm hơn tốc độ tăng GDP
(7%) cùng kỳ. Năng suất lao động thấp, năm 2000 mới đạt khoảng 12 triệu đồng,
tơng đơng 832 USD, thấp hơn Indonesia (1705 USD), Trung Quốc (1517 USD),
Thái Lan (3701 USD), Philipine (2690). Trong các thành phần kinh tế, năng suất
lao động của DNNN thấp hơn khu vực có vốn đầu t nớc ngoài đến 2 lần.
7
- Sức cạnh tranh cuả các DNNN còn rất yếu: Báo cáo "năng lực cạnh tranh toàn
cầu" của của Diễn đàn kinh tế Thế giới năm 2004 xếp hạng năng lực cạnh tranh
của 104 nớc trong năm 2003-2004, trong đó năng lực cạnh tranh Việt Nam xếp
thứ 77, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Việt Nam xếp thứ 73. Trong đó, các
DNNN cha chứng minh đợc sự khác biệt về năng lực cạnh tranh so với các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
Rõ ràng là, chất lợng phát triển của DNNN trong thời gian qua còn khoảng cách
khá xa mới đáp ứng đợc yêu cầu vơn lên đi đầu trong ứng dụng tiến bộ khoa học
và công nghệ; năng suất, chất lợng và hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp
luật của DNNN cha thể nói là tấm gơng để các thành phần kinh tế khác noi theo.
Hiệu quả và sức cạnh tranh thấp so với các nớc là thách thức lớn khi ta hội nhập
sâu và rộng vào nền kinh tế quốc tế và khu vực.
4. Đổi mới thể chế nhằm đẩy mạnh phát triển các loại hình doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần
4.1- Các nỗ lực cải cách thể chế nhằm thúc đẩy phát triển khu vực doanh
nghiệp dân doanh trong nớc
- Việc rà soát các giấy phép kinh doanh hiện hành và điều kiện kinh doanh đối
với những ngành có điều kiện đang đợc tiếp tục, nhằm giảm bớt số lợng các
ngành nghề, lĩnh vực thuộc danh mục ngành nghề cấm kinh doanh, hoặc kinh
doanh có điều kiện.
nhân, cá thể đóng góp khoảng 39,9% tổng sản phẩm trong nớc. Quan trọng hơn,
chính khu vực này đã tạo ra phần lớn việc làm cho ngời lao động, góp phần giữ
vững ôn định và trật tự xã hội.
4.2 - Đối với khu vực doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
- Thủ tục cấp phép đầu t cho các doanh nghiệp có vốn ĐTNN đang ngày càng đợc
đơn giản hóa, chế độ đăng ký cấp phép đầu t cho những dự án trong các khu công
nghệ cao, khu công nghiệp, các dự án không thuộc danh mục cấm hoặc hạn chế
đầu t đợc mở rộng.
- Hình thức thu hút vốn ĐTNN đợc đa dạng hóa thông qua đầu t gián tiếp, mua
lại, sát nhập; các hình thức pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài cũng
ngày càng nhiều thêm. Việc thu hút các tập đoàn xuyên quốc gia (TNC) vào hoạt
12
động tại Việt Nam đợc đặt thành mục tiêu quan trọng. Cụ thể hoá và thu hẹp các
lĩnh vực không cấp giấy phép đầu t và điều kiện cấp phép đối với những lĩnh vực
đầu t có điều kiện, mở cửa các lĩnh vực dịch vụ có năng lực cạnh tranh thấp.
- Các quy định đặc thù đối với nhà đầu t và doanh nghiệp có vốn ĐTNN đang đợc
giảm dần và sẽ tiến tới xóa bỏ. Luật Đầu t và Luật Doanh nghiệp (ban hành năm
2005, có hiệu lực từ 1/7/2006) tạo ra cơ sở vững chắc cho việc thực hiện một mặt
bằng pháp lý và điều kiện kinh doanh bình đẳng giữa các nhà đầu t/ các doanh
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài với các nhà đầu t và các doanh nghiệp trong nớc.
Nhờ có những nỗ lực đó mà khu vực kinh tế có vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đã và
sẽ tiếp tục có bớc phát triển, thực sự trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng
của nền kinh tế quốc dân.
4.3 - Đối với các chủ thể kinh tế nông nghiệp
Nhiều biện pháp hoàn thiện thể chế kinh tế cho các chủ thể kinh tế ở nông thôn
đã đợc thực hiện:
- Các cải cách thể chế kinh tế đầu tiên trong lĩnh vực nông nghiệp là cải cách về
quyền sử dụng đất nông nghiệp: hệ thống khoán 100 năm 1981 đã cho phép các
HTX nông nghiệp giao quyền sử dụng đất cho các hộ nông dân, cho họ quyền tự
do định đoạt các sản phẩm do mình làm ra sau khi đã nộp sản. Tuy mới dừng ở
67/QĐ/TTg về một số chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp - nông
thôn, trong đó có những quy định mới về nới lỏng các quy định về đảm bảo tiền
vay ngân hàng, đối tợng cho vay và mục tiêu sử dụng, đã có vai trò rất quan trọng
trong việc tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nông dân trong tiếp cận và sử dụng vốn
tín dụng ngân hàng.
5 . Cải cách hành chính
5.1. Đổi mới trong cơ cấu Chính phủ
Ngay từ khi bắt đầu công cuộc cải cách, ngày16/12/1987 Hội đồng Nhà nớc ban
hành Nghị quyết số 782-NQ/HĐNN7 về kiện toàn một bớc cơ quan thuộc Hội
đồng Bộ trởng. Theo đó, nhiều Bộ chuyên ngành đã đợc sáp nhập vào để có chức
năng tổng hợp hơn
9
. Đặc biệt, theo Nghị quyết này, Uỷ ban Quan hệ kinh tế với
nớc ngoài đã đợc thành lập trên cơ sở Luật đầu t nớc ngoài nhằm thực hiện chức
năng quản lý nhà nớc đối với các hoạt động đầu t nớc ngoài.
Trong những năm tiếp theo, Hội đồng Nhà nớc và Quốc hội đã ban hành thêm
một số quyết định về đổi mới hệ thống tổ chức bộ máy theo hớng gọn nhẹ hơn,
các bộ có chức năng quản lý tổng hợp hơn. Ví dụ: Nghị quyết 66/HĐNN8 ngày
9
Ví dụ: Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm đợc hình thành từ 3 bộ: Bộ Nông nghiệp, Bộ Công
nghiệp thực phẩm và Bộ lơng thực; Bộ Năng lợng từ 2 bộ: Bộ điện lực và Bộ Mỏ và than,
14
24/3/1988
10
; Nghị quyết số 244 NQ/HĐNN8 ngày 31-3-1990 của HĐNN
11
. Nh
vậy, trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi nền kinh tế, bộ máy quản lý
nhà nớc đã có một số thay đổi để từng bớc đáp ứng đợc phơng thức quản lý nhà n-
ớc mới phù hợp với cơ chế thị trờng. Năm 1992, Quốc hội đã ban hành Hiến pháp
và địa chất, Tổng cục hóa chất và Tổng cục dầu khí;
- Đổi tên Bộ giao thông vận tải thành Bộ giao thông vận tải và bu điện đảm nhiệm chức năng quản lý
Nhà nớc đối với ngành bu điện do Tổng cục bu điện phụ trách và ngành hàng không dân dụng. Phê
chuẩn việc giải thể Tổng cục hàng không dân dụng Việt Nam.
- Đổi tên ủy ban khoa học và kỹ thuật Nhà nớc thành ủy ban khoa học Nhà nớc để thống nhất quản lý Nhà nớc về
khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội; Phê chuẩn việc chuyển ủy ban khoa học xã hội Việt Nam
thành Viện khoa học xã hội Việt Nam làm chức năng nghiên cứu khoa học xã hội;
- Giao chức năng quản lý Nhà nớc đối với ngành cao su cho Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm đảm
nhiệm. Phê chuẩn việc giải thể Tổng cục cao su.
15
Tất cả những thay đổi trên đều thực hiện nhằm thiết lập bộ máy hành chính công
có hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sự tham gia của ngời dân và các tác
nhân thị trờng khác vào phát triển kinh tế - xã hội. Bộ máy quản lý kinh tế trong
hệ thống hành pháp đã bớc đầu đợc tổ chức lại theo hớng hình thành các Bộ quản
lý tổng hợp, thu gọn đầu mối các cơ quan trực thuộc Chính phủ; Phân cấp giữa
các cấp chính quyền trong quản lý kinh tế đã đợc đổi mới từng bớc; tạo dựng một
số thể chế và tổ chức mới; thủ tục hành chính bớc đầu đợc đơn giản hoá, tạo thuận
lợi cho các nhà đầu t cả trong nớc và nớc ngoài; thu hẹp các chức năng can thiệp
vào hoạt động kinh doanh, tăng thêm những nhiệm vụ hỗ trợ các doanh nghiệp
phát triển sản xuất.
5.2 - Đổi mới quản lý nhà nớc về kinh tế
Song song với những cải cách cơ cấu tổ chức trong hệ thống bộ máy quản lý Nhà
nớc về kinh tế, Chính phủ Việt Nam cũng đã từng bớc điều chỉnh chức năng quản
lý nền kinh tế theo hớng gần hơn với cơ chế thị trờng. Nhờ đó, chức năng quản lý
nhà nớc về kinh tế đã có sự thay đổi cơ bản, cả về lí luận lẫn trên thực tiễn
- Về mặt lý luận, Đại hội Đảng lần thứ VII đề ra nhiệm vụ bộ máy nhà nớc từng
bớc chuyển sang chức năng quản lý nhà nớc, khắc phục dần sự can thiệp vào điều
hành kinh doanh và đề ra phơng hớng Nhà nớc quản lý kinh tế theo định hớng,
dẫn dắt, tạo môi trờng và điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh
doanh, đảm bảo hài hoà giữa phát triển kinh tế và xã hội . Đại hội Đảng lần
gia xuất nhập khẩu, xúc tiến thơng mại; mở rộng hoạt động kinh tế đối
ngoại; thực hiện hội nhập khu vực và quốc tế v.v
o Từng bớc chuyển kế hoạch hoá từ kế hoạch chi tiết, hiện vật sang kế
hoạch mang tính chất định hớng là chính, với trọng tâm là xây dựng
chiến lợc tổng thể phát triển kinh tế, xã hội 10 năm, kế hoạch 5 năm và
chú trọng hơn tới công tác dự báo, kể cả dự báo hàng tháng, hàng quý.
o Đổi mới chính sách tài chính: Hệ thống thuế đợc đổi mới theo hớng tạo
sự bình đẳng về nghĩa vụ nộp thuế giữa các loại hình doanh nghiệp; thực
hiện cơ cấu lại và đổi mới chính sách chi tiêu của NSNN theo hớng kết
hợp giữa nguồn tài chính nhà nớc với việc phát huy các nguồn lực của
các tầng lớp dân c để phát triển kinh tế, bớc đầu thực hiện chính sách xã
hội hoá các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá v.v song còn thiếu cơ chế
thích hợp;
o Chính sách tiền tệ - tín dụng đã từng bớc đợc đổi mới theo hớng dựa
nhiều hơn vào thị trờng, bớt dần sự can thiệp hành chính trực tiếp của
Nhà nớc. Hệ thống ngân hàng đã đợc đổi mới một bớc, chuyển từ một hệ
thống ngân hàng duy nhất thành hệ thống ngân hàng 2 cấp, tách chức
năng quản lý nhà nớc của Ngân hàng trung ơng với chức năng kinh
doanh của ngân hàng thuơng mại và các tổ chức tài chính phi ngân hàng
khác; hình thành hệ thống các tổ chức tín dụng với sự tham gia của mọi
thành phần kinh tế; từng bớc thực hiện chính sách lãi suất và chính sách
17
tỷ giá linh hoạt hơn theo cung cầu trên thị trờng, kết hợp với áp dụng
chính sách tín dụng u đãi (chủ yếu cho đầu t phát triển) và hỗ trợ lãi suất
cho các mục tiêu cần khuyến khích phát triển.
(2) Đổi mới chức năng nhà kinh doanh, nhà đầu t của Nhà n ớc
o Nhà nớc giảm mạnh tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh
doanh, đồng thời thực hiện can thiệp vào hoạt động này thông qua chính
sách đầu t vào các DNNN công ích và các DNNN kinh doanh thuộc
những lĩnh vực đặc biệt quan trọng;
theo hớng Nhà nớc điều tiết vĩ mô, thị trờng điều tiết doanh nghiệp.
4.3 Đổi mới công tác kế hoạch hóa
Công tác kế hoạch hoá cũng đã có nhiều đổi mới, góp phần cải thiện vai trò của
Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng và thúc đẩy quá trình đổi mới kinh tế nói
chung. Về mặt luật pháp, Chính phủ Việt Nam đang chuẩn bị trình lên Quốc hội
dự thảo Luật về công tác kế hoạch hoá. Nếu đợc phê chuẩn, Luật này sẽ trở thành
khung pháp lý quan trọng cho hoạt động của các cơ quan kế hoạch. Trên thực tế,
mặc dù vẫn còn nhiều vấn đề liên quan đến nội dung và quy trình xây dựng các
chiến lợc, quy hoạch và kế hoạch, cũng nh một số tồn tại, bất cập trong việc điều
hành thực hiện kế hoạch, v.v. những thành tựu cơ bản trong lĩnh vực kế hoạch
đã ngày càng thể hiện rõ nét qua các khía cạnh sau:
Kế hoạch định hớng phát triển 5 năm đang ngày càng trở thành trọng tâm của
công tác kế hoạch, đợc xây dựng trên cơ sở chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội
dài hạn, định rõ cho từng thời kỳ phát triển;
Hệ thống chỉ tiêu kế hoạch đợc thay đổi một cách cơ bản, thu hẹp dần các chỉ
tiêu hiện vật, đồng thời mở rộng thêm các chỉ tiêu giá trị;
Qúa trình lập kế hoạch đã đợc đổi mới từng bớc theo hớng dân chủ và công
khai, thu hút nhiều hơn sự tham gia của ngời dân và các bên có liên quan;
Việc điều hành kế hoạch cũng chuyển dần từ can thiệp vi mô sang duy trì các
cân đối vĩ mô, sử dụng các công cụ gián tiếp; phơng pháp kế hoạch hoá theo
chơng trình mục tiêu nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc nhất về kinh tế -
xã hội đang dần đợc hoàn thiện;
Công tác điều hành kế hoạch đã hớng tới các kết quả thiết thực hơn: đã kịp
thời phát hiện và xử lý tốt hơn những diễn biến bất thờng xuất hiện do tác
động của nền kinh tế thế giới, khu vực và của đời sống kinh tế - xã hội trên các
vùng khác nhau ở Việt Nam;
Công tác quy hoạch phát triển đã đợc tăng cờng, tạo điều kiện thuận lợi để
phát triển một số ngành, lĩnh vực, vùng và các địa phơng.
Vai trò của Nhà nớc và của công tác kế hoạch hoá trong nền kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa từng bớc đợc đổi mới và ngày càng đợc khẳng
Một số biện pháp cụ thể hỗ trợ sự phát triển của thị trờng lao động
Ban hành và thực thi các văn bản pháp lý tạo điều kiện cho việc tự do
trao đổi sức lao động trên thị trờng; bảo vệ quyền lợi của cả ngời lao
20
động và ngời sử dụng lao động, thuộc mọi thành phần kinh tế;
Hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp cho ngời lao động theo hớng Nhà
nớc, doanh nghiệp và ngời lao động cùng đóng góp;
Bớc đầu khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia phát triển hàng
hóa sức lao động (ví dụ: tham gia vào việc đào tạo, xuất khẩu lao
động);
Tăng cờng hoạt động thanh tra, kiểm tra của Nhà nớc và xử lý kịp thời
vi phạm pháp luật lao động;
nâng cao vai trò đại diện của Công đoàn trong việc xây dựng và thực
hiện khung chính sách về lao động;
Tạo dựng và đa dạng hóa các loại hình thể chế thị trờng lao động
cứng nh chợ lao động, triển lãm việc làm, các trung tâm giới thiệu
việc làm; v.v. và các cơ chế thị trờng thuận lợi khác nhằm giúp đỡ
những ngời có khả năng lao động, nhất là những ngời trẻ tuổi, đợc đào
tạo, tìm đợc công ăn việc làm với mức trả công xứng đáng.
5.2 Thị trờng bất động sản
Trong những năm gần đây, đã có nhiều thay đổi đợc thực hiện đối với thị trờng
bất động sản ở Việt Nam. Bên cạnh những đổi mới về khung luật pháp, đã có
nhiều thay đổi tích cực về quản lý nhà nớc đối với loại thị trờng này: năm 2004,
Bộ Tài nguyên và Môi trờng chính thức đợc thành lập, với một trong những chức
năng quan trọng là thực thi việc quản lý nhà nớc đối với thị trờng bất động sản,
trong đó có đất đai, nhà ở và các công trình trên đất khác. Cho đến nay, đã có
nhiều biện pháp và sáng kiến đã đợc thực hiện nhằm làm cho các hoạt động của
thị trờng BĐS đi theo hớng phục vụ cho tăng trởng kinh tế và đảm bảo công bằng
xã hội (xem Hộp 3). Nhờ đó, thị trờng BĐS đang trở thành một trong những thị tr-
ờng có hoạt động sôi động nhất trong những năm gần đây.
với các hình thức kinh doanh hiện đại; (iii) thị trờng tài chính trong nớc đã dần
từng bớc hoà hợp với thị trờng quốc tế. Các nguyên tắc quản lý tài chính tiên tiến,
các chuẩn mực quốc tế về tính minh bạch, kế toán, kiểm toán, đã và đang từng
bớc đợc thể chế hoá và vận dụng trong thực tế và (iv) các cơ quan quản lý Nhà n-
ớc và các định chế tài chính (NHNN, Bộ Tài chính, UBCKNN, ) đã dần đ ợc thể
chế hoá và có sự phối hợp tác nghiệp chặt chẽ hơn.
Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thì thị trờng tài chính Việt Nam vẫn cha theo
kịp và đáp ứng đợc những đòi hỏi của đời sống kinh tế xã hội. Thị trờng tài
chính nói chung, thị trờng tiền tệ và thị trờng vốn nói riêng, còn ở trình độ phát
triển thấp, thị trờng chứng khoán mới ra đời còn nhỏ bé và yếu kém. Hiện nay,
nhiều thị trờng thứ cấp ở Việt Nam vẫn cha phát triển, mối liên kết, tác động qua
lại giữa các thị trờng trong hệ thống còn thiếu chặt chẽ, hệ thống ngân hàng còn
22
tiềm ẩn nhiều rủi ro; tính minh bạch thông tin cha thờng xuyên đợc đảm bảo
Ngoài ra, hệ thống pháp lý hiện hành vẫn cha tạo điều kiện để đảm bảo tính độc
lập cần thiết của NHTW và cũng cha nới lỏng điều kiện gia nhập thị trờng tài của
các nhà đầu t trong lĩnh vực này, đặc biệt là các nhà đầu t nớc ngoài. Hệ thống
pháp lý trong lĩnh vực tín dụng còn thể hiện sự phân biệt đối xử tơng đối rõ nét
giữa các nhà cung ứng tín dụng cũng nh giữa khách hàng của các tổ chức tín
dụng
12
.
5.4. Thị trờng khoa học công nghệ
Trong hơn một thập kỷ qua, với đờng lối coi KHCN là động lực của tăng trởng,
nhiều cơ chế, chính sách cho hoạt động thị trờng KHCN đã đợc thể chế hoá thành
hệ thống các văn bản pháp quy nhằm điều chỉnh hành vi, sự tham gia, mối quan
hệ qua lại giữa các tổ chức tham gia vào thị trờng KHCN. Tuy vậy, trên thực tế,
so với các thị trờng yếu tố sản xuất khác thì thị trờng KHCN còn rất sơ khai. Nếu
quan sát thị trờng KHCN ở Việt Nam trong vài năm qua, rõ ràng có thể thấy:
trình độ công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn rất thấp; các giao
vào đó mà sắp xếp lại cơ cấu, chiến lợc kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh,
bảo đảm hội nhập có hiệu quả hơn;
- Thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng phát huy tối đa lợi thế cạnh
tranh của ngành hoặc của quốc gia, nâng cao chất lợng, hạ giá thành sản phẩm,
tạo ra những sản phẩm mũi nhọn, có khả năng chiếm lĩnh thị trờng quốc tế.
- Tiếp tục sắp xếp lại, đổi mới DNNN theo hớng nâng cao hiệu quả hoạt động của
các doanh nghiệp này;
- Chú trọng việc đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề, tinh thông nghiệp vụ, có tác
phong công nghiệp và kỷ luật lao động cao. Quan tâm nhiều hơn đến việc đào tạo
đội ngũ cán bộ quản lý và kinh doanh; bớc đầu bắt tay xây dựng và đa vào thực
hiện một số chính sách về thu hút và sử dụng nhân tài;
- Tăng cờng hoạt động kinh tế đối ngoại theo hớng đa phơng hóa, đa dạng hóa thị
trờng và các đối tác, tham gia tích cực vào hoạt động của các tổ chức quốc tế,
nhằm nâng cao thế và lực của Việt Nam.
14
- Thực hiện mọi nỗ lực nhằm sớm kết thúc đàm phán để gia nhập WTO theo các
phơng án và lộ trình hợp lý, phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam và các yêu cầu
của các đối tác quốc tế.
- Thành lập và kiện toàn UBQG về hợp tác kinh tế quốc tế, nhằm giúp Thủ tớng
Chính phủ tổ chức, chỉ đạo các hoạt động hội nhập.
Nhờ đó, hội nhập kinh tế quốc tế trong những năm qua có bớc tiến quan trọng.
Quan hệ quốc tế đợc mở rộng, các cam kết quốc tế đợc triển khai thực hiện tốt;
đồng thời đã tiến hành ký kết nhiều hiệp định đa phơng, song phơng, tạo bớc phát
14
Ví dụ: để đạt đợc mục tiêu này, Chính phủ đã đặt ra cho các cơ quan đại diện ngoại giao ở nớc ngoài
nhiệm vụ hàng đầu là phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của đất nớc.
24
triển mới về kinh tế đối ngoại. Theo báo cáo của bộ Kế hoạch và Đầu t (năm
2005), thị trờng xuất khẩu đợc duy trì và mở rộng; tổng kim ngạch xuất khẩu tăng
Nam cần đảm nhiệm vai trò nào trong quá trình vận hành nền kinh tế phụ thuộc
25