Vị trí, vai trò và xu hớng phát triển
của các thành phần kinh tế ở Việt nam
TS. Lê Xuân Bá
Phó Viện trởng
Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW
Tham lun ti Hi tho Phỏt trin kinh t nhiu thnh phn
Vit Nam hin nay: thc trng v gii phỏp - CIEM
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, để có thể cạnh tranh và đứng
vững trên thị trờng, Việt Nam đã và đang phát huy sức mạnh tổng hợp của các
thành phần kinh tế, kết hợp nội lực với ngoại lực để phát triển nhanh hơn. Tuy
nhiên, trong giới nghiên cứu và lý luận hiện vẫn còn nhiều tranh luận xung quanh
vị trí, vai trò của từng thành phần trong nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội
chủ nghĩa.
1
Bài viết này nhằm mục đích góp thêm tiếng nói vào diễn đàn tranh
luận đó. Bài viết đợc trình bày theo 4 phần, trong đó: phần 1 điểm lại những chủ
trơng chính sách về phát triển các thành phần kinh tế của Nhà nớc ta; phần 2
phân tích và đánh giá vị trí vai trò của từng thành phần kinh tế hiện nay; phần 3
dự báo xu hớng phát triển trong thời gian tới và nêu lên một số định hớng chính
sách; và phần cuối là kết luận.
Để đánh giá vai trò của các thành phần kinh tế, bài viết sẽ xem xét từng
thành phần trong việc huy động và sử dụng các nguồn lực sản xuất (vốn, lao
động, đất đai, khoa học công nghệ, v.v.), đóng góp vào tăng trởng kinh tế và thu
ngân sách nhà nớc và vai trò trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo h-
ớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Việc dự báo xu h-
ớng phát triển sẽ căn cứ vào quá trình phát triển của các thành phần kinh tế trong
thời gian qua, bối cảnh và xu hớng phát triển đất nớc trong thời gian tới. Bài viết
sử dụng những số liệu thống kê công bố chính thức và nhiều kết quả nghiên cứu
khác về các lĩnh vực liên quan. Tuy nhiên, hiện nay, những số liệu thống kê theo
cả 6 thành phần kinh rất hạn chế nên việc đánh giá khó có thể đầy đủ và hoàn
toàn chính xác. Trong các chỉ tiêu đánh giá, chỉ có chỉ tiêu tỷ trọng của từng
trò chủ đạo cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của
nền kinh tế quốc dân"
2
.
Bài viết này sử dụng cách phân loại của Đại hội IX. Theo đó, Nhà nớc đã
xác định, kinh tế nhà nớc cùng với kinh tế tập thể phải từng bớc trở thành
nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân, trong đó, kinh tế nhà nớc đóng
vai trò chủ đạo. Thành phần kinh tế nhà nớc bao gồm các tổ chức kinh tế thuộc
các ngành kinh tế quốc dân do Nhà nớc đầu t vốn và quản lý và phần vốn nhà nớc
trong các liên doanh hoặc công ty cổ phần. Cụ thể là doanh nghiệp 100% vốn nhà
nớc, doanh nghiệp nhà nớc đã khoán, cho thuê (sở hữu vẫn thuộc nhà nớc); liên
doanh mà các bên tham gia đều là doanh nghiệp nhà nớc; quỹ dự trữ quốc gia,
quỹ bảo hiểm nhà nớc, tài sản thuộc sở hữu nhà nớc có thể đa vào vòng chu
chuyển kinh tế; ngân hàng nhà nớc; liên doanh mà nhà nớc chiếm cổ phần lớn và
ngời đầu t nớc ngoài chiếm phần rất nhỏ
3
.
Trong quá trình phát triển kinh tế ở nớc ta, kinh tế nhà nớc từ chỗ là khu
vực kinh tế gần nh độc nhất trong nền kinh tế (bên cạnh còn có kinh tế tập thể)
đã dần chuyển sang giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần.
Trong bối cảnh chuyển sang nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa,
Nhà nớc đã tiến hành nhiều biện pháp cải cách khu vực kinh tế nhà nớc để khu
vực kinh tế này có thể bảo đảm đợc vai trò chủ đạo nh: sắp xếp, sát nhập các
công ty, công ty hoá, cổ phần hoá, giao, bán, khoán, cho thuê, phát triển các tập
đoàn kinh tế và giải thể các doanh nghiệp thua lỗ trầm trọng.
Thành phần kinh tế tập thể bao gồm các tổ chức kinh tế đợc thành lập theo
Luật Hợp tác xã (HTX) trên cơ sở tự nguyện góp vốn của những ngời sản xuất
kinh doanh, tiêu dùng, quyền sở hữu vốn thuộc về tập thể các thành viên tham gia
góp vốn. Khác với khu vực kinh tế nhà nớc, kinh tế tập thể có những thay đổi cơ
bản trong thời gian qua. Giai đoạn trớc những năm đổi mới, quan niệm đơn giản
nớc bỏ vốn thành lập, thuê mớn lao động và hởng lợi nhuận. Đó là những doanh
nghiệp đăng ký theo Luật Doanh nghiệp (doanh nghiệp t nhân, công ty TNHH,
công ty cổ phần không có vốn nhà nớc), liên doanh với thành phần kinh tế tập
thể và tiểu chủ trong đó thành phần kinh tế t bản t nhân chiếm nguồn vốn lớn
nhất.
Về chủ trơng chính sách, kinh tế t bản t nhân đợc chính thức công nhận từ
năm 1986. Những năm gần đây, khu vực t bản t nhân đợc huy động phát triển.
Nghị quyết trung ơng 4 khoá VIII nêu lên chủ trơng phát huy tối đa và sử dụng
có hiệu quả nguồn lực trong nớc; tháo gỡ khó khăn tạo thuận lợi cho kinh tế t
nhân phát triển. Năm 2002, Hội nghị Trung ơng 5 đã ban hành Nghị quyết số 14
về phát triển kinh tế t nhân bằng cách tạo điều kiện thuận lợi hơn về khung thể
chế, tiếp cận nguồn vốn và các nhân tố sản xuất khác để khuyến khích phát triển
kinh tế t nhân. Tơng ứng với các chủ trơng đó, hành lang pháp lý cho phát triển
kinh tế t bản t nhân cũng dần đợc mở rộng. Luật Doanh nghiệp t nhân và Luật
Công ty (1990) đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc hình thành và phát triển các
doanh nghiệp t nhân với các loại hình pháp lý bao gồm công ty trách nhiệm hữu
hạn, công ty cổ phần và doanh nghiệp t nhân. Đặc biệt, sự ra đời của Luật Doanh
nghiệp năm 2000 đã thể chế hoá quyền tự do kinh doanh của t nhân, tạo điều
kiện thuận lợi cho kinh tế t bản t nhân phát triển.
Kinh tế t bản nhà nớc là thành phần kinh tế bao gồm các liên doanh giữa
kinh tế nhà nớc và t bản t nhân trong nớc, trong đó t nhân trong nớc chiếm tỷ
trọng vốn lớn nhất và liên doanh với t bản t nhân nớc ngoài trong đó kinh tế nhà
nớc chiếm tỷ trọng lớn nhất. Sự ra đời của thành phần kinh tế này là kết quả của
quá trình cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nớc và mở cửa nền kinh tế Việt
Nam ra thế giới. Chính sách thu hút vốn đầu t nớc ngoài thông qua thành lập các
liên doanh giữa doanh nghiệp nhà nớc với nhà đầu t nớc ngoài, chính sách cổ
phần hoá doanh nghiệp nhà nớc và phát triển các thành phần kinh tế khác đã làm
cho qui mô của kinh tế t bản nhà nớc đợc nâng lên đáng kể.
Khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài bao gồm doanh nghiệp 100% vốn
nớc ngoài và các liên doanh với các doanh nghiệp trong nớc mà nớc ngoài chiếm
Chú thích: (*) Tơng đơng với khái niệm về kinh tế t bản nhà nớc; **: tổng của 3
khu vực kinh tế: t nhân, cá thể, hỗn hợp.
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu t.
Bảng 1 cho thấy kinh tế nhà nớc chiếm vị trí quan trọng và có ảnh hởng
lớn đến sự phát triển của nền kinh tế. Khu vực kinh tế nhà nớc chiếm giữ phần
lớn các nguồn lực từ tài sản, đất đai đến nguồn vốn tài chính, vốn con ngời đồng
thời có những đóng góp nhiều nhất cho tăng trởng kinh tế. Trong năm 2003, khu
vực kinh tế nhà nớc hiện có khoảng 5175 doanh nghiệp chiếm giữ 56,5% tổng
vốn đầu t phát triển và đóng góp hơn 38% GDP (xem bảng 2). Doanh nghiệp nhà
nớc đóng vai trò chủ đạo, thậm chí độc quyền trong nhiều ngành kinh tế, nhất là
những ngành có vị trí then chốt nh bu chính viễn thông, hàng không, v.v. Doanh
nghiệp nhà nớc góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá đất nớc theo hớng
xuất khẩu. Khu vực này đã sản xuất ra 39,5% giá trị sản lợng công nghiệp, trên
50% kim ngạch xuất khẩu và 23,7% tổng thu ngân sách nhà nớc. Hầu hết các
hoạt động sản xuất và dịch vụ công ích đều do doanh nghiệp nhà nớc đảm nhiệm
(Phơng Ngọc Thạch, 2003).
Bảng 2: Vai trò của khu vực kinh tế nhà nớc trong nền kinh tế
Một số tiêu chí 2001 2002 2003
Đóng góp cho GDP (giá thực tế, %) 38,4 38,31 38,22
Đóng góp cho tổng vốn đầu t phát triển (giá
thực tế, %)
58,1 56,2 56,5
Đóng góp cho tổng thu ngân sách (DNNN, %) 22,28 23,37 23,71
Tỷ trọng trong tổng lực lợng lao động (%) - 4,8 -
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2003
Tuy vậy, thực chất, vai trò quan trọng của khu vực kinh tế nhà nớc nói
chung và của doanh nghiệp nhà nớc nói riêng có đợc chủ yếu là do lịch sử để lại
4
và là kết quả của ý muốn chủ quan và sự tác động bằng các cơ chế, chính sách
của Nhà nớc trong việc cố gắng duy trì vai trò của khu vực này nh đã xác định.
giảm đi rất nhiều so với thời kỳ trớc đổi mới. Trong 3 năm gần đây, khu vực kinh
tế này trung bình chỉ tạo ra khoảng 7,8% GDP, đóng góp không đáng kể cho
ngân sách nhà nớc. Hiện nay, cả nớc có khoảng 17.500 HTX, chỉ bằng 20% số
doanh nghiệp thuộc khu vực t bản t nhân, với qui mô nhỏ, lợng vốn ít. Các HTX
thu hút hơn 7 triệu xã viên và tạo việc làm cho khoảng 10 triệu lao động (Trơng
Tấn Sang, 2003). Trong quá trình công nghiệp hoá hiện nay, khu vực kinh tế tập
thể đã có những dấu hiệu chuyển dịch theo hớng gia tăng dần tỉ trọng các HTX
phi nông nghiệp. Hiện nay, HTX nông nghiệp chiếm khoảng 31%, công nghiệp
chiếm 23,6%, thuỷ sản 12,7%, giao thông vận tải 11%, xây dựng 9%, thơng mại
cha đầy 3%.
Về mô hình hoạt động, sau nhiều nỗ lực cải cách của Nhà nớc, so với trớc
đây, khu vực kinh tế tập thể đã xuất hiện nhiều mô hình HTX kiểu mới có cơ chế
hoạt động và quản lý năng động hơn, loại hình đa dạng hơn (kể cả hình thức và
lĩnh vực hoạt động). Các hình thức liên doanh giữa HTX với doanh nghiệp nhà n-
ớc và các thành phần kinh tế khác cũng có xu hớng phát triển.
Ngoài hai khu vực kinh tế nói trên, các khu vực kinh tế khác đều có những
vị trí nhất định trong nền kinh tế. Khu vực kinh tế cá thể có qui mô lớn và đóng
vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế. Hàng năm, khu vực kinh tế này đã tạo
5
ra khoảng 31% GDP, không kém đóng góp của khu vực kinh tế nhà nớc. Thành
phần kinh tế này có mặt ở mọi địa bàn, cả nông thôn và thành thị. ở khu vực nông
thôn, kinh tế hộ phát triển rộng khắp, phát triển mạnh từ chủ trơng xoá bỏ mô
hình HTX gợng ép của cơ chế cũ. Năm 2000, cả nớc có khoảng 10 triệu hộ kinh
doanh cá thể đăng ký theo Nghị định 66. Số lợng các trang trại đang có xu hớng
ngày càng gia tăng. Trong các thành phố lớn, kinh tế cá thể vẫn chiếm vị trí nhất
định, khoảng 23,9% GDP trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (Nguyễn Thanh
Tuyền, 2002, tr.214). Trong những năm gần đây, với chính sách khuyến khích sản
xuất kinh doanh của nhà nớc nhiều cá nhân đã năng động tự đầu t kinh doanh với
qui mô nhỏ, tự tạo việc làm cho mình và tạo thu nhập. Vai trò quan trọng nhất
của khu vực kinh tế cá thể là tự tạo việc làm cho ngời lao động với lợng vốn rất ít.
phải nâng cao hiệu quả để có thể tồn tại và phát triển.
Thành phần kinh tế t bản nhà nớc đóng vai trò nhất định trong nền kinh tế.
Khu vực kinh tế t bản nhà nớc góp khoảng 4% cho GDP hàng năm. Đây cha phải
là con số không lớn so với sự đóng góp của các khu vực kinh tế khác nhng sự ra
đời của khu vực kinh tế này có nhiều ý nghĩa gián tiếp, thúc đẩy quá trình cải
cách kinh tế của Việt nam. Trong thời kỳ đầu thu hút đầu t nớc ngoài, khu vực
này là đờng dẫn cho đầu t nớc ngoài vào Việt Nam và đồng thời là kênh truyền
dẫn những kiến thức quản lý và công nghệ, tạo lên tác động tích cực đối doanh
nghiệp nhà nớc đối tác trong liên doanh.
6
Một trong những thành phần kinh tế không thể thiếu trong quá trình mở
cửa và hội nhập của Việt Nam là khu vực kinh tế có vốn ĐTNN. Từ năm 1987
đến nay, vị trí của khu vực này trong nền kinh tế ngày càng đợc cải thiện và đóng
vai trò ngày càng quan trọng. Đến năm 2003, cả nớc có trên 4.500 dự án đầu t
trực tiếp nớc ngoài đợc cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký là 42 tỉ USD, trong
đó vốn thực hiện 25 tỉ USD, chiếm khoảng 18% trong tổng vốn đầu t phát triển
của nền kinh tế. Khu vực này đã đóng góp khoảng 14% GDP (2002). Khu vực
kinh tế này thờng đầu t vào các ngành kinh tế có công nghệ cao, hiện đại, theo
định hớng xuất khẩu. Năm 2003, nếu tính cả dầu thô, xuất khẩu của khu vực
ĐTNN đạt khoảng 7,5 tỉ USD, chiếm trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
nớc. ĐTNN hiện đang thu hút trên 45 vạn lao động làm việc trực tiếp trong các
doanh nghiệp và hàng chục vạn lao động làm việc trong các khu vực xây dựng,
cung ứng dịch vụ với gần 10.000 cán bộ quản lý và 5 vạn cán bộ kỹ thuật (xem
bảng 3).
Bảng 3 : Vai trò của đầu t trực tiếp nớc ngoài trong phát triển kinh tế Việt
Nam
Một số tiêu chí 1992 1996 2000 2001 2002
Tổng vốn FDI (triệu USD) 492 2518 2043 2300 1333
Tỷ trọng trong tổng đầu t (%) 21,0 28,6 18,6 18,3 18,8
Đóng góp cho GDP (%) 2,0 7,4 13,2 13,7 13,9
tải nội địa, tài chính - ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, quảng cáo.
3- Xu hớng và định hớng phát triển
7
Theo phân tích trên, các thành phần kinh tế vẫn đang trên đà phát triển.
Tiềm năng của mỗi thành phần kinh tế cũng nh định hớng cải cách và chính sách
của Nhà nớc sẽ có ảnh hởng nhất định đến việc định vị các thành phần kinh tế
trong tơng lai.
Trớc hết, đối với kinh tế nhà nớc, Nhà nớc đã có những chủ trơng cải cách
khu vực kinh tế nhà nớc theo hớng nâng cao hiệu quả của khu vực này. Chính phủ
đã có chơng trình cải cách hành chính đối với các cơ quan Chính phủ và cải cách
hệ thống ngân hàng. Theo kế hoạch đặt ra, đến năm 2005, số doanh nghiệp nhà
nớc sẽ giảm xuống còn 2934 doanh nghiệp. Nh vậy, tơng lai của khu vực này sẽ
phụ thuộc vào sự thành công của các biện pháp cải cách đồng thời nó cũng sẽ
quyết định phần lớn tốc độ phát triển của nền kinh tế. Kịch bản sáng sủa nhất là
Chính phủ thành công trong việc tạo lập đợc một khu vực kinh tế nhà nớc, đặc
biệt là doanh nghiệp nhà nớc giữ vai trò chủ đạo dựa vào thực lực của mình. Khi
đó, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc gắn liền với tính hiệu quả của khu vực
này và của cả nền kinh tế. Để có đợc kịch bản này đòi hỏi nỗ lực và sự quyết tâm
rất lớn của Nhà nớc cùng với những chính sách cải cách hợp lý và không khéo.
Trong quá trình này, hai vấn đề cần phải lu ý là vừa nâng dần sức ép cạnh tranh
đối với khu vực kinh tế nhà nớc đồng thời tạo một khoảng thời gian nhất định để
khu vực này làm quen với môi trờng cạnh tranh và tự đứng trên đôi chân của
mình. Đối với những lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác có thể tham gia thì
trong dài hạn việc mở rộng dần sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế là hết
sức cần thiết. Đối với các lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không muốn
tham gia hoặc không đợc tham gia cũng cần phải có cơ chế, tạo môi trờng cạnh
tranh hoặc ít nhất là có cơ chế giám sát quá trình cải thiện và nâng cao hiệu quả
hoạt động.
Trong trờng hợp không đạt đợc kịch bản nêu trên, nếu kinh tế nhà nớc vẫn
tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong sự bao bọc của Nhà nớc thì chủ trơng hội nhập
vực t bản t nhân giai đoạn 1991-1999 và tăng gần gấp đôi về số doanh nghiệp
đăng ký (Bộ Kế hoạch và Đầu t, 2003). Tiềm năng này còn lớn hơn khi nhìn vào
khu vực kinh tế cá thể khá đồ sộ mà rất có khả năng sẽ chuyển thành kinh tế t
bản t nhân nếu có môi trờng kinh doanh thuận lợi. Tuy nhiên, sự phát triển của
kinh tế t bản t nhân hiện nay còn bị cản trở và hạn chế bởi những nhận thức cha
rõ ràng về vai trò của kinh tế t bản t nhân nói riêng và khu vực t nhân nói chung
trong phát triển kinh tế thị trờng định hớng XHCN. Những vấn đề lý luận cha đợc
sáng tỏ về kinh tế thị trờng định hớng XHCN dẫn đến tâm lý cha yên tâm để t
bản t nhân phát triển hết tiềm năng.
Có nghiên cứu cho rằng, trong tơng lai thành phần kinh tế TBNN sẽ phát
triển mạnh hơn do: (i) các thành phần kinh tế khác muốn liên doanh với kinh tế
nhà nớc để tìm chỗ dựa cho phát triển để yên tâm phát triển lâu dài; (ii) Nhà nớc
có thể định hớng phát triển khu vực t nhân thông qua liên doanh và liên kết với
khu vực này (Nguyễn Thanh Tuyền, 2002, tr.264). Trờng hợp này rất có thể xảy
ra nhất là trong bối cảnh khu vực kinh tế nhà nớc đợc hởng nhiều u đãi và là
thành phần đợc Nhà nớc chăm sóc và nuôi dỡng nhiều nhất. Hơn thế nữa, hiện
nay chúng ta đang có chính sách thúc đẩy cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc.
Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN sẽ tiếp tục chiếm giữ vị trí quan trọng trong
nền kinh tế. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực
này sẽ hoà quyện dần với các khu vực kinh tế khác trong nớc khi Nhà nớc đang
có chủ trơng xây dựng mặt bằng pháp luật chung cho cả đầu t trong nớc và đầu t
nớc ngoài.
4- Kết luận
Phân tích và đánh giá ở trên cho thấy, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc
tế và sự thiếu hụt nguồn vốn cho phát triển ở Việt Nam, việc huy động mọi nguồn
lực của các thành phần kinh tế là chiến lợc phát triển phù hợp. Các thành phần
kinh tế mới nh kinh tế t bản t nhân, kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài ngày càng
khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế. Đảng và Nhà nớc có chủ trơng phát
triển kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế và kinh tế nhà nớc
cùng với kinh tế tập thể trở thành nền tảng của nền kinh tế thị trờng định hớng xã
chất lợng tăng trởng và hiệu quả cao hơn cho toàn bộ nền kinh tế./.
Phụ lục:
Một số số liệu thống kê về vai trò của các thành phần kinh tế
Bảng 1: Cơ cấu vốn đầu t phát triển theo thành phần kinh tế, %
(Giá thực tế)
1996-2000 2001 2002 2003
Kinh tế Nhà nớc 54,6 58,1 56,2 56,5
Kinh tế ngoài quốc doanh 23,8 23,5 25,3 26,7
Kinh tế có vốn ĐTNN 21,6 18,4 18,5 16,8
Tổng 100 100 100 100
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2003
Bảng 2 : Đóng góp cho tổng thu nhập ngân sách của các thành phần
kinh tế
2000 2001 2002 2003
Tổng thu ngân sách, tỉ đồng 90749 103888 105200 123700
Thu từ DNNN 19692 23149 24600 29335
Thu từ DN ĐTNN, không kể dầu thô 4735 5702 6400 8600
Thu từ công thơng nghiệp dịch vụ
ngoài quốc doanh
5802 6723 7400 9000
Tỷ trọng trong tổng thu ngân sách, %
Thu từ DNNN 21,70 22,28 23,38 23,71
Thu từ DN ĐTNN, không kể dầu thô 5,22 5,49 6,08 6,95
Thu từ công thơng nghiệp dịch vụ
ngoài quốc doanh
6,39 6,47 7,03 7,28
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2002
10
Đồ thị: Tỷ trọng doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế theo một số chỉ
tiêu chủ yếu năm 2002
11