Nghiên cứu nồng độ microalbumin niệu và bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh trên bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (FULL) - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ

NGUYỄN HỨA QUANG

NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ MICROALBUMIN NIỆU
VÀ BỀ DÀY LỚP NỘI TRUNG MẠC ĐỘNG MẠCH CẢNH
TRÊN BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA II

Giáo viên hướng dẫn
GS.TS. NGUYỄN HẢI THỦY

tính có sự gia tăng các protein và các cytokines viêm như protein phản ứng C,
fibrinogen, TNF-α, Interleukin-6, Interleukin-8 …, không chỉ tại phổi mà ở
2 mức độ hệ thống toàn thân làm tổn thương các mạch máu lớn và nhỏ ngoài
phổi gây nên các biến cố tim mạch [12], [84], [73], [53], [69], [50].
Bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh đại diện cho tổn thương
mạch máu lớn và microalbumin niệu cho tổn thương vi mạch là hai phương
pháp dễ thực hiện, rẻ tiền, an toàn cho bệnh nhân và đã được nghiên cứu cho
thấy dự đoán, phản ánh tốt cho biến cố tim mạch ở đối tượng tăng huyết áp
[70], đái tháo đường [79] và cả trên dân số chung [86], [64], [31], [40], [77],
[27], [75].
Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã kết luận sự gia tăng bề dày
lớp nội trung mạc động mạch cảnh và microalbumin niệu trên bệnh nhân tắc
nghẽn thông khí [22], [43], [37], [28], [24], [51]. Ở Việt Nam chưa có nghiên
cứu nào về hai yếu tố này trên bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
Chúng tôi muốn khảo sát bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh và
nồng độ microalbumin niệu trên bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính để
tiên lượng tổn thương tim mạch ở đối tượng này. Từ đó, có chiến lược dự
phòng và quản lí tốt hơn, làm giảm biến cố và tử vong tim mạch cũng như
nhập viện ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Khảo sát bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh và microalbumin
niệu trên bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
- Đánh giá sự liên quan giữa bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh
và microalbumin niệu với FEV1, FEV1/FVC, khí máu động mạch, lipid máu,
protein phản ứng C huyết thanh và fibrinogen huyết tương trên đối tượng
nghiên cứu.
3
Năm 1950, Gaensler dựa trên công trình của Tiffeneau đưa ra thêm chỉ
số FEV1 và FEV1/FVC, đến nay vẫn được sử dụng rộng rãi và hiệu quả trong
chẩn doán, điều trị và tiên lượng COPD.
Năm 1959, hội nghị chuyên đề CIBA (CIBA Guest Symposium) đã
thống nhất đưa ra thuật ngữ viêm phế quản mạn tính và khí phế thũng [2].
Thuật ngữ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) được sử dụng lần đầu
tiên ở Mỹ năm 1964, để mô tả tình trạng tắc nghẽn đường thở tiến triển từ từ
và không hồi phục hoàn toàn. Trong khi đó ở các quốc gia Châu Âu vẫn dùng
từ viêm phế quản mạn tính và khí phế thũng.
Năm 1992, tổ chức y tế thế giới đã nhất trí dùng thuật ngữ bệnh phổi
tắc nghẽn mạn tính trong chẩn đoán và thống kê bệnh tật.
Năm 1997, viện tim mạch, phổi và huyết học Hoa Kì (National Heart,
Lung and Blood Institute - NHLBI) phối hợp với tổ chức y tế thế giới đề ra
chương trình khởi động toàn cầu về phòng chống COPD viết tắt là GOLD
(Global Initative for Chronic Obstructive Pulmonary Disease).
Năm 2001, GOLD đưa ra bản khuyến cáo về quản lí, điều trị COPD
đầu tiên và lấy ngày thứ tư, tuần thứ 2 của tháng 11 hàng năm là ngày COPD
toàn cầu. Từ năm 2001, hằng năm GOLD đưa ra một bản cập nhật về hướng
dẫn chẩn đoán và điều trị COPD [38], [68].
1.1.3. Tình hình dịch tễ học COPD
1.1.3.1. Trên thế giới
COPD là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 6 trên thế giới theo
thống kê vào năm 1990. Hiện nay, COPD là nguyên nhân tử vong đứng hàng
thứ 4. Theo ước tính của tổ chức y tế thế giới thì đến năm 2020, COPD sẽ là
nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3. Sự gia tăng tử vong này chủ yếu ở
các nước đang phát triển [15], [72], [83].
Theo một phân tích gộp (2009) các nghiên cứu từ năm 1990 đến 2004,
tỉ lệ mắc COPD toàn cầu ước tính khoảng 7,6%, tùy thuộc vào tiêu chuẩn

Có một số công trình nghiên cứu trong phạm vi nhỏ.
6 Theo Ngô Quí Châu, tỉ lệ mắc COPD tại một số tỉnh, thành phố ở phía
Bắc là 5,1% (nam là 6,7% và nữ là 3,3%) [2].
Phan Thu Phương và Ngô Quí Châu (2009), tỉ lệ mắc COPD ở đối
tượng trên 40 tuổi ở khu vực ngoại thành Hà Nội và Bắc Giang là 3,6% [2].
1.1.4. Chẩn đoán COPD
1.1.4.1. Chẩn đoán xác định
Theo GOLD năm 2013 [38]
- Triệu chứng lâm sàng: Bệnh nhân có thể có một trong các dấu hiệu
sau đây:
+ Trong tiền sử và/hoặc hiện tại có tiếp xúc với yếu tố nguy cơ như hút
thuốc lá, thuốc lào, tiếp xúc với khói bụi và hóa chất, khói bếp và khói của
nhiên liệu đốt.
+ Ho khạc đàm: 03 tháng trong 01 năm, liên tục và liên tiếp trong 02
năm trở lên.
+ Khó thở: tiến triển nặng dần theo thời gian và khó thở liên tục. Bệnh
nhân “phải gắng sức để thở”, “thở nặng”, “cảm giác thiếu không khí”, hoặc
“thở hổn hển”. Khó thở tăng lên khi gắng sức, nhiễm trùng đường hô hấp.
+ Khám lâm sàng: rì rào phế nang giảm là dấu hiệu thường gặp nhất,
các dấu hiệu khác có thể bao gồm lồng ngực hình thùng, gõ vang trống, ran
rít, ran ngáy, ran ẩm, ran nổ. Ở giai đoạn muộn có thể thấy các dấu hiệu của
suy tim phải (gan to, tĩnh mạch cổ nổi, phù hai chân).
- Cận lâm sàng
+ Đo chức năng hô hấp: Đây là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác
định và đánh giá mức độ nặng của COPD.
Biểu hiện rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục hoàn toàn sau
nghiệm pháp giãn phế quản (400g salbutamol hoặc 80g ipratropium hoặc

Phân độ trên dùng cho bệnh nhân đã được chẩn đoán COPD khi tỷ
Gaensler: FEV1/FVC < 0,7 sau khi thử thuốc.
- Đánh giá mức độ nặng theo điểm mMRC [38]
Trong thực hành dùng mMRC để đánh giá mức độ triệu chứng
Thang điểm khó thở mMRC
mMRC 0: Chỉ xuất hiện khó thở khi hoạt động gắng sức
mMRC 1: Xuất hiện khó thở khi đi nhanh hoặc leo dốc
mMRC 2: Đi chậm hơn do khó thở hoặc dừng lại để thở khi đi cạnh
người cùng tuổi
8 mMRC 3: Phải dừng lại để thở sau khi đi 100m
mMRC 4: Rất khó thở khi đi ra khỏi nhà hoặc thay đồ
 mMRC: 0-1: ít triệu chứng: bệnh nhân thuộc nhóm A hoặc C
 mMRC: 2-4: nhiều triệu chứng: bệnh nhân thuộc nhóm B hoặc D
Đánh giá
Bệnh nhân thuộc nhóm (A) - Nguy cơ thấp, ít triệu chứng: Mức độ
tắc nghẽn đường thở nhẹ, trung bình và/hoặc có 0-1 đợt cấp trong vòng 12
tháng và khó thở giai đoạn 0 hoặc 1 (theo phân loại MRC).
Bệnh nhân thuộc nhóm (B) - Nguy cơ thấp, nhiều triệu chứng: Mức
độ tắc nghẽn đường thở nhẹ, trung bình và/hoặc có 0-1 đợt cấp trong vòng 12
tháng và mức độ khó thở từ giai đoạn 2 trở lên (theo phân loại MRC).
Bệnh nhân thuộc nhóm (C) - Nguy cơ cao, ít triệu chứng: Mức độ
tắc nghẽn đường thở nặng, rất nặng và/hoặc có ≥ 2 đợt cấp trong vòng 12
tháng và mức độ khó thở từ giai đoạn 0-1 (theo phân loại MRC).
Bệnh nhân thuộc nhóm (D) - Nguy cơ cao, nhiều triệu chứng: Mức
độ tắc nghẽn đường thở nặng, rất nặng và/hoặc có ≥ 2 đợt cấp trong vòng 12
tháng và mức độ khó thở từ giai đoạn 2 trở lên (theo phân loại MRC).
1.2. PHẢN ỨNG VIÊM HỆ THỐNG TRONG COPD
Hình 1.1. Đáp ứng viêm toàn thân và tại chỗ trong bệnh COPD [88]
1.2.1. Đáp ứng pha cấp (Acute-phase response)
Đáp ứng pha cấp là phần quan trọng và sớm của đáp ứng miễn dịch
bẩm sinh. CRP là chỉ dấu chính của đáp ứng pha cấp và liên quan đến sự gia
tăng nguy cơ bệnh lí tim mạch như nhồi máu cơ tim cấp, cơn đau thắt ngực
không ổn định và các biến cố tim mạch khác [27], [93], [11]. CRP góp phần
trong việc huy động bạch cầu vào trong thành mạch, bắt giữ LDLc đậm đặc
nhỏ bởi đại thực bào và mất ổn định mảng xơ vữa [10], [76], [83].
CRP là một protein pha cấp gia tăng trong huyết thanh của bệnh nhân
COPD, đặc biệt trong đợt bộc phát cấp có nhiễm khuẩn [12], [53]. Trong
Viêm tại chỗ

 Mất chức năng phổi
 Đợt bộc phát COPD
Viêm hệ thống

 Đột quỵ
 Nhồi máu cơ tim cấp
 Yếu cơ
 Sút cân
 Loãng xương
 Đái tháo đường
tủy xươngXương tủy
Gan
Cơ xương

thống của bệnh hoặc có thể thứ phát sau một số tình trạng liên quan khác như
bệnh lí tim mạch và hút thuốc lá [88].
Pinto-Plata và cộng sự đã chứng minh nồng độ CRP huyết thanh gia
tăng trên bệnh nhân COPD không có bệnh lí tim mạch và độc lập với việc hút
thuốc lá, sự gia tăng CRP này sẽ giảm xuống khi điều trị corticosteroides khí
dung. Sự tác động của liệu pháp corticosteroids kháng viêm tại chỗ lên nồng
độ CRP máu đã được thông báo. Ngưng điều trị corticosteroids khí dung sẽ
làm gia tăng có ý nghĩa nồng độ CRP trên bệnh nhân COPD. Bởi vì CRP là
11 một chỉ dấu sinh học của đáp ứng viêm hệ thống và liên quan với độ trầm
trọng của các biến chứng tim mạch nên nhiều nghiên cứu đã xem đáp ứng
viêm hệ thống trong COPD đóng vai trò quan trọng trong mối liên hệ giữa
COPD và bệnh lí tim mạch [20], [66], [69].
Một protein pha cấp khác là fibrinogen cũng thấy gia tăng trong COPD,
đặc biệt là trong đợt bộc phát cấp. Người ta thấy sự liên quan của việc gia tăng
fibrinogen với sự suy giảm FEV1 [84], [73], [81] và gia tăng nguy cơ nhập
viện của bệnh nhân COPD [36]. Wedzicha và cộng sự thấy rằng trong đợt bộc
phát cấp của COPD, nồng độ fibrinogen huyết tương góp phần vào sự bất
thường nội môi và rối loạn đông máu đưa đến các biến cố tim mạch. Fowbeer
và cộng sự thấy có sự gia tăng D - dimer máu ở bệnh nhân COPD [88].
Amyloid huyết thanh (SAA) là một protein pha cấp khác được phóng
thích bởi các cytokines tiền viêm từ gan, nhưng không giống CRP, SAA còn
được phóng thích từ các mô viêm. Các tác giả thấy có sự gia tăng SAA trong
đợt bộc phát cấp COPD và nồng độ SAA liên quan với mức độ trầm trọng
của đợt cấp. SAA gắn với vi khuẩn gram âm và là một phần của cơ chế miễn
dịch bẩm sinh chống lại vi khuẩn, nhưng SAA cũng có tác dụng tiền viêm
bao gồm hoạt hóa tế bào nội mạc, bạch cầu trung tính, bạch cầu đơn nhân và
tế bào Th17 để phóng thích các chất trung gian tiền viêm và ức chế tác dụng

phổi của bệnh nhân COPD [66], [88].
Số lượng bạch cầu máu là một yếu tố tiên lượng tử vong toàn bộ độc
lập với hút thuốc lá. Sự bất thường của bạch cầu máu có lẽ có tác dụng lên các
cơ quan khác hơn là lên phổi và vì vậy góp phần vào các bệnh đồng mắc.
Trong khi số lượng bạch cầu trung tính máu không phải luôn luôn
tăng trong COPD giai đoạn ổn định [84], có sự tương quan nghịch giữa số
lượng bạch cầu trung tính và FEV1. Bạch cầu trung tính từ bệnh nhân
COPD còn thấy tăng sản sinh các gốc tự do (ROS) để đáp ứng với các tác
nhân kích thích. Mặc dù không thấy sự khác nhau trong quá trình chết theo
chương trình của các bạch cầu trung tính máu ở bệnh nhân COPD và người
13 hút thuốc lá, có một sự suy giảm L-selectin và gia tăng trình diện CD 11b ở
bệnh nhân COPD [66].
Tế bào T máu gia tăng số lượng của CD4+CD28
null
và CD8+CD28
null

và các tế bào T này chứa và phóng thích perforins và granzyme B. Tế bào
γδT-cell gia tăng ở người hút thuốc lá bình thường nhưng không tăng trong
COPD [20], [82].
Sự giảm sút trong chức năng thực bào và độc tế bào của tế bào giết tự
nhiên (NK) máu được thấy ở bệnh nhân COPD. Có một sự suy giảm số lượng
invariant NK T-cell máu.
1.2.3. Chất trung gian gây viêm
Bệnh nhân COPD có sự gia tăng hơn bình thường nồng độ các chỉ dấu
sinh học tiền viêm. Sự gia tăng nồng độ TNF- α và thụ thể của chúng (TNFR-
55 và TNFR-75) liên quan với sự hoạt hóa bạch cầu và sụt cân ở bệnh nhân

nhiều tế bào, kích thích sinh máu, hoạt hóa tế bào nội mạc và đưa đến đáp
ứng pha cấp.
TNF-α dường như liên quan, ít nhất là một phần, với hạ oxy máu. Tăng
TNF- α hệ thống được xem như là một cơ chế của suy mòn và yếu cơ xương
ở bệnh nhân COPD [36]. Dùng TNF-α kéo dài ở súc vật dẫn đến suy mòn,
thiếu máu, giảm bạch cầu và thâm nhiễm bạch cầu trung tính vào các cơ quan
như tim, gan và lách.
TNF-α và IL-1β cùng với IL-6 chịu trách nhiệm cho hoạt hóa đáp ứng
pha cấp. Đáp ứng này sinh ra CRP, fibrinogen và các tác nhân đông máu khác
liên quan với các biến cố tim mạch do tắc mạch [36], [69], [50].
CXCL8 và các chemokines CXC khác đóng một vai trò quan trọng
trong việc huy động bạch cầu trung tính và bạch cầu đơn nhân. CXCL8 máu
cũng gia tăng ở bệnh nhân COPD và liên quan yếu cơ.
Tóm lại, các cytokines viêm hệ thống trên bệnh nhân COPD có khả
năng phát động một đáp ứng viêm hệ thống đặc điểm bởi sự gia tăng bạch
cầu, tiểu cầu máu cũng như các protein tiền đông máu và tiền viêm. Chúng
15 cũng có khả năng hoạt hóa bạch cầu và nội mạc của giường mao mạch để thúc
đẩy sự xâm nhập và kết dính giữa bạch cầu và nội mạc mạch máu.
1.2.4. Mối liên hệ giữa phổi và phản ứng viêm hệ thống
Quá trình viêm ở phổi đưa đến viêm hệ thống. Người ta cho rằng quá
trình viêm ở phổi có thể đưa đến viêm hệ thống. SP-D được sản xuất chủ yếu
tại phổi từ tế bào pneumocyte type 2 và tế bào club nhưng lại gia tăng trong
huyết thanh bệnh nhân COPD, mặc dù sự gia tăng này cũng thấy ở một số
bệnh viêm phổi khác. Khi hít phải các hạt bụi nhỏ (đường kính < 10 m) ở
trong không khí ô nhiễm sẽ đưa đến hoạt hóa đại thực bào phế nang sản xuất
cytokines bao gồm IL-1β, IL-6 và GM-CSF. Các cytokines này đi vào máu
kích thích đáp ứng tủy xương làm gia tăng bạch cầu và tiểu cầu. Các hạt có

bụi độc và khí độc hít vào. Nhiều chất trung gian chúng sinh ra tham gia vào
đáp ứng viêm trong bệnh COPD và các chất trung gian này đi vào tuần hoàn
góp phần vào đáp ứng viêm hệ thống.
Một số thử nghiệm mô tả mối liên hệ quan trọng giữa phản ứng viêm
hệ thống do các hạt khí bụi ô nhiễm ở phổi và sự tiến triển của xơ vữa. Mức
độ của quá trình xơ vữa tỉ lệ thuận với nồng độ của các đại thực bào phế nang
có chứa hạt bụi độc. Ngoài ra, với quá trình viêm đường hô hấp, các tế bào
nội mạc được hoạt hóa với sự gia tăng ICAM-1 (intracellular adhesion
molecule-1) và VCAM-1 (vascular cell adhesion molecule-1) trên tế bào nội
mạc làm tăng xơ vữa. Các thụ thể này đóng vai trò quan trọng trong việc huy
động bạch cầu như bạch cầu đơn nhân và bạch cầu lympho vào mảng xơ vữa
[20], [66], [83].
Tóm lại, các thực nghiệm đã chứng minh phản ứng viêm ở đường thở
do khí độc và khói thuốc lá sẽ đưa đến một đáp ứng viêm hệ thống, thông qua
hoạt hóa các đại thực bào phế nang và các tế bào biểu mô phế quản, ảnh
hưởng đến các bệnh lý ngoài phổi đặc biệt là tim mạch.
17 1.3. IMT-ĐMCa (TỔN THƯƠNG MẠCH MÁU LỚN) TRÊN COPD
Hút thuốc lá là nguy cơ hàng đầu của COPD và bệnh mạch vành. Các
biến cố tim mạch là nguyên nhân chính cho việc nhập viện (khoảng 50% tất
cả các trường hợp nhập viện) và là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ hai ở
bệnh nhân COPD mức độ vừa và nhẹ [25].
Các nghiên cứu dịch tễ cho thấy sự giảm chức năng phổi ở bệnh nhân
COPD liên quan với tàn tật và tử vong tim mạch. Một số nghiên cứu cho thấy
giảm FEV1 là yếu tố nguy cơ quan trọng của tử vong tim mạch, độc lập với
các nguy cơ khác như hút thuốc lá, cholesterol toàn phần và tăng huyết áp
trên bệnh nhân COPD [4], [22], [17]. Nguyên nhân tử vong tim mạch ở bệnh
nhân COPD chiếm từ 12% đến 37% ở các nghiên cứu khác nhau. Tỷ lệ tử

nguy cơ khác như hút thuốc lá, cholesterol toàn phần hay tăng huyết áp [22], [80].
Nghiên cứu The Baltimore Longitudinal Study of Aging cho thấy bệnh
nhân giảm FEV1 nhiều (qua theo di 16 năm) có tử vong tim mạch gấp 3 - 5
lần bệnh nhân có FEV1 giảm ít. Ngay cả ở đối tượng không hút thuốc lá thì
sự suy giảm FEV1 liên quan đến sự gia tăng tử vong tim mạch từ 5 - 10 lần.
Điều này cho thấy có sự liên quan giữa sự thay đổi FEV1 và biến cố tim mạch
độc lập với tác dụng của thuốc lá.
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng giảm FEV1 làm tăng nguy cơ xơ vữa.
Một nghiên cứu cho thấy FEV1 liên quan đến vận tốc sóng mạch (PWV) -
một chỉ số để đo độ cứng của động mạch trung tâm và xơ vữa. Vận tốc sóng
mạch tăng khi FEV1 giảm. Giảm 195,2 ± 50,1ml FEV1 vận tốc sóng mạch
tăng 2,5m/s [95]. Những người hút thuốc lá với giới hạn thông khí cũng thấy
gia tăng bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh [58]. Tần suất COPD cao
ở bệnh nhân bị bệnh động mạch vành. Tỷ lệ COPD trong số những bệnh nhân
bị nhồi máu cơ tim thay đổi từ 7 - 16%.
Tóm lại, sự giảm chức năng phổi là yếu tố nguy cơ cho biến cố tim
mạch. Ngay cả chỉ cần giảm nhẹ khoảng 10% chức năng phổi đã làm tăng gấp
19 02 lần nguy cơ rối loạn nhịp tim, biến cố động mạch vành cấp và tử vong tim
mạch, độc lập với tác dụng của thuốc lá.
Mối liên hệ giữa COPD, khí phế thũng và và tổn thương mạch máu lớn
rất thay đổi. Tổn thương mạch máu lớn được nghiên cứu thông qua việc đo
trực tiếp xơ vữa động mạch và độ cứng động mạch. Việc đo calcium hóa động
mạch vành trên CT tim (Cardiac-gated computed tomography) là yếu tố tiên
lượng tốt nhất biến cố tim mạch lâm sàng. Trong nghiên cứu MESA Lung
Study thấy không có sự liên quan giữa giới hạn thông khí hay tỉ lệ khí thũng
trên CT scan với sự hiện diện hay mức độ calcium hóa động mạch vành [22].
Bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh là yếu tố đo lường xơ vữa

thông khí [21].
Sự liên hệ giữa tổn thương mạch máu lớn và COPD bao gồm calci hóa
động mạch vành, tương quan giữa bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh
và chức năng phổi cũng như sự liên quan giữa chỉ số ABI và tình trạng khí
phế thũng. Sự rối loạn chức năng nội mạc là mối liên hệ sớm giữa tổn thương
mạch máu lớn và COPD.
Bệnh sinh của xơ vữa phức tạp và nhiều yếu tố. Đáp ứng viêm hệ thống
được cho là đóng vai trò quan trọng trong việc khởi phát tạo thành mảng xơ
vữa và cũng gây ra sự tiến triển của bệnh lí xơ vữa động mạch [76]. Nhiều
nghiên cứu dịch tễ đã nêu lên mối liên hệ giữa phản ứng viêm hệ thống và xơ
vữa, thiếu máu cơ tim, đột qu và tử vong do động mạch vành [93], [11]. Một
trong những bước quan trọng trong khởi phát xơ vữa là hoạt hóa tế bào nội
mạc mạch máu. Trong tình trạng viêm hệ thống (như đái tháo đường, COPD,
béo phì), tế bào nội mạc trình diện quá mức các phân tử kết dính bề mặt như
VCAM-1 làm gắn kết với bạch cầu máu để hoạt hóa nội mạc, thúc đẩy một
chuỗi các biến cố đưa đến phản ứng viêm trong thành mạch máu [76].
Một số phân tử như CRP có thể thúc đẩy quá trình này. CRP có thể
điều hòa tăng sinh các cytokines viêm khác, hoạt hóa hệ thống bổ thể, thúc
đẩy quá trình bắt giữ LDLc của đại thực bào, gia tăng kết dính bạch cầu vào
21 nội mạc mạch máu từ đó làm thúc đẩy hơn nữa phản ứng viêm trong thành
mạch. CRP cũng tác động với tế bào nội mạc để kích thích sản xuất IL-6,
MCP-1 và endothelin-1, làm thay đổi chức năng nội mạc [12].
Trong COPD, cơ chế của biến chứng tim mạch bao gồm giảm oxy máu,
viêm hệ thống và stress oxy hóa cùng với hoạt động quá mức của hệ thần kinh
giao cảm và rối loạn chức năng mạch máu. Rối loạn mạch máu trong COPD
liên quan với các cytokines viêm, rối loạn chức năng nội mạc mạch máu và
thoái giáng mô liên kết. Sau đó là giảm tính đàn hồi và lắng đọng collagen

tốc sóng mạch động mạch chủ tăng ở bệnh nhân COPD so với chứng và liên
quan với sự tắc nghẽn thông khí. Cứng mạch có lẽ đóng góp vào sự gia tăng
nguy cơ tim mạch trên bệnh nhân COPD [55].
Thoái biến mô liên kết: Cơ chất ngoại bào thành động mạch cũng góp
phần vào biến chứng tim mạch. Giảm đàn hồi của các sợi collagen là sinh lí
bình thường của tuổi lớn gây nên cứng động mạch. Cũng như ở thành mạch,
giảm đàn hồi ở da gây nhăn da và giảm đàn hồi ở phổi gây khí phế thũng.
Bệnh nhân COPD có bằng chứng cho thấy có sự giảm đàn hồi ở tại phổi cũng
như ngoài phổi. Sự phá hủy tại phổi gây khí phế thũng là hậu quả của giảm
đàn hồi. Hơn nữa, bệnh nhân COPD có sự thoái gián elastin ở dưới da làm
cho da bị nhăn nheo hơn người không bị COPD [59]. Giả thuyết cho rằng,
bệnh nhân COPD có sự giảm đàn hồi hệ thống lẫn tại phổi. Mất cân bằng
protease/anti-protease được cho là góp phần vào bệnh sinh của COPD. Tế bào
đơn nhân ở bệnh nhân COPD phóng thích nhiều matrix metalloproteinase-9
(MMP-9) hơn so với chứng khỏe mạnh. MMP-9 liên quan với cứng động
mạch và tính đa hình ở gen MMP-9 chịu trách nhiệm cho cứng mạch. MMP-9
mRNA tăng ở da của bệnh nhân COPD hơn so với chứng và liên quan với
giảm đàn hồi ở da. Vì vậy, thoái gián cơ chất ngoại bào ở bệnh nhân COPD cả
ở tại phổi lẫn mạch hệ thống được giải thích một phần do mất cân bằng
protease/anti-protease.
Nồng độ IL-8 và TNF-α tương quan với xơ vữa động mạch sớm và là
23 yếu tố dự đoán tổn thương động mạch vành và suy tim sung huyết. Thiếu oxy
máu góp phần vào sự gia tăng TNF-α ở bệnh nhân COPD. Hơn nữa, nồng độ
TNF-α còn cao hơn ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có tăng áp phổi.
Stress oxy hóa: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính liên quan đến sự gia tăng
sản xuất các gốc tự do (ROS) từ trong phổi và bạch cầu gây rối loạn nội mạc
mạch máu. Gia tăng stress oxy hóa tại phổi và hệ thống được ghi nhận trên
Hình 1.2. Tác động trên mạch máu trong bệnh COPD [88]

Hình 1.2. Tổn thương mạch máu trong bệnh COPD [88]

Tóm lại, quá trình viêm ở phổi và đường hô hấp góp phần trực tiếp hay
gián tiếp vào việc phóng thích các yếu tố trung gian tiền viêm như các protein
pha cấp, cytokines và chemokines vào máu. Các chất trung gian này làm gia
tăng đông máu và hoạt hóa tế bào nội mạc mạch máu góp phần vào phản ứng
viêm ở mạch, tạo mảng vữa, bất ổn định mảng vữa và vỡ. Đáp ứng viêm hệ
thống này cũng kích thích tủy xương tăng phóng thích bạch cầu, đặc biệt là
bạch cầu đơn nhân và tiểu cầu tham gia vào phản ứng viêm mạch máu.
Viêm tại phổi
Viêm hệ thống
 CRP and fibrinogen
 Cytokines (TNF- - IL- 1, IL- 6))
 Bạch cầu và tiểu cầu

(Hoạt hóa mạch máu và rối
loại chức năng nội mạc)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status