MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới, việc quan tâm bảo vệ các
quyền của trẻ em luôn được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng
trong chiến lược phát triển bền vững của đất nước. Vì vậy, Công ước của Liên
hợp quốc về quyền trẻ em (20-11-1989) đã được Chính phủ của 191 quốc gia
và vùng lãnh thổ trên thế giới phê chuẩn (tính đến hết tháng 12 năm 2004).
Mặc dù có những quan niệm khác nhau về cách thức xác định một con
người cụ thể gọi là trẻ em và giới hạn về độ tuổi (từ 16 tuổi đến 18 tuổi),
nhưng trong phạm vi quốc tế, trẻ em nói chung đều được xác định là đối
tượng được chăm sóc đặc biệt, cần nhận được sự quan tâm đặc biệt của Nhà
nước, xã hội và cộng đồng.
Ngày 2-1-1990, Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã chính thức phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và là
một trong những quốc gia phê chuẩn công ước này sớm nhất (thứ 3 trên thế
giới và thứ 2 ở Châu Á). Để đảm bảo cho việc thực hiện công ước này, ngày
16-8-1991, Nhà nước đã ban hành Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Tình hình xâm hại trẻ em nói chung và xâm hại tình dục trẻ em nói riêng
ở Việt Nam trong những năm vừa qua vẫn diễn biến hết sức phức tạp. Căn cứ
vào số liệu thống kê của Uỷ ban Quốc gia về phòng chống tội phạm và báo
cáo của tổng cục CSND thì từ năm 1995 đến năm 2004 trên địa bàn các tỉnh,
thành phố phía nam đã xảy ra 5022 vụ hiếp dâm mà phần lớn đối tượng bị
xâm hại là trẻ em (58,6%).
Ngày 31-7-1998, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 9-1998 _NQ/CP về việc
tăng cường và phòng chống tội phạm trong tình hình mới và phê duyệt
Chương trình Quốc gia về phòng chống tội phạm. Một trong những nội dung
- 1 -
quan trọng của Chương trình quốc gia về phòng chống tội phạm được đề cập
là đề án “Phòng chống tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm trong lứa tuổi vị
thành niên” mà Bộ Công an được giao nhiệm vụ chính trong việc chủ trì, phối
hợp hoạt động giữa các cấp, các ngành.
Đây là đề tài mà địa bàn nghiên cứu là thành phố Hồ Chí Minh của Việt
Nam. Cho nên, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào về đề tài này
được tiến hành nghiên cứu ở nước ngoài .
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Vấn đề xâm phạm tình dục trẻ em trong những năm vừa qua đã được
nhiều cuộc hội thảo và nhiều công trình nghiên cứu dưới các góc độ khác
nhau. Đó là:
Tháng11/1998 Ban tuyên giáo, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
đã tổ chức cuộc hội thảo “Truyền thông giáo dục phòng chống lạm dụng tình
dục trẻ em”.
Báo cáo chuyên đề “Phòng chống lạm dụng và bóc lột tình dục
trẻ em trên thế giới” _Vũ Ngọc Bích _ Chuyên viên Văn phòng UNICEF Việt
Nam.
Báo cáo chuyên đề “Truyền thông, giáo dục, phòng chống lạm
dụng tình dục trẻ em” _Phùng Ngọc Hùng _Phó Chủ nhiệm Uỷ ban bảo vệ,
chăm sóc trẻ em Việt Nam.
Đề tài cấp bộ “Tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em ở các tỉnh,
thành phố phía nam - Thực trạng và giải pháp phòng ngừa đấu tranh” _ Vũ
Đức Trung _ T48.
- 3 -
Đề tài cơ sở: “Khởi tố điều tra các tội phạm xâm hại tình dục trẻ
em trên địa bàn tỉnh Bình Dương_ Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu
quả” _ Trần Ngọc Đức _ T48.
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu về tội phạm trong lĩnh
vực này ở Vũng Tàu, Trà Vinh... Tuy nhiên, vấn đề điều tra các vụ án xâm hại
tình dục trẻ em trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thì chưa có công trình
nghiên cứu nào đề cập vấn đề này một cách cụ thể.
3.Mục tiêu và nhiệm vụ của nghiên cứu đề tài
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ thực trạng công tác điều tra các vụ án xâm phạm tình dục trẻ em
học có liên quan đến đề tài đã được công bố.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
* Ý nghĩa lý luận
- Nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn diện
về vấn đề đấu tranh chống tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em dưới góc độ
hình pháp học.
- Đây là tài liệu nghiên cứu có ích cho các cán bộ làm công
tác thực tiễn, giảng viên các trường của ngành Công an nói chung và trường
Đại học Cảnh sát nhân dân nói riêng, là tài liệu tham khảo bổ ích của sinh
viên và học sinh các trường Công an nhân dân.
* Ý nghĩa thực tiễn
- 5 -
- Thông qua việc nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ thực trạng
công tác điều tra các vụ án xâm phạm tình dục trẻ em, đánh giá những hạn
chế, tồn tại, rút ra những nguyên nhân của hạn chế, tồn tại trong công tác điều
tra để giúp cho các cán bộ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ điều tra loại tội phạm
xâm phạm tình dục trẻ em, tránh được những sai lầm, khắc phục được những
hạn chế trong công tác. Đồng thời nội dung nghiên cứu là các chỉ dẫn cụ thễ
để vận dụng trong thực tiễn đối với học viên, sinh viên.
- Đưa ra các giải pháp cụ thể khắc phục những hạn chế, tồn
tại để vận dụng trong thực tiễn công tác điều tra các loại tội phạm này nhằm
đạt hiệu quả cao nhất.
6. Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
*Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em
như hiếp dâm trẻ em, cưỡng dâm trẻ em, giao cấu với trẻ em và dâm ô với trẻ.
Địa bàn nghiên cứu là các vụ án xảy ra trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh.
Thời gian nghiên cứu là từ năm 2000 đến năm 2004.
* Đối tượng nghiên cứu
- 7 -
1.1. NHẬN THỨC CHUNG VỀ TRẺ EM, BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM
VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM
XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ EM THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.1. Nhận thức chung về trẻ em và bảo vệ các quyền trẻ em theo
Luật quốc tế và Pháp luật Việt Nam
1. Một số quan điểm quốc tế về trẻ em và quyền trẻ em
Quy luật về sự phát triển của con người trong thế giới cũng tuân theo
một trình tự thời gian như các loài sinh vật khác. Để đảm bảo cho con người
phát triển, trưởng thành và đạt đến sự hoàn thiện cơ bản về cả 2 yếu tố là sinh
học và nhận thức thì cần phải có một thời gian nhất định. Thời gian này chính
là quãng đời đầu tiên của mỗi con người. Do sự chưa hoàn thiện về thể chất
và khả năng tư duy nên cần phải có sự phân biệt lớp người này với những
người đã trưởng thành. Tập quán quốc tế thống nhất xác định lớp người này là
trẻ em.
Việc xác định một người là trẻ em thường dựa trên một số căn cứ cụ thể:
Thứ nhất là căn cứ vào độ tuổi: Trong Công ước Quốc tế về quyền trẻ
em năm 1999 có qui định “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường
hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em đã có quy định tuổi thành niên sớm”.
Điều 2 của Hiến chương Châu Phi về quyền và phúc lợi trẻ em định nghĩa
“Trẻ em là người dưới 18 tuổi”. Hướng dẫn của Liên hợp quốc về phòng ngừa
người chưa thành niên hư hỏng (Hướng dẫn Riat) cũng xác định “Trẻ em là
người chưa đến 18 tuổi”. Như vậy, giới hạn về độ tuổi của trẻ em theo cách
xác định chung của cộng đồng quốc tế thì phải là “người dưới 18 tuổi”.
Thứ hai là căn cứ vào đặc điểm phát triển về tâm, sinh lý: Các nghiên
cứu khoa học về dinh dưỡng và giáo dục đối với trẻ em trên thế giới đều xác
định giai đoạn tuổi trẻ là giai đoạn xác lập, phân định và hoàn thiện dần các
- 8 -
chức năng sinh lý của các cơ quan, bộ phận trong cơ thể, do đó cơ thể con
người có nhiều biến động trong quá trình phát triển. Vì vậy, cần phải theo dõi,
là ngoan”. Với sự gia tăng dân số trong những năm vừa qua ở Việt Nam
thường dao động ở mức 2,3% - 3% thì trẻ em ở Việt Nam là lớp người luôn
luôn đông đảo. Trong lứa tuổi này, các em phần lớn là học sinh ở các cấp học
phổ thông, các trường mẫu giáo mầm non .. Sự phát triển của trẻ em có thực
sự bảo đảm sau này sẽ là những chủ nhân của đất nước phụ thuộc vào hệ
thống chăm sóc, giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội. Dù ở đâu, trẻ em
cũng có quyền đòi hỏi từ người lớn sự bảo vệ, chăm sóc, giáo dục, giúp đỡ.
Mọi sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm trong việc giáo dục, chăm sóc trẻ em đều có
thể dẫn đến những hậu quả xấu trên nhiều mặt. Mọi hành vi xâm phạm đến sự
phát triển bình thường về tâm, sinh lý của trẻ em đều đáng bị lên án, đáng bị
trừng trị theo pháp luật, thậm chí phải bị trừng trị theo Luật hình sự.
Thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định
“Chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ em tập trung vào thực hiện quyền trẻ em,
tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn và lành mạnh,
phát triển hài hoà về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức..”. Nghị quyết số
51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội Khoá X, kì họp thứ 10 đã nêu
rõ: “Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục”. Không phân biệt đối xử với trẻ em, tôn trọng, thực hiện đầy đủ các
quyền cơ bản và nhu cầu chính đáng của trẻ em, bảo đảm lợi ích tốt nhất cho
- 10 -
trẻ em là nguyên tắc của công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Kế
thừa những quy định đang phát huy hiệu quả của Luật hiện hành, sửa đổi
những quy định chưa phù hợp, bổ sung những quy định để điều chỉnh những
quan hệ mới phát sinh, bảo đảm các quy định của dự án luật phù hợp, thống
nhất với hệ thống Pháp luật hiện hành. Trên cơ sở đó, xây dựng các quy định
về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, tạo điều kiện cho mọi trẻ em được
hưởng các quyền cơ bản, thực hiện các bổn phận và phát triển toàn diện về
thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.
Ngày 15/06/2004, Quốc hội Khoá XI, kì họp thứ 5 đã thông qua Luật
định cuộc sống.
2.Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện biện pháp giáo
dục, phòng ngừa, ngăn chặn và tố cáo hành vi xâm hại tình dục trẻ em.
Đối với trẻ em vi phạm phát luật, Điều 58 qui định “Trẻ em vi phạm
pháp luật được gia đình, nhà trường và xã hội giáo dục, giúp đỡ để sửa chữa
sai lầm, có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng qui tắc của đời sống xã hội và
sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Việc tổ chức giáo dục
trẻ em vi phạm pháp luật chủ yếu được thực hiện tại cộng đồng hoặc đưa vào
trường giáo dưỡng” …
Ngay sau khi Quốc hội ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em, Chính phủ đã ban hành Nghị định 374 ngày 14/11/2004 qui định chi tiết
việc thực hiện Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Nghị định 374/CP
đã xác định: “Bộ Công an có trách nhiệm phối hợp với Đoàn thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam cùng các cơ quan bảo vệ
- 12 -
pháp luật, các cơ quan tổ chức hữu quan có kế hoạch tổ chức thực hiện việc
bảo vệ các quyền và lợi ích của trẻ em. Ngăn chặn việc lôi kéo, xúi giục trẻ
em làm điều phạm pháp, có biện pháp ngăn ngừa hành vi phạm pháp của trẻ
em, giáo dục và cải tạo trẻ em phạm pháp, đồng thời có biện pháp xử lý
nghiêm khắc đối với những hành vi giam giữ trẻ em trái pháp luật, đánh đập,
tra tấn trẻ em, xâm phạm đến sức khoẻ, danh dự trẻ em”.
Như vậy, có thể khẳng định rằng quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà
nước ta là luôn luôn tạo ra những điều kiện tốt nhất để đảm bảo cho trẻ em
trước hết có một cuộc sống yên ổn trong sự yêu thương của toàn thể xã hội,
sau đó là tạo những điều kiện thuận lợi để trẻ em phát triển lành mạnh, trở
thành những công dân có ích cho xã hội. Vì vậy, đấu tranh ngăn chặn và xử lý
những hành vi xâm hại trẻ em nói chung và xâm hại tình dục trẻ em nói riêng
là trách nhiệm chung của toàn xã hội, trong đó người chịu trách nhiệm cao
nhất trước Nhà nước, xã hội là ngành Công an.
1.1.2. Cơ sở pháp lý của các tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em
sự đặt trong sự bảo vệ nghiêm ngặt và tuyệt đối về các hành vi xâm phạm tình
dục. Bất luận trong trường hợp nào (kể cả có sự thoả thuận, thậm chí là sự
chủ động từ phía nạn nhân) thì hành vi quan hệ tình dục của người đã thành
niên với nạn nhân đều bị coi là phạm tội hiếp dâm trẻ em.
Điều luật này không miêu tả cụ thể về các hành vi của người phạm tội
mà dùng các hành vi đã qui định ở tội hiếp dâm (Điều 111) để áp dụng, đó là
các hành vi:
- 14 -
- Dùng vũ lực giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ
được biểu hiện bằng việc dùng sức mạnh vật chất tác động vào người bị hại ở
mức độ làm nạn nhân không còn khả năng kháng cự như đấm, đá, bóp cổ, lột
quần áo... rồi giao cấu với nạn nhân
- Đe doạ dùng vũ lực giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn
của nạn nhân là việc dùng lời nói, cử chỉ uy hiếp tinh thần nạn nhân, làm cho
nạn nhân hiểu rằng nếu không để cho người tội phạm thực hiện hành vi giao
cấu thì vũ lực sẽ xảy ra và nạn nhân sẽ phải chịu những tổn thất về thể chất,
sức khoẻ.
- Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân là
tình trạng nạn nhân không biết có việc bị giao cấu trái ý muốn hoặc không thể
bày tỏ sự chống đối như đang ngủ say, hôn mê, say rượu...
- Dùng thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của
họ là sử dụng sự yếu đuối, non nớt và thiếu kinh nghiệm của nạn nhân để giao
cấu với họ như giao cấu để đuổi tà ma, giao cấu để chữa bệnh...
b)Tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114 Bộ luật Hình sự).
Đối tượng của tội cưỡng dâm trẻ em là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16
tuổi, hành vi khách quan được mô tả trong nội dung Điều 113 Bộ luật Hình
sự, bao gồm:
- Dùng mọi thủ đoạn khiến người phụ thuộc mình là trẻ em
phải miễn cưỡng giao cấu .
- Lệ thuộc trong quan hệ xã hội như thầy giáo với học sinh
- 16 -
d)Tội dâm ô với trẻ em (Điều 116 Bộ luật Hình sự).
Hành vi dâm ô với trẻ em do người đã thành niên thực hiện.
Biểu hiện cụ thể của hành vi dâm ô là:
- Buộc trẻ em thực hiện các động tác tác động vào các bộ
phận sinh dục, các bộ phận khác trên cơ thể người phạm tội để tìm cảm giác
khoái lạc.
- Thực hiện các động tác tác động vào các bộ phận sinh dục
của trẻ em như sờ nắn, xoa bóp, hôn hít ... nhằm tạo cảm giác khoái lạc cho
mình.
Khi thực hiện hành vi dâm ô đối với trẻ em, người phạm tội không có ý
thức thực hiện việc giao cấu và trong thực tế không xảy ra việc giao cấu giữa
người phạm tội với trẻ em.
1.2.ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC
ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ EM TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.2.1. Đặc điểm địa lý, dân cư, kinh tế, văn hóa, xã hội
1. Đặc điểm địa lý, dân cư
Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích tự nhiên là 2.985km
2
chiếm 0,6%
diện tích cả nước, gồm 22 đơn vị hành chính quận, huyện
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong tọa độ địa lý từ 10
o
10’-10
o
38’ vĩ độ
Bắc và 106
o
22’-106
trong trục kinh tế các tỉnh miền Đông Nam Bộ bao gồm thành phố Hồ Chí
Minh - Bình Dương - Đồng Nai - Bà Rịa Vũng Tàu.
Sự phát triển về kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian vừa
qua kéo theo sự phát triển của các loại hình văn hóa. Do ảnh hưởng của cơ
- 18 -
chế thị trường và nếp sống văn hóa đa dạng nên bên cạnh sự phong phú của
các loại hình sinh hoạt văn hóa đáp ứng như cầu hưởng thụ của quần chúng
nhân dân thì những vấn đề phức tạp phát sinh từ đời sống sinh hoạt văn hóa
đang là thách thức không nhỏ với các ngành chức năng trong nỗ lực làm trong
sạch bầu không khí văn hóa thành phố. Hàng trăm tụ điểm ca nhạc, hàng ngàn
nhà hàng karaoke, điểm truy cập Internet mọc lên như nấm sau cơn mưa khắp
thành phố. Bên cạnh sự phong phú của đời sống văn hóa là sự xô bồ, phức tạp
và những hành vi tiêu cực của một bộ phận dân cư, nhất là thanh thiếu niên
vẫn liên tục xảy ra, trong đó có các vụ án xâm phạm tình dục trẻ em do tiếp
thu lối sống hưởng thụ, văn hóa phẩm đồi trụy từ các lọai hình dịch vụ văn
hóa đủ kiểu hiện đang có mặt tại đây. Có thể thấy rõ sự lan tỏa và tầm ảnh
hưởng mạnh mẽ của lối sống thác loạn, bệnh hoạn trong một bộ phận thanh
thiếu niên thành phố đã làm băng hoại những giá trị đạo đức truyền thống của
dân tộc, gây ra những phức tạp về tình hình trật tự trị an nếu chỉ có nỗ lực, cố
gắng lập lại trật tự kỷ cương của ngành Công an là chưa đủ và chưa thể đáp
ứng được yêu cầu đặt ra.
1.2.2. Tình hình tội phạm về TTXH, tội phạm xâm phạm tình dục trẻ
em và nguyên nhân, điều kiện của tình trạng phạm tội này trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh
1. Tình hình tội phạm về TTXH
Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm về TTXH ở thành phố Hồ
Chí Minh xảy ra vẫn hết sức phức tạp, một số loại tội phạm nghiêm trọng có
- 19 -
xu hướng gia tăng. Theo báo cáo của Công an thành phố Hồ Chí Minh thì
trung bình hằng năm số vụ tội phạm được phát hiện trên địa bàn toàn thành
đồng bọn, nếu nhẹ thì chạy tội hoặc đầu thú, còn tội nặng thì trốn luôn.
Thủ phạm thường lợi dụng mối quan hệ quen biết điều nạn nhân đến nơi
hoang vắng thực hiện các hành vi cướp tài sản, hiếp dâm, giao cấu với trẻ
em...xảy ra ở nhiều nơi...Tội phạm năm 2003 và 2004 có giảm theo hướng
tích cực nhưng chưa ổn định...Hậu quả thiệt hại của các loại tội phạm hình sự,
kinh tế, ma tuý...còn rất nghiêm trọng”.
1. Khái niệm, đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ, mối quan hệ giữa
tội phạm học và các môn khoa học khác.
1.1 Khái niệm.
Để đáp ứng nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới phục vụ lợi ích xã
hội, loài người đã không ngừng tìm tòi nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và
xã hội. Điều đó là cơ sở nảy sinh và phát triển nhiều ngành khoa học khác
nhau.
Đã từ lâu, vấn đề đấu tranh ngăn chặn tiến tới làm giảm và loại trừ tội
phạm đã trở thành một trong những mối quan tâm chú ý của các Nhà nước
dưới mọi chế độ chế độ xã hội khác nhau. Để đấu tranh có hiệu quả đối với
các loại tội phạm – hiện tượng xã hội tiêu cực và phức tạp, đòi hỏi con người
cần phải không ngừng nghiên cứu để nhận thức đầy đủ về hiện tượng này. Tội
phạm là gì? Nó được hình thành phát triểnvà tồn tại theo những quy luật nào?
Để đấu tranh với nó cần phải tiến hành bằng những phương pháp tác động ra
sao?...Công việc đó được tiến hành gắn liền với thực tế đấu tranh chống tội
- 21 -
phạm ở mỗi quốc gia, qua mỗi giai đoạn phát triển của xã hội. Kết quả của
quá trình đó đem laị cho loài người những tri thức phong phú cần thiết về
hiện tượng tội phạm và những kinh nghiệm quý báu trong đấu tranh chống tội
phạm.
Những tri thức và kinh nghiệm về tội phạm và phương pháp phòng
chống tội phạm ngày càng được tích luỹ đầy đủ. Bước đầu được phản ánh tản
mạn riêng lẻ, sau đó được đúc rút hệ thống lại và được nghiên cứu tỉ mỉ sâu
sắc hơn trong các tài liệu chuyên khảo của các ngành khoa học pháp lý, khoa
kiên quyết và triệt để chống các loại tội phạm hình sự. Điều đó đang đặt ra
những nhiệm vụ nặng nề cho các nhà nghiên cứu và cán bộ thực tế trong
nghiên cứu tội phạm, xây dựng phương pháp đấu tranh ngăn chặn một cách
có hiệu quả với chúng. Nghiên cứu và phát triển hoàn thiện khoa học tội
phạm là vấn đề có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp đấu tranh chống các loại tội
phạm hình sự, giữ vững an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
1.2 Đối tượng nghiên cứu của Tội phạm học.
Mỗi ngành khoa học có đối tượng nghiên cứu riêng của mình. Đó là
những quy luật tác động trong lĩnh vực mà ngành khoa học đó cần nghiên
cứu. Tội phạm học với tư cách là môn khoa học độc lập, vì vậy cũng có đối
tượng nghiên cứu riêng. Đó là những sự vật hiện tượng liên quan đến hoạt
động tội phạm và phòng ngừa tội phạm.
Trong các tài liệu Tội phạm học của nhiều nước trên thế giới đã được
xác định và phân loại thành những nhóm đối tương nghiên cứu như: nghiên
cứu tội phạm là hiện tượng của xã hội; nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nhân
- 23 -
thân người phạm tội và phòng ngừa tội phạm. Có thể xác nhận rằng việc định
ra đối tượng nghiên cứu của tội phạm như vậy là đúng đắn, bởi vì điều đó
phản ánh được khái quát nội dung nghiên cứu của vấn đề về tội phạm theo
một trình tự hệ thống bao hàm được đầy đủ những vấn đề phản ánh quy luật
hoạt động nhận thức về hiện tượng tội phạm, từ việc xác định khái niệm tội
phạm, phạm vi tình trạng, cấu trúc tội phạm và diễn biến của nó, đến việc đi
sâu nghiên cứu nguyên nhân, điều kiên của tình trạng này, cúng như về nhân
thân người phạm tội, tất cả điều đó nhằm đến mục đích là nghiên cứu tìm tòi
biện pháp, phương tiện phòng ngừa tội phạm. Cách xác định như trên còn cho
thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa nội dung của các nhóm đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu vấn đề này có tác dụng ảnh hưởng với vấn đề khác trong hệ
thống các đối tượng đã nêu, vì vậy để thấy rằng các nhóm đối tượng nghiên
cứu trên có mối quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng tác động lẫn nhau và không cho
phép người nghiên cứu coi nhẹ đối tượng nghiên cứu nào trong việc nghiên
thuận lợi cho việc thực hiện hành vi phạm tội là một trong những nội dung tất
yếu của sự phát triển và tồn tại trong mỗi thời kỳ phát triển của xã hội.
- Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm là tổng hợp các sự vật hiện
tượng tiêu cực xã hội tác động đến con người và là hành vi phạm tội. Vì vậy
cần phải xem xét phân loại một cách khoa học các loại nguyên nhân, điều
kiện khách quan, chủ quan, trực tiếp, dán tiếp, chủ yếu thứ yếu, bên trong,
bên ngoài…điều đó có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận thức tội phạm và
sử dụng biện pháp phòng ngừa chúng.
- 25 -