ĐIỆN TÂM ĐỒ Ở TRẺ EM
TS. BS. Lê Minh Khôi
Trung tâm Tim Mạch, BV Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
I. KHÁC BIỆT CƠ BẢN GIỮA ECG TRẺ EM VÀ NGƯỜI LỚN
Các bác sĩ không chuyên khoa nhi và những bác sĩ nhi khoa trẻ tuổi thường ít có kinh nghiệm
trong việc đọc một bản điện tâm đồ (ECG) trẻ em. Mặc dù những nguyên lý cơ bản về dẫn
truyền trong tim và khử cực cũng giống như ở người lớn nhưng những thay đổi giải phẫu và sinh
lý liên quan đến tuổi ở nhũ nhi và trẻ em có thể tạo nên những khoảng giá trị bình thường rất
khác với người lớn và cũng thay đổi rất nhiều theo tuổi. Nhận thức được điều này là chìa khóa để
có thể diễn dịch thành công một bản ECG nhi khoa.
ECG ở nhũ nhi và trẻ em bình thường rất khác so với ECG ở người lớn. Điểm khác biệt quan
trọng nhất là tình trạng ưu thế thất phải (TP) ở nhũ nhi và đặc biệt là ở trẻ sơ sinh. Ưu thế này
dần dần chuyển sang thất trái (TT) như ở người lớn. Vào khoảng năm thứ 3, ECG trẻ em gần
giống với thanh niên. Sự khác biệt liên quan đến tuổi phản ánh những khác biệt giải phẫu liên
quan đến tuổi: ở sơ sinh và nhũ nhi, TP dày hơn TT và ở người lớn thì TT dày hơn nhiều so với
TP.
Ưu thế TP ở nhũ nhi biểu hiện trên ECG bằng trục tim lệch phải và vector QRS hướng phải
và/hoặc ra trước (nghĩa là sóng R cao ở chuyển đạo aVR và các chuyển đạo trước tim phải, tức là
V
4
R, V
1
và V
2
, và sóng S sâu hơn ở chuyển đạo I và các chuyển đạo trước tim trái như V
5
và V
6
)
so với ECG người lớn.
So sánh một bản ECG ở một trẻ sơ sinh 3 ngày tuổi (Hình 1 trái) so với một bản ECG của người
cũng
như ở V
5
và V
6
.
Hình 1. ECG của một trẻ sơ sinh 3 ngày tuổi khoẻ mạnh (Trái) và ECG của một người trưởng thành trẻ
tuổi (Phải)
Bản ECG bình thường ở người lớn cho thấy một trục QRS gần +60 độ và vector QRS hướng
sang trái, xuống dưới và ra sau được biểu hiện bằng sóng R ưu thế ở các chuyển đạo trước tim
trái và sóng S ưu thế ở các chuyển đạo trước tim phải. Kiểu biểu hiện này được gọi là chuyển
dịch R/S. Sóng T thường hướng ra trước tạo nên một T dương từ V
2
đến V
6
và đôi khi cả ở V
1
.
II. NHỮNG GIÁ TRỊ ECG BÌNH THƯỜNG Ở TRẺ EM
Phần này sẽ bàn luận đến các thông số cơ bản cần thiết trong việc đánh giá một bản ECG. Có
nhiều cách tiếp cận đánh giá khác nhau nhưng mỗi nhà lâm sàng cần chọn cho mình một trình tự
thống nhất khi diễn dịch một bản ECG.
2.1. Nhịp tim
Nhịp xoang là nhịp bình thường ở bất kỳ lứa tuổi nào và được đặc trưng bằng sóng P đi trước
mỗi phức bộ QRS và trục sóng P bình thường (từ 0 đến +90 độ). Tiêu chuẩn sau thường hay bị
bỏ sót trên lâm sàng. Tuy nhiên tiêu chí trục sóng P bình thường lại có vai trò quan trọng trong
phân biệt nhịp xoang với không xoang. Trong nhịp xoang, khoảng PR thường đều nhưng không
nhất thiết bình thường (khoảng PR có thể kéo dài trong nhịp xoang có kèm block nhĩ thất cấp I).
Do nút xoang nhĩ nằm ở phần cao bên phải của khối nhĩ nên hướng của khử cực nhĩ đi từ phần
Giới hạn dưới
Giới hạn trên
Sơ sinh
145
90
180
6 tháng
145
105
185
1 tuổi
132
105
170
4 tuổi
108
72
135
14 tuổi
85
60
120
2.3.1.1. Trục QRS bình thường
Giới hạn bình thường của trục QRS thay đổi theo tuổi. Trẻ sơ sinh có trục lệch phải hơn so với
chuẩn người lớn. Lúc 3 tuổi, trục QRS sẽ xấp xỉ giá trị trung bình của người lớn từ là vào khoảng
+50 độ. Trung bình và giới hạn bình thường của trục QRS theo tuổi được trình bày trong Bảng 2.
Bảng 2. Trung bình và giới hạn bình thường của trục QRS theo tuổi.
Tuổi
Trung bình
Giới hạn dưới
phân nhánh trái trước (trong khoảng -30 đến -90 độ), trong khuyết gối nội mạc hoặc teo
valve ba lá hoặc với block nhánh phải. Trục này hiếm khi gặp ở trẻ bình thường.
2.3.2. Trục sóng T
Trục T cũng được xác định giống như trục QRS. Ở trẻ em bình thường, kể cả sơ sinh, trục T
trung bình là +45 độ với khoảng thay đổi từ 0 đến +90 độ giống như ở người lớn. Điều này có
nghĩa là sóng T dương ở chuyển đạo I và aVF. Sóng T có thể dẹt nhưng không được âm ở các
chuyển đạo này. Trục sóng T nằm ngoài giới hạn này, tức nằm ngoài góc phần tư dưới trái (0 đến
+90 độ) gợi ý bệnh nhân có thể có các bất thường chức năng cơ tim tương tự như đối với bất
thường góc QRS-T.
2.3.3. Góc QRS-T
Góc QRS-T được tạo bởi trục QRS và trục T. Một góc QRS-T lớn hơn 60 độ là bất bình thường
và một góc QRS-T lớn hơn 90 độ là chắc chắn bất thường. Một góc QRS-T rộng bất thường
cộng với một trục T nằm ngoài góc phần tư bình thường (0 đến +90 độ) được xem là phì đại thất
nặng kèm “strain”, bất thường về dần truyền thất và rối loạn chức năng cơ tim do chuyển hoá
hoặc thiếu máu cục bộ.
2.3.4. Khoảng PR
Khoảng PR bình thường thay đổi theo tuổi (Bảng 3). Tuổi càng lớn thì tần số tim càng chậm và
khoảng PR càng dài.
Khoảng PR kéo dài (ví dụ trong block nhĩ thất) có thể gặp trong viêm cơ tim (do thấp tim, do
virus hoặc bạch hầu), ngộ độc digitalis hoặc quinidine, một số bệnh tim bẩm sinh (khiếm khuyết
gối nội mạc, thông liên nhĩ, bất thường Ebstein), một số các rối loạn chức năng cơ tim, tăng kali
máu và có thể ở một trẻ có tim bình thường nhưng tăng kích thích phế vị.
Khoảng PR ngắn gặp trong hội chứng tiền kích thích Wolff-Parkinson-White (WPW), hội chứng
Lown-Ganong-Levine, bệnh cơ tim do tích tụ glycogen, loạn dưỡng cơ Duchenne (hoặc người
thân của bệnh nhân), thất điều Friedreich, u tuyến thượng thận và có thể gặp ở trẻ bình thường.
Giới hạn dưới của giá trị bình thường được trình bày trong phần WPW.
Khoảng PR thay đổi có thể gặp trong chủ nhịp nhĩ lang thang và hiện tượng Wenckebach (block
nhĩ thất cấp II type Mobitz 1).
0.10 (0.12)
0.14 (0.16)
0.15 (0.16)
0.15 (0.17)
0.15 (0.20)
100–120
0.10 (0.12) (0.15)
0.13 (0.16)
0.14 (0.15)
0.15 (0.16)
0.15 (0.19)
120–140
0.10 (0.11)
0.11 (0.14)
0.11 (0.14)
0.12 (0.14)
0.13 (0.15)
0.14 (0.15)
0.15 (0.18)
140–160
0.09 (0.11)
0.10 (0.13)
0.11 (0.13)
6–12 tháng
1–3 tuổi
Giây
0.05 (0.07)
0.055 (0.075)
0.055 (0.075)
0.055 (0.075)
Tần số
3–8 tuổi
8–12 tuổi
12–16 tuổi
Người lớn
Giây
0.06 (0.075)
0.06 (0.085)
0.07 (0.085)
0.08 (0.10)
Khoảng QRS kéo dài trong các bệnh lý được xếp vào nhóm các rối loạn dẫn truyền trong thất
bao gồm block nhánh phải, block nhánh trái, tiền kích thích (ví dụ WPW) và block trong thất
(như trong tăng kali máu, ngộ độc quinidine hay procainamide, xơ hoá cơ tim, rối loạn chức
năng cơ tim do chuyển hoá hay do thiếu máu cục bộ). Loạn nhịp thất (ví dụ ngoại tâm thu thất,
nhanh thất, máy tạo nhịp thất) cũng gây nên QRS giãn rộng. Do thời gian QRS thay đổi theo tuổi
nên việc chẩn đoán block nhánh hay các rối loạn dẫn truyền trong thất khác cũng phải thay đổi
theo tuổi (xem phần rối loạn dẫn truyền trong thất).
2.3.6. Khoảng QT
Khoảng QT chủ yếu thay đổi theo tần số tim. Khoảng QT hiệu chỉnh theo tần số tim (QTc) được
tính theo công thức Bazett:
QTc =
QT đo được
4
R, V
1
, V
2
) và sóng S
sâu hơn sóng R ở các chuyển đạo ngực trái (V
5
,V
6
) trong nhóm tuổi này. Tương tự, tỉ suất R/S (tỉ
số điện thế giữa R và S) cũng lớn ở các chuyển đạo trước ngực phải và nhỏ hơn ở các chuyển
đạo trước ngực trái ở nhũ nhi và trẻ nhỏ.
Bảng 5. Điện thế sóng R và S theo chuyển đạo và theo tuổi: Trung bình (giới hạn bình
thường trên) tính theo mm.
Chuyển đạo
0–1 tháng
1–6 tháng
6–12 tháng
1–3 năm
3–8 năm
8–12 năm
12–16 năm
Người lớn
Điện thế R
I
4 (8)
7 (13)
8 (16)
1 (4)
1 (4)
aVL
2 (7)
4 (8)
5 (10)
5 (10)
3 (10)
3 (10)
3 (12)
3 (9)
aVF
7 (14)
10 (20)
10 (16)
8 (20)
10 (19)
10 (20)
11 (21)
5 (23)
V3R
10 (19)
6 (13)
6 (11)
6 (11)
5 (10)
3 (9)
3 (7)
V4R
20 (32)
23 (38)
26 (39)
21 (35)
12 (33)
V6
5 (15)
13 (22)
13 (23)
13 (23)
15 (26)
17 (26)
14 (23)
10 (21)
Điện thế S
I
5 (10)
4 (9)
4 (9)
3 (8)
2 (8)
2 (8)
2 (8)
1 (6)
V3R
3 (12)
3 (10)
4 (10)
5 (12)
7 (15)
V5
9 (17)
7 (16)
6 (15)
5 (12)
4 (10)
3 (8)
3 (8)
V6
3 (10)
3 (9)
2 (7)
2 (7)
2 (5)
1 (4)
1 (4)
1 (13)
Điện thế bình thường của sóng Q giới hạn trên được trình bày trong Bảng 7. Thời gian bình
thường trung bình của sóng Q là 0,02 giây và không vượt quá 0,03 giây. Sóng Q bất thường có
thể sâu và/hoặc rộng hoặc ở các chuyển đạo vốn không có sóng Q. Sóng Q sâu có thể gặp trong
phì đại thất do quá tải thể tích. Sóng Q rộng và sâu gặp trong nhồi máu cơ tim. Sự hiện diện của
sóng Q ở các chuyển đạo trước tim phải (RVH nặng hoặc đảo ngược thất) hoặc không có sóng Q
ở các chuyển đạo trước tim trái (block nhánh trái hoặc đảo ngược thất) là bất thường. Bảng 6. Tỉ suất R/S: Trung bình và giới hạn trên dưới của giá trị bình thường theo tuổi
Chuyển đạo
0–1 tháng
2
2
1
1
1
V2
Giới hạn trên
0.3
0.3
0.3
0.3
0.05
0.1
0.1
0.1
Trung bình
1
1.2
1
0.8
0.5
0.5
0.5
0.2
Giới hạn dưới
3
4
4
1.5
1.5
S = 0
Bảng 7. Điện thế sóng Q theo chuyển đạo và theo tuổi: Trung bình (giới hạn trên) tính bằng
mm
Chuyển đạo
0–1 tháng
1–6 tháng
6–12 tháng
1–3 năm
3–8 năm
8–12 năm
12–16 năm
Người lớn
III
1.5 (5.5)
1.5 (6.0)
2.1 (6.0)
1.5 (5.0)
1.0 (3.5)
0.6 (3.0)
1.0 (3.0)
0.5 (4)
aVF
1.0 (3.5)
1.0 (3.5)
1.0 (3.5)
1.0 (3.0)
0.5 (3.0)
0.5 (2.5)
0.5 (2.0)
0.5 (2)
3.2. Lớn nhĩ trái
Sóng P giãn rộng và có khấc (với thời gian sóng P > 0,10 giây ở trẻ em; > 0,08 giây ở nhũ nhi) là
tiêu chuẩn để chẩn đoán lớn nhĩ trái hay còn gọi là “P hai lá”. Ở chuyển đạo V
1
, sóng P hai pha
và phần âm kéo dài (Hình 3).
3.3. Lớn cả hai nhĩ
Trong trường hợp lớn cả hai nhĩ, sóng P có sự kết hợp của cả tiêu chuẩn lớn nhĩ phải và lớn nhĩ
trái (Hình 3). Hình 3. Tiêu chuẩn chẩn đoán phì đại nhĩ.
3.4. Tiêu chuẩn chẩn đoán phì đại thất
Phì đại thất gây nên những bất thường ở một hoặc nhiều điểm sau: trục QRS, điện thế QRS, tỉ
suất R/S, trục sóng T và một số biến đổi khác nữa.
1. Những biến đổi trục QRS. Trục QRS thường hướng về thất phì đại. Mặt dù trục lệch phải
gặp trong RVH nhưng trục lệch trái lại gặp trong LVH kiểu tăng tải thể tích mà không
gặp trong kiểu tăng tải áp lực. Một trục lệch trái quá mức thường là do rối loạn dẫn
truyền trong thất (ví dụ block phân nhánh trái trước hoặc trục QRS hướng lên trên).
2. Thay đổi trong điện thế QRS. Về mặt giải phẫu, TP chiếm phần không gian bên phải và
phía trước và thất trái nằm bên trái, ra sau của khối cơ thất. Trong phì đại thất, điện thế
của phức bộ QRS tăng theo hướng tương ứng với thất phì đại. Ở mặt phẳng trán (Hình
4A), LVH cho thấy tăng điện thế R ở các chuyển đạo I, II, aVL, aVF và đôi khi ở chuyển
đạo III, đặc biệt là ở nhũ nhi nhỏ. RVH biểu hiện bằng tăng điện thế R ở các chuyển đạo
aVR và III và tăng điện thế sóng S ở chuyển đạo I. Ở mặt phẳng ngang (Hình 4B), sóng
R cao ở V
4
R, V
1
5. Các biến đổi không đặc hiệu khác.
a. RVH: (1). Một sóng q ở V
1
(kiểu qR hoặc qRs) gợi ý RVH mặc dù biểu hiện này
có thể gặp trong đảo ngược thất. (2). Sóng T dương ở V
1
sau ngày tuổi thứ 3 là
một dấu hiệu chứng tỏ có thể có RVH.
b. LVH: Một sóng Q sâu (>5mm) và/hoặc sóng T cao ở V
5
, V
6
là dấu hiệu của LVH
do quá tải thể tích. Biểu hiện này có thể gặp trong thông liên thất có luồng shunt
lớn.
Hình 4. Biểu diễn các lực thất phải và thất trái trên mặt phẳng trán hoặc trên hệ quy
chiếu sáu trục (A) và trên mặt phẳng nằm ngang (B).
3.5. Tiêu chuẩn chẩn đoán phì đại thất phải
Trong RVH, một số hoặc tất cả các tiêu chuẩn sau có thể hiện diện.
1. Trục lệch phải theo tiêu chuẩn từng lứa tuổi.
2. Tăng điện thế QRS hướng phải và ra trước (nếu không có QRS kéo dài); một phức bộ
QRS rộng kèm tăng điện thế QRS gợi ý rối loạn dẫn truyền thất (ví dụ block nhánh phải)
hơn là do phì đại thất. (a). Sóng R ở V
1
, V
2
hoặc aVR lớn hơn giới hạn bình thường trên
theo tuổi. (b). Sóng S ở chuyển đạo I và V
6
Chẩn đoán một RVH ở trẻ sơ sinh đặc biệt khó khăn vì bình thường ở lứa tuổi này, thất phải luôn
ưu thế. Những dấu hiệu có ích giúp chẩn đoán RVH ở trẻ sơ sinh như sau:
1. Sóng S ở I bằng hoặc lớn hơn 12mm.
2. Sóng R đơn độc (không có S) ở V
1
lớn hơn 10mm.
3. Sóng R ở V
1
lớn hơn 25mm hoặc sóng R ở aVR lớn hơn 8mm.
4. Một kiểu qR ở V
1
(có thể thấy ở 10% trẻ sơ sinh bình thường).
5. Sóng T dương ở V
1
sau 3 ngày tuổi.
6. Trục lệch phải với trục QRS lớn hơn +180 độ.
3.6. Tiêu chuẩn chẩn đoán phì đại thất trái
Trong phì đại thất trái (LVH), một số hoặc tất cả các tiêu chuẩn sau có thể hiện diện.
1. Trục lệch trái so với tuổi.
2. Điện thế QRS ưu thế thất trái (nếu không có QRS kéo dài). (a). Sóng R ở I, II, II, aVL,
V
5
, V
6
lớn hơn giới hạn trên của giá trị bình thường theo tuổi. (b). Sóng S ở V
1
hoặc V
2
lớn hơn giới hạn trên của giá trị bình thường theo tuổi. Nhìn chung, một sự hiện diện của
phenomenon) kèm thời gian QRS bình thường.
IV. CÁC RỐI LOẠN DẪN TRUYỀN TRONG THẤT
Những tình trạng bệnh lý được xếp vào nhóm rối loạn dẫn truyền trong thất có chung một điểm
là thời gian phức bộ QRS kéo dài. Rối loạn dẫn truyền trong thất bao gồm các tình trạng sau:
1. Block nhánh phải và trái.
2. Tiền kích thích (ví dụ tiền kích thích kiểu WPW).
3. Block trong thất.
Trong block nhánh (và nhịp thất), thời gian kéo dài nằm ở phần cuối của phức bộ QRS (nghĩa là
“thoai thoải phần cuối” - terminal slurring). Trong tiền kích thích, phần kéo dài nằm ở phần đầu
của phức bộ QRS (“thoai thoải phần đầu” - initial slurring) tạo nên sóng δ. Trong block trong
thất, phần kéo dài là toàn bộ phức bộ QRS (Hình 5). Thời gian QRS bình thường thay đổi theo
tuổi: ngắn hơn ở nhũ nhi so với trẻ lớn và người lớn. Ở người lớn, một QRS dài hơn 0,1 giây là
tiêu chuẩn chẩn đoán block nhánh hoặc rối loạn dẫn truyền trong thất. Ở nhũ nhi, thời gian QRS
0,08 giây là đủ tiêu chuẩn chẩn đoán block nhánh.
Hình 5. Minh hoạ ba kiểu rối loạn dẫn truyền trong thất. A. Phức bộ QRS bình thường. B. Phức bộ
QRS trong block nhánh phải có kéo dài phần cuối (mũi tên, thoai thoải phần cuối). C. Tiền kích thích
với sóng δ (mũi tên, thoai thoải phần đầu). D. Block trong thất với kéo dài toàn bộ phức bộ QRS.
Thường gặp nhất là block nhánh phải. Mặc dù ít gặp nhưng tiền kích thích WPW là một thực thể
bệnh đã được xác định đặc trưng rõ ràng nên cần được mô tả sơ qua. Block nhánh trái cực kỳ
hiếm gặp ở trẻ em, mặc dù nó thường gặp ở người lớn trong các bệnh lý thiếu máu cục bộ hoặc
bệnh tim cao áp. Block trong thất có liên quan đến các rối loạn chuyển hoá và bệnh cơ tim lan
toả.
4.1. Block nhánh phải
Trong block nhánh phải, dẫn truyền bị chậm lại ở trong nhánh phải làm kéo dài thời gian cần
thiết để khử cực toàn bộ thất phải. Khi thất trái đã khử cực hoàn toàn thì quá trình khử cực của
thất phải vẫn còn đang tiếp diễn. Tình trạng này gây nên sự kéo dài thời gian phức bộ QRS gọi là
thoai thoải phần cuối (Hình 5B) và hiện tượng thoai thoải phần cuối này hướng về bên phải và ra
trước do thất phải nằm bên phải và phía trước trong tương quan với thất trái.
Ở một tim bình thường, quá trình khử cực đồng bộ theo hướng ngược nhau của TP và TT làm
Ý nghĩa bệnh lý của block nhánh phải ở trẻ em khác với người lớn. Trong một số trường hợp
block nhánh phải của trẻ em, nhánh phải nguyên vẹn. Trong thông liên nhĩ, thời gian QRS kéo
dài là do con đường dẫn truyền bị kéo dài bởi thất phải bị giãn hơn là có một tình trạng nghẽn
thực sự ở trên nhánh phải. Mở thất phải trong vá thông liên thất hoặc sửa chữa Tứ chứng Fallot
thường làm đứt mạng lưới Purkinje dưới nội mạc thất phải và gây nên sự kéo dài thời gian QRS
mà không nhất thiết phải làm tổn thương nhánh chính phải mặc dù bản thân nhánh này đôi khi
cũng bị cắt đứt trong phẫu thuật.
Một số bác sĩ nhi khoa lo lắng kiểu biểu hiện rsR’ ở V
1
. Mặc dù ít gặp ở người lớn nhưng kiểu
rsR’ ở V
1
không chỉ là biểu hiện bình thường mà người ta còn trông đợi kiểu biểu hiện này ở nhũ
nhi và trẻ nhỏ miễn là thời gian QRS không kéo dài và điện thế của sóng R tiên phát và thứ phát
không lớn bất thường. Có điều này là bởi vector QRS cuối thường hướng phải và ra trước ở nhũ
nhi và trẻ nhỏ hơn là người lớn.
4.2. Block nhánh trái
Block nhánh trái cực kỳ hiếm gặp ở trẻ em. Trong LBBB, thời gian QRS kéo dài so với tuổi và
phần thoai thoải của phức bộ QRS hướng về trái và ra sau. Không thấy sóng Q ở V
6
. Ngược lại
kiểu QS rất rõ ở V
1
và sóng R cao gặp ở V
6
.
LBBB ở trẻ em có thể do các bệnh tim hoặc phẫu thuật động chạm đến đường thoát thất trái, cắt
cơ vách liên thất và thay valve động mạch chủ. Các bệnh lý khác rất hiếm khi gây LBBB bao
gồm LVH, bệnh hệ thống dẫn truyền tiến triển, viêm cơ tim, bệnh cơ tim, nhồi máu cơ tim và
viêm nội tâm mạc valve động mạch chủ.
Bệnh nhân với tiền kích thích WPW dễ bị cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất (paroxysmal
supraventricular tachycardia-SVT). Nếu bệnh nhân tiền kích thích WPW có tiền sử có cơn nhịp
nhanh kịch phát trên thất thì có quyền chẩn đoán hội chứng WPW. Tiền kích thích WPW có thể
nhầm với các bất thường ECG khác như phì đại thất, RBBB hoặc rối loạn cơ tim. Nếu có sự hiện
diện của tiền kích thích, chẩn đoán phì đại thất không được đảm bảo chính xác. Hiện tượng
chênh QRS lớn thường thấy ở tiền kích thích do sự khử cực không đồng bộ của khối cơ thất chứ
không phải do phì đại thất thực sự.
Hai thể tiền kích thích cũng có thể gây nên nhịp rất nhanh
1. Hội chứng Lown-Ganong-Levine được đặc trưng bởi một khoảng PR ngắn và thời gian
QRS bình thường. Trong trường hợp này, các sợi James (nối cơ nhĩ và bó His) đi tắt qua
nút nhĩ thất và gây nên khoảng PR ngắn nhưng cơ thất lại được khử cực bình thường qua
hệ thống His-Purkinje. Khi không có tiền sử cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất thì một
bản ECG như vậy chỉ nên được gọi đơn giản là khoảng PR ngắn hơn là hội chứng Lown-
Ganong-Levine.
2. Hội chứng tiền kích thích kiểu Mahaim được đặc trưng bởi khoảng PR bình thường và
QRS kéo dài kèm với sóng δ. Có một sợi Mahaim bất thường nối nút nhĩ thất và một
trong hai thất, đi tắt không qua bó His tạo nên một “đoản mạch” (short-circuit) vào thất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dickinson DF. The normal ECG in childhood and adolescence. Heart. 2005;91:1626–
1630.
2. Garekar S, Epstein ML, Kamat D and Singh HR. Electrocardiogram Basics for the Busy
Pediatrician. Clinical Pediatrics. 2006;45:597-604.
3. Goodacre S, McLeod K. Paediatric electrocardiography. In: ABC of clinical
electrocardiography. Editor: Francis et al. BMJ Books. 2003:56-60.
4. O'Connor M, McDaniel N, Brady WJ. The pediatric electrocardiogram. Part I: Age-
related interpretation. American Journal of Emergency Medicine.2008;26:221-228.
5. Park MK. Electrocardiography. In: Pediatric Cardiology for Practitioners 5
th
edition.
2008.