Đổi mới nội dung hoạt động của liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh phú thọ giai đoạn 2015 2020 - Pdf 28

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
HÀ NGỌC ANH
ĐỔI MỚI NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG CỦA
LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT
TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2015-2020
ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI, THÁNG 6 NĂM 2015
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
ĐỀ ÁN
ĐỔI MỚI NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG CỦA
LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT
TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2015-2020
Người thực hiện: Hà Ngọc Anh
Lớp: Cao cấp lý luận Chính trị B3-14 (2014-2015)
Chức vụ: Phó Trưởng Ban Phụ trách Ban Khoa học công nghệ
Đơn vị công tác: Liên hiệp các Hội KHKT tỉnh Phú Thọ
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Văn Thái
HÀ NỘI, THÁNG 6 NĂM 2015
LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện thành công đề án này, ngoài nỗ lực bản thân còn có rất
nhiều sự hỗ trợ, giúp đỡ từ Học viện, cơ quan, thầy cô, gia đình và bạn bè.
Em xin chân thành gửi lời tri ân sâu sắc đến thầy giáo TS. Lê Văn Thái,
là người đã trực tiếp hướng dẫn em thực hiện đề án. Nhờ có sự chỉ bảo tận
tình của thầy, nhờ những kiến thức và kinh nghiệm quý báu thầy truyền đạt
mà em mới có thể hoàn thành được đề án. Đó cũng là quá trình đào sâu kiến
thức, kinh nghiệm giúp em cả trong quá trình công tác sau này.
Em cũng xin cám ơn quý thầy, cô ở các Khoa, Phòng của Học viện chính trị
khu vực I đã giảng dạy, hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập tại Học viện.
Xin chân thành cảm ơn các bạn học lớp B3-14 đã luôn bên cạnh, giúp

1. Tính cấp thiết
Xét trong bối cảnh thực tiễn và toàn diện của đời sống xã hội cho thấy
vai trò của tri thức đã, đang chi phối và luôn đứng ở vị trí trung tâm của mọi
quá trình vận động, phát triển của xã hội nhất là trong giai đoạn đất nước ta
và toàn nhân loại đang bước vào thời kỳ của nền kinh tế tri thức. Vì vậy, vấn
đề tri thức và trình độ khoa học công nghệ có vai trò to lớn đối với sự tồn tại
và phát triển của quốc gia, dân tộc. Việc phát huy sức mạnh tổng hợp của
mọi tầng lớp nhân dân trong đó có việc phát huy vai trò, trí tuệ của đội ngũ
trí thức trở thành một trong những chủ trương, chính sách quan trọng mang
tính chiến lược của Đảng và Nhà nước.
Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 06/8/2008 của Ban Chấp hành Trung
ương Khoá X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước đã khẳng định: "Trong mọi thời đại, tri
thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt
sáng tạo và truyền bá tri thức. Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng
của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành
nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong
chiến lược phát triển".
Chỉ thị số 42-CT/TW, ngày 16/4/2010 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi
mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các hội Khoa
học và Kỹ thuật Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, khẳng định: "Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt
Nam có hệ thống từ Trung ương đến các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương là tổ chức chính trị - xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”…;
“Phát triển Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam là trách nhiệm
của Đảng, Nhà nước và đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ"; “Đến năm
1
2020, xây dựng Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trở thành
tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh ở Trung ương và các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương, giữ vai trò nòng cốt trong tập hợp, đoàn kết và phát

chuyên môn nghiệp vụ và bảo vệ lợi ích chính đáng theo quy định của pháp luật.
- Xây dựng chương trình phối hợp hoạt động giữa Liên hiệp hội với các
sở, ngành, đoàn thể liên quan và giữa đảng đoàn liên hiệp hội với trên 70%
đảng bộ các huyện trên địa bàn tỉnh.
- Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ cơ quan
thường trực liên hiệp hội đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ.
3. Giới hạn của đề án
- Về đối tượng : Hoạt động của Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật
tỉnh Phú Thọ.
- Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
- Về thời gian: Tổng kết thực tiễn 5 năm 2011-2015; Thời gian tổ chức
thực hiện Đề án 2015-2020.
3
B. NỘI DUNG
1. Căn cứ để xây dựng đề án
1.1 Cơ sở khoa học
Năm 1983, tại Hà Nội đã tiến hành Đại hội thành lập Liên hiệp các Hội
Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Sau 30 năm xây dựng và phát triển, nay Liên
hiệp hội Việt Nam đã được thừa nhận là tổ chức chính trị - xã hội của đội ngũ
trí thức KH&CN Việt Nam, có hệ thống tổ chức từ Trung ương tới tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
nằm trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Năm 2002 Liên hiệp các hội Khoa học và kỹ thuật tỉnh Phú Thọ được
thành lập với 6 hội thành viên, tuy nhiên chính thức đi vào hoạt động năm
2004 trên cơ sở tự nguyện, tự giác của các thành viên Ban chấp hành, ban
Thường vụ. Đến năm 2008 sau đại hội đại biểu lần thứ II, cơ quan thường
trực đã được tỉnh quan tâm kiện toàn tổ chức bộ máy và đầu tư kinh phí hoạt
động. Sau đại hội lần thứ III năm 2013 Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ
thuật tỉnh tiếp tục nhận được sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh, chức năng, nhiệm
vụ được quy định cụ thể trong điều lệ được UBND tỉnh Phú Thọ phê duyệt:

xây dựng xã hội học tập, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
+ Tham gia các hoạt động phát triển cộng đồng, xoá đói giảm nghèo,
chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
- Thực hiện công tác vận động trí thức khoa học và công nghệ:
5
+ Phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức trách
nhiệm công dân, tinh thần hợp tác, tính cộng đồng, tính trung thực và đạo đức
nghề nghiệp.
+ Tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đường lối, chủ trương, chính sách và
pháp luật của Đảng, Nhà nước.
+ Vận động trí thức khoa học và công nghệ là trí thức ngoài tỉnh và
người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào công cuộc xây dựng quê hương
và bảo vệ Tổ quốc.
- Thực hiện vai trò thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh:
+ Phối hợp với các tổ chức thành viên khác của Mặt trận triển khai các
hoạt động chung nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp và xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc.
+ Phản ánh nguyện vọng và ý kiến đóng góp của đội ngũ trí thức khoa
học và công nghệ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh.
Tăng cường hợp tác với các hội, các tổ chức phi chính phủ theo quy
định của pháp luật.
1.2. Cơ sở chính trị, pháp lý
1.2.1. Quan điểm của Đảng
- Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 11/4/1988 về củng cố tổ chức và đẩy mạnh
hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam;
- Thông báo số 37-TB/TW ngày 20/11/1992 về ý kiến của Ban Bí thư về tổ
chức và hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam;
- Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 11/11/1998 về đẩy mạnh hoạt động của
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam;
- Thông báo Số 163-TB/TW ngày 21/8/1998 về ý kiến của Thường vụ Bộ

- Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003, Nghị định của Chính
phủ Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội;
- Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định
về tổ chức, hoạt động và quản lý hội;
- Quyết định số 14/2014/QĐ-TTg ngày 14/02/2014 của Thủ Tướng
Chính phủ về hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp
các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.
1.2.3. Quan điểm, chính sách của tỉnh Phú Thọ
a. Quan điểm chỉ đạo, lãnh đạo của Tỉnh ủy
- Kết luận số 391-KL/TU ngày 03/5/2000 của Thường trực Tỉnh ủy về
việc thành lập Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ;
- Báo cáo số 167-BC/TU ngày 04/01/2005 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy
về báo cáo sơ kết hai năm thực hiện kết luận Hội nghị lần thứ Sáu Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa IX về khoa học công nghệ;
- Thông báo số 09-TB/TU ngày 28/02/2006 của Thường trực Tỉnh ủy
Phú Thọ Về việc thông báo kết luận của Thường trực Tỉnh ủy về kết quả 5
năm thực hiện Kết luận số 391-KL/TU của Thường trực Tỉnh ủy về thành lập
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ;
- Thông báo kết luận số 244/TB/KL-TU ngày 13/11/2007 của Thường trực
Tỉnh ủy về việc đồng ý kiện toàn tổ chức, bộ máy lãnh đạo của Liên hiệp các
Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ theo mô hình bộ máy chuyên trách;
- Thông báo số 384-TB/TU ngày 30/5/2008 về việc Thông báo kết luận
của Thường trực Tỉnh ủy về Đề án kiện toàn tổ chức bộ máy và nội dung hoạt
động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ;
- Thông báo 693-TB/TU ngày 23/7/2009, thông báo kết luận của Phó Bí
thư thường trực Tỉnh ủy về kết quả 1 năm thực hiện kiện toàn tổ chức bộ máy và
nội dung hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ.
8
- Chương trình hành động số 51-CTr/TU ngày 16/8/2010 của Tỉnh Ủy về
thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 16/4/2010, Chỉ thị của Bộ Chính trị

sắt Hà Nội - Lào Cai…). Đây được coi là những điều kiện thuận lợi cơ bản,
những lợi thế so sánh cho việc phát triển kinh tế - xã hội của Phú Thọ.
Phú Thọ có tổng diện tích tự nhiên 3.519,56 km
2
, dân số gần 1,4 triệu
người, gồm 13 huyện, thành, thị trong đó có 01 thành phố (đô thị loại I), 01 thị
xã (đô thị loại III) và 11 huyện.
1.3.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Là một tỉnh có điểm xuất phát thấp, thuần nông cộng với những khó
khăn của một tỉnh mới tái lập, kết cấu hạ tầng về giao thông nhìn chung vẫn
còn nhiều yếu kém, công nghiệp hầu như chưa được mở rộng và phát triển,
ngoài những khu công nghiệp được hình thành từ những năm 60 của thế kỷ
trước. Vì vậy, Phú Thọ được coi là một trong những tỉnh nghèo và khó khăn
trong vùng, ngân sách vẫn còn phụ thuộc lớn vào sự hỗ trợ của ngân sách
Trung ương. Tuy nhiên Phú Thọ có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trong khu vực
giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc, là vùng có
nền kinh tế năng động và thị trường nội địa rộng lớn; cùng với sự quan tâm
đầu tư phát triển của Đảng và Nhà nước trong những năm qua và sự năng
động của lãnh đạo các cấp, tỉnh Phú Thọ đã có nhiều đổi mới, phát triển, đời
sống nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao. Cơ cấu kinh tế của
tỉnh chuyển dịch theo hướng tích cực như: nông - lâm - thủy sản chiếm
27,4%; công nghiệp - xây dựng chiếm 40,9%; dịch vụ chiếm 31,7%; thu nhập
bình quân đầu người liên tục tăng, năm sau cao hơn năm, năm 2013 đạt 22,5
triệu đồng/năm.
Tình hình cụ thể trên các mặt như sau:
10
- Trong lĩnh vực Nông nghiệp: Là một tỉnh thuần nông nên nông nghiệp
vẫn là ngành kinh tế chính của tỉnh. Trong những năm qua, tỉnh Phú Thọ đã
có nhiều chủ trương chính sách để phát triển các lĩnh vực nông nghiệp trọng
điểm như chương trình phát triển cây lượng thực, cây ăn quả, chương trình

tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được tăng cường; các hoạt động
giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề được quan tâm, tỷ lệ lao động qua đào
tạo đạt 49%, giải quyết việc làm 22,1 nghìn người, tạo việc làm mới 14
nghìn người, xuất khẩu lao động đạt 2.500 người/năm.
Mạng lưới y tế tiếp tục được củng cố và phát triển, các bệnh viện đa khoa
tuyến tỉnh, tuyến huyện tiếp tục được đầu tư, thiết bị y tế từng bước được trang
bị hiện đại. Chất lượng khám chữa bệnh tiếp tục được nâng lên, giảm số ca
chuyển bệnh nhân lên tuyến trên; công tác dân số, gia đình và trẻ em được
quan tâm hơn, tỉ lệ phát triển dân số duy trì ở mức ổn định.
- Trong lĩnh vực Văn hóa - Thể dục thể thao: Đời sống văn hoá, thể
thao ở cơ sở phát triển mạnh, các hoạt động văn hóa cơ sở và phong trào
toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tiếp tục được quan tâm chỉ
đạo; công tác xã hội hóa, vận động nhân dân xây dựng các thiết chế văn
hóa ở khu dân cư đạt kết quả tốt, đến hết năm 2013 toàn tỉnh có 2.860 nhà
văn hóa, tỷ lệ khu dân cư có nhà văn hóa đạt 99,1%. Phong trào thể dục
thể thao quần chúng tiếp tục phát triển, tỷ lệ nhân dân tham gia tập luyện
thể dục thể thao đạt 27,8%, gia đình thể thao đạt 22,7%.
- Trong lĩnh vực Quốc phòng - An ninh: Công tác quân sự, quốc phòng
địa phương được triển khai tích cực, duy trì thực hiện nghiêm chế độ sẵn sàng
chiến đấu, phòng chống thiên tai. Thực hiện tốt phong trào toàn dân tham gia
12
xây dựng, bảo vệ an ninh tổ quốc. Tình hình an ninh quốc phòng, trật tự an
toàn xã hội được giữ vững trên địa bàn tỉnh được giữ vững.
Những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội trên của tỉnh Phú Thọ đã có
sự tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh nói chung và chiến lược xây dựng nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ
trí thức, cán bộ khoa học kỹ thuật và hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa
học và Kỹ thuật tỉnh trong thời gian qua nói riêng.
1.3.2. Tình hình hoạt động của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật
tỉnh Phú Thọ.

thành quốc sách hàng đầu.
Tỉnh Phú Thọ là một tỉnh Trung du miền núi, có nhiều dân tộc khác nhau
cùng sinh sống, để phát huy vai trò của khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh Phú Thọ, đạt được mục tiêu đã
đề ra trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh đến năm 2020, việc
đổi mới nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các hội Liên hiệp khoa
học và kỹ thuật tỉnh Phú Thọ đang đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết, có cả
những thuận lợi, khó khăn và thách thức.
Qua hơn 11 năm hoạt động, nhất là sau 7 năm hoạt động theo mô hình
chuyên trách (2008 - 2015), Liên hiệp hội tỉnh đã có nhiều đổi mới trong công
tác chỉ đạo, điều hành; thực hiện có kết quả bước đầu những nhiệm vụ trọng
tâm đề ra theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Công tác xây dựng, củng cố
và phát triển tổ chức hội được duy trì và có bước phát triển mới, số hội thành
viên gia nhập Liên hiệp hội tăng nhanh, Liên hiệp hội tập hợp ngày càng đông
đảo lực lượng trí thức trong và ngoài tỉnh. Công tác tuyên truyền, tổ chức các
hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh hàng năm thu được nhiều kết quả tốt, được Liên
14
hiệp hội Việt Nam đánh giá cao. Hoạt động thông tin, tuyên truyền, đào tạo
và phổ biến kiến thức được đẩy mạnh dưới nhiều hình thức và quy mô khác
nhau. Hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội đó được triển khai,
bước đầu đạt được một số kết quả tích cực. Hệ thống Liên hiệp hội đó thực
hiện nhiều đề tài, dự án khoa học công nghệ các cấp. Công tác xã hội hoá
trong các lĩnh vực KH&CN, GD&ĐT, bảo vệ môi trường, y tế, xoá đói giảm
nghèo, phát triển cộng đồng đạt được nhiều kết quả tốt. Mối quan hệ giữa
Liên hiệp hội với các hội thành viên dần được cải thiện. Các hội thành viên đã
chủ động, linh hoạt hơn trong tổ chức hoạt động của hội. Liên hiệp hội đã thể
hiện được vai trò là tổ chức chính trị - xã hội của đội ngũ trí thức KH&CN,
làm đầu mối giữa các hội thành viên với các cơ quan của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh
và các tổ chức khác, vị thế của Liên hiệp hội từng bước được nâng lên.
Hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Phú Thọ còn

tin, tuyên truyền, đào tạo và phổ biến kiến thức dưới nhiều hình thức và
quy mô khác nhau. Trong những năm qua, hệ thống Liên hiệp hội đã tham
gia viết 1.094 tin, bài đăng trên các báo, tạp chí Trung ương và địa
phương; tổ chức được 985 lớp (cuộc, khoá) hội thảo, tập huấn tuyên
truyền và phổ biến kiến thức cho người dân; duy trì và xuất bản 16 số ấn
phẩm ‘Trí thức Đất Tổ”; đưa Website trithucdatto.vn vào hoạt động phục
vụ tích cực cho công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến kiến thức.
Thông qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, hội thảo, sinh hoạt
câu lạc bộ, cung cấp tài liệu, Liên hiệp hội và các hội thành viên đã cung
cấp thông tin, kiến thức giúp cho hội viên và nhân dân hiểu rõ hơn những
chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, của tỉnh, góp
16
phần nâng cao sự hiểu biết về khoa học, công nghệ, kỹ thuật chuyên môn
cho hội viên và cộng đồng dân cư.
2.2.1.2. Hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Cơ quan thường trực Liên hiệp hội đã tham mưu thực hiện được một số
nhiệm vụ tư vấn, phản biện và giám định xã hội các chương trình, đề án quan
trọng của tỉnh như: Tư vấn phản biện Quy hoạch nông thôn tỉnh Phú Thọ đến
năm 2020; Quy hoạch xây dựng thành phố Việt Trì trở thành thành phố lễ hội
về với cội nguồn dân tộc Việt Nam; giám định xã hội các dự án khoa học
công nghệ phục vụ phát triển nông thôn miền núi của Bộ Khoa học và Công
nghệ trên địa bàn tỉnh; tư vấn trong việc bảo vệ và phát triển thương hiệu
Bưởi đặc sản Đoan Hùng; giám định xã hội về quản lý quy hoạch một số đô
thị trên địa bàn tỉnh; phản biện đề án Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử
dụng khoáng sản đến năm 2015, định hướng đến năm 2025.
Bên cạnh đó, Liên hiệp hội luôn tích cực nghiên cứu, đóng góp ý kiến
vào các đề tài, dự án, các chương trình công tác lớn, trọng tâm tại các hội nghị
do Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh mời dự họp.
Các hội thành viên, Trung tâm trực thuộc đã tham gia tư vấn, phản biện
và giám định xã hội được hàng nghìn vụ việc về các lĩnh vực pháp luật, xây

tác ở các cơ quan Trung ương và các tỉnh trong cả nước có học hàm, học vị
Tiến sĩ, Giáo sư, phó Giáo sư. Đã sử dụng nhiều trí thức tham gia một số hoạt
động khoa học - công nghệ; thực hiện nhiệm vụ tư vấn, phản biện và giám
định xã hội cho một số đề án phát triển kinh tế - xã hội và dự án khoa học
công nghệ; tham gia công tác thông tin, tuyên truyền trên tập san và Website
của Liên hiệp hội; công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học kỹ
thuật cho hội viên và nông dân thông qua các lớp tập huấn, đào tạo.
18
- Công tác tổ chức hội thi, giải thưởng:
Công tác tuyên truyền, tổ chức các hội thi, giải thưởng sáng tạo khoa
học công nghệ hàng năm thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, được Liên
hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đánh giá cao và tặng thưởng
nhiều Bằng khen.
Phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật trong lao động, sản xuất, trong
học tập của các cháu Thanh, thiếu niên nhi đồng ngày một mở rộng. Số lượng
các công trình, giải pháp tham dự các hội thi, cuộc thi ngày càng tăng; số
lượng đoạt giải ngày càng nhiều hơn qua các năm.
Hàng năm Liên hiệp hội tỉnh đã phối hợp tốt với các sở, ngành liên quan
đồng tổ chức thành công Lễ tôn vinh sáng tạo khoa học - kỹ thuật tỉnh Phú Thọ.
2.2.1.5. Hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế
Liên hiệp hội tỉnh đã phối hợp hiệu quả với Trung tâm phát triển nông
thôn bền vững triển khai Dự án "Phát triển mô hình quản lý và sử dụng đất có
sự tham gia của người dân" tại 3 xã (Vĩnh Phú, Bảo Thanh, Trạm Thản) thuộc
huyện Phù Ninh, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại cơ sở thực hiện dự án.
Là thành viên tham gia mạng lưới Sông ngòi Việt Nam, mạng an ninh
lương thực và giảm nghèo, Liên hiệp hội tỉnh đã có một số đóng góp vào các
hoạt động khoa học công nghệ, phổ biến kiến thức, xây dựng các dự án phát
triển của hai mạng lưới trên.
Bước đầu đã tiếp cận một số tổ chức phi Chính phủ quốc tế để kêu gọi
đầu tư vào tỉnh Phú Thọ.

thường xuyên, với định mức tương đương với các đơn vị sự nghiệp, nhưng
chưa được giao định mức kinh phí như các tổ chức chính trị - xã hội khác, do
vậy kinh phí hoạt động hàng năm của Liên hiệp cũng gặp nhiều khó khăn.
20

Trích đoạn Nâng cao vai trò, ý thức trách nhiệm của đội ngũ trí thức đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status