ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ANH SƠNXÂY DỰNG MỘT SỐ PHƯƠNG ÁN TRẢ LỜI
TRONG MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4 CHƯƠNG TRÌNH VNEN
NHẰM DẠY PHÂN HÓA ĐỐI TƯỢNG HỌC SINHHỌ VÀ TÊN: NGUYỄN THỊ HÒA.
CHỨC VỤ : PHÓ HIỆU TRƯỞNG
ĐƠN VỊ CÔNG TÁC: TRƯỜNG TIỂU HỌC LĨNH SƠN
ANH SƠN- NGHỆ AN
THÁNG 4 NĂM 2014
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1
“XÂY DỰNG MỘT SỐ PHƯƠNG ÁN TRẢ LỜI TRONG MÔN TIẾNG
VIỆT LỚP 4 CHƯƠNG TRÌNH VNEN NHẰM DẠY PHÂN HÓA ĐỐI
TƯỢNG CỦA HỌC SINH”
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ.
Xuất phát từ yêu cầu đảm bảo thực hiện tốt tất cả các mục đích dạy học,
đồng thời khuyến khích phát triển tối đa và tối ưu những khả năng của từng cá
nhân trên cơ sở kết hợp giữa giáo dục “đại trà” với giáo dục “mũi nhọn”, giữa phổ
cập với nâng cao trong dạy học. Như vậy có thể xem dạy học phân hoá là một hình
thức dạy học mà người dạy dựa vào những khác biệt về năng lực, sở thích cũng
như các điều kiện học tập của mỗi cá nhân người học để điều chỉnh cách dạy phù
hợp nhằm phát triển tốt nhất cho từng cá nhân người học đảm bảo hiệu quả giáo
dục cao nhất. Dạy học phân hoá được coi là một hướng đổi mới phương pháp dạy
học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh được hiểu là
quá trình giáo viên tổ chức và hướng dẫn các hoạt động học tập của học sinh bao
gồm: Huy động mọi khả năng của từng HS để tự HS tìm tòi, khám phá ra những
thấy vấn đề nêu lên rất gần gũi với mình. Không khí lớp học vui, tò mò, chờ đợi,
thích thú. Huy động vốn hiểu biết, kinh nghiệm có sẵn của HS để chuẩn bị học bài
mới. HS trải qua tình huống có vấn đề, trong đó chứa đựng những nội dung kiến
thức, những thao tác, kỹ năng để làm nảy sinh kiến thức mới. Giáo viên biết cách
xử lí các tình huống có thể gặp trong quá trình dạy học: Các HS yếu, nhóm yếu.
Nhóm làm việc với tiến độ nhanh.
Để mọi người nhận thấy đây là một phương pháp học tập mới đối với cả
người dạy và người học những nhà quản lí, nhà giáo luôn luôn nắm bắt được đầy
đủ các thông tin về dạy học theo chương trình Tiểu học mới. Làm thế nào để cho
người học chủ động sáng tạo, độc lập trong việc chiếm lĩnh kiến thức mới. Trong
quá trình thực hiện triển khai chương trình Tiểu học mới ở Việt Nam có rất nhiều
luồng ý kiến khác nhau. Trong những buổi họp phụ huynh có rất nhiều ý kiến được
đưa ra. Có ý kiến cho rằng từ trước đến giờ việc dạy chữ và dạy kiến thức là nhiệm
vụ và trách nhiệm của thầy cô giáo ở trường chứ phụ huynh có biết đâu mà dạy. Có
phụ huynh đưa ra ý kiến dạy con khó lắm và dạy như thế nào đây khi họ chưa có
phương pháp, kĩ thuật hướng dẫn con học. Cũng có nhiều phụ huynh còn lo lắng,
băn khoăn không biết phương pháp này sẽ mang lại được hiệu quả như thế nào? Và
không ít có phụ huynh đã nói rằng học theo chương trình này thì làm sao mà vào
được trường chuyên lớp chọn. Một số giáo viên tâm huyết khi dạy chương trình
này còn cho rằng sẽ hạn chế rất nhiều học sinh giỏi. Hơn thế nữa trong xu thế hiện
nay đa số học sinh lại thích học toán hơn học Tiếng Việt bởi chỉ một lẽ đối với học
sinh Tiểu học là học Tiếng Việt ít khi được học sinh giỏi. Để nâng cao chất lượng
dạy học nói chung và môn Tiếng Việt Tiểu học nói riêng, yêu cầu đối với giáo viên
là phải dạy học phân hóa, quan tâm đến mọi đối tượng học sinh trong lớp. Làm thế
nào để trong cùng một tiết dạy, học sinh yếu kém không bị quá tải, học sinh khá
giỏi lại vẫn hứng thú với việc học tập và phát huy được hết khả năng của bản thân
là một việc làm không ít khó khăn đối với đa số giáo viên tiểu học hiện nay. Rất
nhiều, rất nhiều quan tâm lo lắng của các cấp các ngành. Với những băn khoăn như
vậy, là người cán bộ quản lí phụ trách chuyên môn tôi luôn trăn trở và suy nghĩ tìm
hiểu sâu về môn Tiếng việt lớp 4 chương trình VNEN với sáng kiến kinh nghiệm:
2. Giáo viên:
Đại da số giáo viên nắm chắc nội dung chương trình, chuẩn kiến thức kĩ
năng của môn học. Có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng nhiều đồng chí
đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp huyện cấp Tỉnh nhiều năm liên tục. Có ý thức
học hỏi chuyên môn.
Đã có nhiều phương pháp chú ý đến dạy phân hóa đối tượng học sinh nhưng
chỉ dạy phân hóa cụ thể theo từng buổi học riêng là chính chưa chú ý đến tận từng
học sinh để phân hóa đối tượng sát với từng học sinh.
Đại đa số chưa có ý thức chuẩn bị các tình huống sư phạm xẩy ra trên lớp
học thực tế, chưa chuẩn bị tốt các phương án trả lời của học sinh để dạy phân hóa
đối tượng học sinh mà chỉ dạy đến đâu xử lí đến đó nên hiệu quả giờ dạy chưa cao.
4
GV chưa phát hiện kịp thời học sinh khá giỏi, HS trung bình và học sinh
yếu trong một nội dung bài học cụ thể nào đó để bổ trợ kiến thức và nâng cao kiến
thức cho học sinh.
Một số giáo viên còn lúng túng trong khâu xác định và lựa chọn phương
pháp dạy học phù hợp cho từng dạng bài cụ thể của từng phân môn trong môn
Tiếng Việt lớp 4, có đổi mới phương pháp dạy học và tìm tòi nhưng chỉ mang tính
hình thức và chưa chuẩn bị tốt hệ thống câu hỏi gợi mở, một số phương án trả lời
để giúp học sinh yếu đạt được chuẩn kiến thức kĩ năng và học sinh giỏi phát huy
hết khả năng của mình.
Một thực trạng dẫn đến việc dạy học các phân môn trong môn Tiếng Việt
lớp 4 chưa đạt hiệu quả như mong muốn là trình độ của học sinh trong lớp không
đồng đều. Đây là lí do chính để giáo viên lựa chọn phương pháp dạy học phân hóa.
Một số giáo viên vận dụng chuẩn kiến thức kĩ năng còn mang tính máy
móc, chưa phù hợp với tình hình thực tế, chưa chú ý nhiều đến đối tượng học sinh
yếu, tổ chức hoạt động nhóm chưa có hiệu quả làm hạn chế cơ hội giao lưu học tập
lẫn nhau giữa học sinh; một số giáo viên vốn từ còn ít, giải nghĩa từ chưa chính xác
nên chủ yếu bám vào sách giáo viên làm cho tiết học ít sinh động.
Đa số giáo viên chưa chú ý đến dạy phân hóa đối tượng học sinh trong một
sử dụng các biện pháp để đưa những học sinh đó có đủ khả năng đạt được những
yêu cầu về chuẩn kiến thức kĩ năng. Đối với những học sinh này, cần phải hạ thấp
yêu cầu so với học sinh diện đại trà, giáo viên cần kèm riêng từng cá nhân để các
em có thể theo kịp trình độ chung của học sinh cả lớp.
c. Cần bổ sung bài tập cho học sinh khá, giỏi.
Trong dạy học phân hoá, một yêu cầu rất quan trọng đối với giáo viên là cần
phải bổ sung những kiến thức nâng cao cho học sinh khá, giỏi bằng những dạng
bài tập mang tính phát triển tư duy. Đối với những học sinh này, ngoài việc đạt
được yêu cầu về chuẩn kiến thức kĩ năng còn phải vận dụng các kiến thức đã học
vào việc giải các bài tập nâng cao. Các dạng bài tập bổ sung cần đảm bảo yêu cầu
sát với chuẩn kiến thức kĩ năng và phải vừa sức với học sinh.
d. Đảm bảo được tính phân hoá đối tượng học sinh, phát huy tính tích
cực trong dạy học.
e. Đảm bảo việc dạy và học vừa đạt chất lượng thực sự, vừa phù hợp với
tính vừa sức, với sự phát triển tư duy và tâm sinh lý lứa tuổi HS tiểu học.
g. GV có trách nhiệm trong việc giảng dạy ở mỗi tiết học.
Điều cốt yếu là HS phải học được và được học. Tuyệt đối không để HS yếu
kém đứng bên lề mỗi giờ dạy của lớp học. Đồng thời giúp HS khá giỏi có điều kiện
phát huy tính tích cực chủ động học tập và khả năng sáng tạo của các em.
2. Một số biện pháp khi dạy phân hóa đối tượng học sinh trong môn
Tiếng Việt.
2.1. Nghiên cứu kỹ nội dung chương trình và bài dạy, xác định đúng mục
đích yêu cầu của tiết dạy.
- Cần nghiên cứu kỹ nội dung chương trình để có hệ thống chuỗi kiến thức, xác lập
được mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến thức cũ giữa kiến thức của phân môn
này với kiến thức của phân môn khác để lựa chọn nội dung dạy học cho phù hợp.
- Nắm vững mục tiêu của bài học, nghiên cứu kỹ nội dung của bài dạy để lựa chọn
phương pháp và hình thức dạy học cho phù hợp , hiệu quả.
2.2. Xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh.
6
tượng HS khá giỏi không được quan tâm mà việc quan tâm đến đối tượng HS
khá giỏi chỉ hạn chế tạo điều kiện cho nhóm này phát huy tối đa tính tự giác,
độc lập, sáng tạo của các em.
2.4. Tổ chức các hình thức phân hoá trên lớp
Trong quá trình dạy học tuỳ vào nội dung bài học, vào những thời điểm
thích hợp có thể thực hiện những pha phân hoá tạm thời, tổ chức cho HS hoạt
động một cách phân hoá. Biện pháp này được áp dụng khi trình độ HS có sự
sai khác lớn, có nguy cơ yêu cầu quá cao hoặc quá thấp nếu cứ dạy học đồng
loạt. Vậy, phân hóa ngay trong từng tiết học chủ yếu là:
7
- Nếu còn nhiều thời gian: Đưa ra một số yêu cầu cao hơn đối với các em có
kết quả đúng, tốt, đạt yêu cầu. Những em có kết quả sai, chưa đạt yêu cầu thì được
làm lại với sự trợ giúp bằng cách gợi ra nguyên nhân dẫn đến kết quả sai, chưa đạt
yêu cầu để các em thực hiện lại đúng quy trình và đưa ra kết quả đúng.
- Sắp hết thời gian: Cho những học sinh hoàn thành và có kết quả đúng
chuyển sang hoạt động tiếp theo. Học sinh có kết quả sai, chưa đạt yêu cầu cùng
với những học sinh chưa hoàn thành tiếp tục thực hiện hoạt động với sự trợ giúp
của giáo viên.
- Hết thời gian: Những học sinh hoàn thành mà kết quả sai hoặc chưa đạt thì
chấp nhận sự khác nhau về thời gian và tốc độ học của học sinh, vẫn cho chuyển
sang hoạt động tiếp theo. Tuy nhiên cần ghi lại những nguyên nhân, biện pháp đã
trợ giúp, tiếp tục hỗ trợ riêng học sinh hoàn thành nhiệm vụ và theo dõi thường
xuyên để hỗ trợ kịp thời trong từng hoạt động và động viên những tiến bộ trong
quá trình học tập tiếp theo của học sinh.
Trong những lúc này, HS được giao những nhiệm vụ phân hoá thường thể hiện
bởi bài tập phân hoá tạo điều kiện giao lưu gây tác động qua lại cho người học.
III. GỢI Ý MỘT SỐ PHƯƠNG ÁN TRẢ LỜI NHẰM PHÂN HÓA ĐỐI TƯỢNG
TRONG MỘT SỐ BÀI HỌC CỤ THỂ MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4.
Bài 1A. Thương người như thể thương thân.
Hoạt động 5: Hoạt động thực hành.
- Học sinh khá có thể trả lời: Câu chuyện nói lên mẹ con bà góa thương người
được người khác thương và muốn giải thích nguồn gốc hồ Ba Bể,
- Học sinh giỏi có thể trả lời: Qua câu chuyện sự tích hồ Ba Bể muốn nói với ta
con người ở hiền thì gặp lành, luôn quan tâm giúp đỡ người khác là một việc làm
tốt đẹp, thương người thì người thương, đồng thời muốn giải thích nguồn gốc của
hồ Ba Bể.
Bài 3A: Thông cảm và chia sẻ.
Hoạt động 5: Hoạt động cơ bản.
Sau khi học sinh thảo luận nhóm trả lời các câu hỏi xong giáo viên có thể hướng
dẫn và đưa thêm câu hỏi phụ cho học sinh:
Qua bài đọc: “Thư thăm bạn” em biết được điều gì?
+ HS trung bình chỉ yêu cầu trả lời: bạn Lương biết viết thư thăm hỏi bạn Hồng hỏi
thăm về tình hình lũ lụt khi đọc được tin trên báo.
+ Học sinh khá giỏi: Bạn Lương biết cảm thông chia sẻ với bạn Hồng khi biết được tin
gia đình bạn Hồng mất mát đau thương khi lũ lụt xẩy ra với gia đình và quê hương bạn.
Bài 3B: Cho và nhận.
Hoạt động 5: Hoạt động cơ bản.
Sau khi học sinh thực hiện xong hoạt động 5 giáo viên có thể hỏi thêm.
Theo em ông lão đã nhận được gì từ cậu bé?
+ Học sinh trung bình yêu cầu trả lời: Ông lão đã nhận được tình cảm chân thành
thật thà từ cậu bé.
+ Học sinh khá giỏi: Ông lão đã nhận được sự cảm thông chia sẻ, tình cảm thương
người chân thành thật thà từ cậu bé.
9
Hoạt động 3: Hoạt động thực hành.
Chuyển lời dẫn trực tiếp đoạn văn sau thành lời dẫn gián tiếp:
Bác thợ hỏi Hòe:
- Cháu có thích làm thợ xây không?
Hòe đáp:
- Cháu thích lắm!
vào vở chỉ cần 1-2 sự việc là được.
- HS khá giỏi yêu cầu nói được cốt truyện và ghi vào vở cốt truyện đầy đủ.
+ Trong gia đình bố đi vắng chỉ có 2 mẹ con ở nhà với nhau, bà mẹ bị ốm nặng.
+ Người con chăm sóc mẹ rất chu đáo mà mẹ vẫn không khỏi bệnh.
+ Muốn chữa khỏi bệnh cho mẹ phải có một loại thuốc rất quý và hiểm.
+ Bỗng nhiên có một bà Tiên xuất hiện, bà thấy được tình yêu thương của cô bé
đối với mẹ bà đã giúp cô bé tìm được thuốc chữa bệnh cho mẹ, mẹ khỏi bệnh.
Bài 5C: Ở hiền gặp lành
Hoạt động 3: Hoạt động cơ bản.
- Học sinh làm bài tập 2 và 3: Đối với học sinh trung bình chỉ yêu cầu học sinh tìm
được mỗi ý a,b,c, 1 danh từ và đặt câu với danh từ tìm được và ghi vào vở.
- Đối với học sinh khá giỏi yêu cầu tìm được mỗi ý a,b,c, 2-3 danh từ và đặt câu
với các danh từ tìm được và ghi vào vở.
Hoạt động thực hành : Sau khi học sinh thực hiện hết các bài tập hoạt động thực
hành giáo viên có thể yêu cầu học sinh khá giỏi kể lại câu chuyện: “ Gà trống và
Cáo” bằng văn xuôi.
Bài 6 B: Không nên nói dối.
Hoạt động thực hành; Kể câu chuyện đã nghe hoặc đã đọc về người biết coi trọng
và giữ gìn phẩm giá, không để ai coi thường mình.
- HS trung bình chỉ cần kể được câu chuyện đầy đủ nội dung theo cốt truyện là
được chưa yêu cầu cử chỉ điệu bộ, ngôn ngữ kể.
- HS khá giỏi yêu cầu học sinh kể lại câu chuyện đầy đủ nội dung theo cốt truyện
và có cử chỉ điệu bộ thể hiện ở nét mặt, ngôn ngữ kể rõ ràng rành mạch.
Bài 6 C: Trung thực- Tự trọng.
Hoạt động cơ bản: Học sinh làm bài tập 5,6. Đối với học sinh trung bình chỉ yêu
cầu học sinh tìm và viết vào phiếu các từ vào theo nhóm thích hợp rồi đặt câu với
từ tìm được ghi vào vở 1-3 câu là được.
- HS khá giỏi yêu cầu học sinh ghép được các từ vào nhóm cho thích hợp và đặt
câu với mỗi từ vừa ghép được và ghi vào vở đầy đủ các câu vừa đặt được.
Bài 7 A: Ước mơ của anh chiến sĩ.
Crit- xti- an. I-uri. Mo- rít-xơ. Mát- téc-lích. Xanh Pê-téc-pua.Tô- ki- ô. Nia-ga-ra.
- Sau khi phân biệt xong học sinh mới có thể viết đúng chính tả.
Bài 8 C: Thời gian- Không gian.
Hoạt động 1 hoạt động thực hành.
Xếp các từ sau vào 2 nhóm: nhóm từ ngữ chỉ trình tự câu chuyện xẩy ra có trình tự
trước sau; nhóm từ ngữ cho biết câu chuyện kể theo trình tự thời gian đồng thời.
- HS trung bình chỉ cần yêu cầu thảo luận trong nhóm và trình bày trước nhóm là được.
- Học sinh khá giỏi yêu câu thảo luận nhóm trình bày trước nhóm và ghi lại vào
trong vở 2 nhóm đã phân biệt được:
12
Nhóm từ ngữ cho biết câu chuyện kể theo trình tự thời gian đồng thời: trong khi
đó, trong khi … thì, cùng lúc đó.
Nhóm từ ngữ chỉ trình tự câu chuyện xẩy ra có trình tự trước sau: Có một hôm, rồi
một hôm, có lần, sau đó, ít lâu sau, thời gian trôi qua.
- Vận dụng các từ ngữ ở 2 nhóm trên để kể câu chuyện Ở Vương quốc tương lai
theo tình tự không gian.
Bài 9A: Những điều em mơ ước.
Hoạt động 5 hoạt động cơ bản:
Sau khi học sinh trao đổi nhóm bài 5 giáo viên có thể hỏi thêm: Em có suy nghĩ gì
về mong ước học nghề của bạn Cương.
- HS trung bình chỉ cần trả lời được: Mong muốn học nghề rèn vì Cương muốn
kiếm tiền để giúp đỡ mẹ.
- HS khá giỏi: Mong muốn học nghề rèn vì Cương thương mẹ, muốn kiếm tiền để
giúp mẹ và Cương hiểu ra nghề nào dù làm thầy hay làm thợ đều đáng trọng như
nhau chỉ có ai trộm cắp ăn bám mới đáng bị coi thường.
Hoạt động 4 hoạt động thực hành:
Sau khi học sinh xong thảo luận nhóm GV có thể hỏi ngược lại: Tìm các từ ngữ
cùng nghĩa với từ: “ Ước mơ” HS có thể nêu được các từ: mơ ước, ước mơ, ước
nguyện, mong ước, mong muốn, ước muốn, cầu mong, mơ tưởng, cầu nguyện,
mộng tưởng, ao ước, mộng ước, ước mộng, mơ mộng….
+ Nếu tôi không chăm chỉ học tập thì tôi sẽ thua kém bạn bè.
- Đặt 1 câu: Có từ biểu thị sự việc, hiện tượng diễn ra trước thời điểm hiện tại.
+ Ví dụ: Em đã học thuộc bài thơ “ cô giáo” từ khi lớp hai.
+ Ngày hôm qua, tôi đã đến nhà bạn chơi.
Bài 11B. Bền gan vững chí
Bài 5: Học sinh kể chuyện.
Sau khi học sinh kể chuyện giáo viên có thể hỏi những chi tiết quan trọng
trong câu chuyện bàn chân kì diệu:
+ Kí bị liệt 2 tay và vẫn xin vào học.
+ Cô giáo không dám nhận.
+ Ngọc kí tập viết bằng chân.
+ Kí được nhận vào học.
+ Cô giáo và các bạn giúp đỡ Kí.
+ Kí được thưởng huy hiệu của Bác Hồ
- Câu chuyện khuyên em điều gì?( dù khó khăn, vất vả, gặp hoàn cảnh khó khăn
đến mấy cũng vượt qua để cố gắng học tập).
Bài 12 A. Những con người giàu nghị lực.
Bài 5. Hoạt động cơ bản.
Câu 1: Học qua bài đọc: “ Vua tàu thuỷ” Bạch Thái Bưởi em biết được điều gì?
14
- Học sinh TB: Biết được Vua tàu thuỷ Bạch Thái Bưởi là người tài giỏi có nghị
lực, biết cách kinh doanh.
- Học sinh khá giỏi: Qua bài đọc Vua tàu thuỷ Bạch Thái Bưởi em biết được Bạch
Thái Bưởi là một người giàu nghị lực có ý chí vươn lên lúc gặp khó khăn, biết khơi
dậy lòng tự hào của dân tộc để đi đến thành công trong cuộc sống.
Bài 1: Hoạt động thực hành.
Xếp thẻ từ có tiếng “ chí” vào 2 nhóm.
- GV hướng dẫn học sinh để xếp được 2 nhóm cho phù hợp HS phải hiểu:
- Chí: Chỉ mức độ cao nhất, rất, hết sức có thể thêm từ “ rất” ở đằng trước: Chí
phải- rất phải; chí thân- rất thân. Rất chí tình; rất chí lí.
Bài 1( Hoạt động thực hành). Sau khi học sinh làm xong bài 1 đối với học sinh
trung bình giáo viên có thể cho học sinh ghi vào vở.
+ Đối với học sinh khá giỏi có thể thêm nội dung đặt câu hỏi để tự hỏi mình?
Ví dụ: Sao dạo này tôi đau đầu thế nhỉ ?
Bài 2: Hoạt động thực hành.
+ Đối với học sinh trung bình chỉ cần yêu cầu học sinh viết được mở bài trực tiếp,
kết bài không mở rộng nhưng dùng lời lẽ khác đi.
Ví dụ: Cao Bá Quát lúc còn đi học chữ viết rất xấu nên đi thi khi nào cũng bị điểm kém.
Kết bài: Nhờ khổ công rèn luyện Cao Bá Quát luyện chữ và đã trở thành người
văn hay chữ tốt.
+ Đối với học sinh khá giỏi giáo viên hướng dẫn và yêu cầu học sinh viết mở bài
gián tiếp và kết bài mở rộng.
Ví dụ: Mở bài gián tiếp: Ở lớp tôi có mấy bạn chữ viết xấu và không chịu khó học.
Cô giáo thường kể lại câu chuyện Văn hay chữ tốt để tiếp thêm nghị lực cho các
bạn trong quá trình học tập câu chuyện là thế này:
Kết bài mở rộng: Câu chuyện Văn hay chữ tốt đã khuyên em phải biết kiên trì nhẫn
nại trong khi tập viết cũng như trong học tập để đi đến thành công như Cao Bá
Quát nổi danh là văn hay chữ tốt.
Bài 13 C: Mỗi câu chuyện nói với chúng ta điều gì?
Hoạt động 2( Hoạt động cơ bản). Giáo viên hướng dẫn học sinh sau khi đọc xong
chuyện: Hai bàn tay. đặt 3 câu hỏi trả lời về nội dung câu chuyện.
+ Học sinh trung bình chỉ yêu cầu nêu được 3 câu hỏi và trả lời?
- Bác Hồ có người bạn tên là gì?( Bác Hồ có người bạn tên là Lê).
- Bác Hồ hỏi bác Lê điều gì?( anh có yêu nước không?).
- Bác Lê hỏi Bác Hồ điều gì?( Lấy đâu tiền mà đi ra nước ngoài?).
- Bác Hồ đã nói gì với Bác Lê?( Đưa hai bản tay và nói tiền đây).
+ Học sinh khá giỏi yêu cầu trả lời được 3 câu hỏi khái quát được toàn bộ nội dung
câu chuyện.
- Bác Hồ hỏi bác Lê những điều gì?( Anh có yêu nước không? Anh có thể giữ bí
mật không? Anh có muốn đi với tôi không?).
dậy nâng niu trên tay và đưa về nhà cô Bé……
+ HS khá giỏi có thể yêu câu kể lại câu chuyện bằng lời kể của mình hoặc bằng lời
của búp Bê. Ví dụ: Tôi là một cô bé Búp Bê xinh xắn và rất đáng yêu. Ban đầu tôi
được chị Ngà nâng niu chiều chuộng nhưng tính chị Ngà ham chơi và chóng chán
chị chơi với tôi khi chán chị vứt tôi lên nóc tủ mà không hề hay biết tôi buồn và cô
17
đơn. Mùa đông đến tôi buồn và cô đơn quá không có ai chơi cùng. Một hôm vào
một buổi tối mùa đông giá rét tôi từ biệt chị ra đi….
Bài 6. Hoạt động thực hành.
Viết câu văn tả hình ảnh trong bài: Mưa.
+ HS trung bình chỉ yêu cầu viết được câu văn ví dụ: Những ánh chớp rạch ngang
trời khô khốc. Cây dừa dang tay để bơi trong mưa. Mưa ù ù như xay lúa. Bố đi làm
về trong mưa.
+ Học sinh khá giỏi yêu cầu viết câu văn có hình ảnh, có dùng từ nhân hoá. Ví dụ:
Những ánh chớp rạch ngang trời khô khốc làm sáng cả một vùng trời. Thế rồi ông
Sấm ghé xuống sân nhà em. Ông cất tiếng cười khanh khách. Cây dừa trước sân
những tàu lá dang tay múa lượn như khua gươm trong mưa. Những ngọn mùng tơi
như nhảy múa. Mưa xối xả, ù ù như xay lúa……
Bài 14 B: Đồ vật quanh em.
Bài 1: Hoạt động thực hành.
+ HS trung bình chỉ yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi theo 3 ý ở HDH.
+ HS khá giỏi có thể yêu cầu HS viết đoạn văn tả cái trống trường em: Tả bao quát,
đến tả từng chi tiết nổi bật, về hình dáng, dùng từ ngữ có hình ảnh, dùng từ nhân
hoá để tả cái trống
Bài 3: Hoạt động thực hành.
- Các câu hỏi sau được dùng để làm gì?
+ HS trung bình yêu cầu chỉ ra các câu hỏi: Có nín đi không? Vì sao cậu lại làm
phiền lòng cô giáo như vây? Em vẽ như thế này mà bảo con ngựa à? Chú có thể
xem giúp tôi mấy giờ có xe đi miền Đông không?( HS có thể trả lời câu hỏi được
dùng để làm gì 1 trong 4 câu là được).
Dựa vào kết quả quan sát, lập dàn ý cho bài văn miêu tả đồ chơi mà em chọn.
+ HS trung bình chỉ yêu cầu chỉ cần làm đúng như gợi ý ở hướng dẫn học.
+ Học sinh khá giỏi: ngoài yêu cầu như hướng dẫn học cần bổ sung tả từng bộ
phận kết hợp miêu tả cảm xúc của mình khi tả. Ví dụ: Nhìn cánh tay Búp Bê cử
động tôi như nghĩ rằng Búp Bê đang vẫy chào tôi….
Bài 3. Hoạt động thực hành.
Cách hỏi và đáp trong mỗi đoạn đối thoại dưới đây thể hiện quan hệ giữa các
nhân vật và tính cách của mỗi nhân vật như thế nào?( hướng dẫn cho học sinh
trung bình tìm được nội dung trả lời bằng cách gợi ý).
Câu a. Quan hệ giữa 2 nhân vật gần gũi và thân thiện cởi mở.
- Tính cách của thầy giáo: ân cần, điềm đạm, hoà nhã….
- Tính cách cậu bé: nhút nhát, lịch sự, lễ phép.
Câu b. Quan hệ giữa 2 nhân vật không thân thiện không tôn trọng, là kẻ thù không
đội trời chung.
- Tính cách Lu-I: Mạnh mẽ, quyết đoán, gan dạ…
- Tính cách tên sĩ quan: Hống hách, độc ác….
19
Bài 4. Hoạt động thực hành.
Đọc đoạn văn và trả lời câu hỏi.
Đoạn văn trên có mấy câu hỏi? Mỗi câu hỏi để hỏi ai?
- HD học sinh trung bình trả lời: Đoạn văn trên có 4 câu hỏi.
H1.Chuyện gì xẩy ra với ông cụ thế nhỉ?(Câu hỏi tự hỏi mình không cần câu trả lời).
H2. Chắc là cụ bị ốm?( Câu hỏi tự hỏi mình không cần câu trả lời).
H3. Hay là cụ đánh mất cái gì? ( Câu hỏi tự hỏi mình không cần câu trả lời).
H4. Thưa cụ, chúng cháu có thể giúp gì cụ không ạ?( Hỏi ông cụ).
Câu hỏi 4 thể hiện rõ thái độ tế nhị, thông cảm sẵn lòng giúp đỡ cụ già của các bạn nhỏ.
Bài 16 B: Trò chơi lễ hội ở quê hương.
Hoạt động 6: Hoạt động thực hành.
Học sinh thảo luận nhóm giới thiệu trò chơi lễ hội ở quê mình.
- HS suy nghĩ và làm việc cá nhân sau đó cùng kể trước nhóm về trò chơi hoặc lễ
Ví dụ: Cuộc đời ai ai cũng phải có bạn. Tình bạn đã giúp ta vượt qua mọi khó khăn.
+ HS khá giỏi có thể yêu cầu cao hơn viết được 2 đến 3 câu kể trình bày ý kiến của
mình về tình bạn các câu nội dung liên kết nhau không rời rạc.
Ví dụ: Trong mỗi chúng ta ai ai cũng có bạn. Nhưng tình bạn được hiểu như thế
nào là tình bạn tốt. Có bạn giúp cho ta thấy cuộc sống vui tươi hơn. Bạn cùng ta
học tập, cùng ta vui chơi. Những lúc ta buồn bạn cùng ta tâm sự. Cuộc sống chúng
ta không thể không có bạn. Nhưng chúng ta phải biết chọn bạn để chơi.
Bài 17 A: Rất nhiều mặt trăng.
Hoạt động 5: Hoạt động cơ bản. Sau khi học sinh hoàn thành bài tập 5 giáo viên
có thể nêu câu hỏi phụ để nâng cao kiến thức cho HS.
Học qua bài tập đọc: Rất nhiều mặt trăng em hiểu được điều gì?
- HS trung bình chỉ cần trả lời: Mong ước của công chúa nhỏ bé đã thực hiện được.
- HS khá giỏi: Học qua bài đọc: “ Rất nhiều mặt trăng” em hiểu được mong ước
của cô công chúa nhỏ bé đã thực hiện được và khuyên chúng ta luôn luôn gần gũi
trẻ thơ và hiểu được tâm tư nguyện vọng của trẻ.
Hoạt động 2: Hoạt động thực hành.
- Viết đoạn văn kể về công việc trong một buổi sáng của mọi người trong gia đình mình.
+ HS trung bình chỉ yêu cầu học sinh viết ra được các câu kể về công việc của các
thành viên gia đình mình vào buổi sáng.
Ví dụ: Buổi sáng, mẹ mình đi làm sớm. Bà ở nhà giúp đỡ gia đình làm việc vặt.
Mình đi học còn em đi nhà trẻ.
+ HS khá giỏi yêu cầu học sinh viết được đoạn văn có sử dụng các câu kể nội dung
các câu liên kết với nhau chặt chẽ.
Ví dụ: Buổi sáng cả gia đình mình làm việc thật là vui. Bố mẹ cùng ra đồng làm
ruộng. Bố cày ruộng, mẹ be bờ. Cu Tí ở nhà chơi cùng bà ngoại. Trời mưa cô tôi
mải miết đan cho xong chiếc áo len tặng tôi.Tôi thì đến trường đi học. Buổi sáng
gia đình tôi thật là bận rộn phải không các bạn.
Bài 17 B: Một phát minh nho nhỏ.
21
Hoạt động 1: Hoạt động thực hành.
- Để xác định câu kể ai làm gì, phân biệt ranh giới của các câu giáo viên hỏi thêm:
H. Trong các câu kể ai làm gì ở trên tìm các hoạt động chính của các sự vật được
nêu ra ở chủ ngữ?
22
- Một đàn ngỗng/ vươn dài cổ, chúi mỏ về phía trước, định đớp bọn trẻ.( Có 3 hoạt
động chính: vươn, chúi, đớp).
- Em/ liền nhặt một cành xoan, xua đàn ngỗng ra xa.( Có 2 hoạt động chính của sự
vật nêu ra ở chủ ngữ: nhặt, xua).
Từ những câu hỏi bổ sung như trên học sinh sẽ dễ dàng xác định ranh giới
của các câu trong đoạn văn không bị nhầm lẫn.
Hoạt động 1: Hoạt động thực hành.
Sau khi học sinh làm xong bài tập 1: Tìm các câu kể ai làm gì gạch dưới chủ ngữ
của các câu vừa tìm được.Nếu học sinh xác định cả câu: “Những sinh hoạt của
ngày mới bắt đầu” là câu kể ai làm gì thì giáo viên khắc sâu thêm đó không phải là
câu kể ai làm gì? Vì Từ bắt đầu này chỉ trạng thái các sinh hoạt của mọi vật
Bài 19 B: Cổ tích về loài người.
Hoạt động 5: Kể chuyện: Bác đánh cá và gã hung thần.
- Học sinh trung bình chỉ yêu cầu kể được câu chuyện đúng nội dung và các chi tiết
chính là được.
Ví dụ: Đoạn 1. Ngày xưa ở một làng nọ có một bác chuyên làm nghề đánh cá. Một
hôm bác đi đánh cá thả mẻ lưới đầu tiên khi kéo lên bác thầy lưới nặng bất ngờ
trong đó có một chiếc bình bằng đồng to kín mít.
- Học sinh khá giỏi yêu cầu kể câu chuyện có thêm ngôn ngữ của người kể, điệu bộ
cử chỉ khi kể phù hợp với nhân vật và nội dung câu chuyện.
Ví dụ: Đoạn 1. Ngày xưa ở một làng vùng biển có một bác ngư dân chuyên làm nghề
đánh cá. Nhân ngày đầu xuân ngày mở màn đầu tiên cho đánh bắt cá trong năm bác
thả mẻ lưới đầu tiên khi kéo lên bác thầy lưới rất nặng. Bác rất tò mò và nghĩ chắc
chắn ràng trời đất phù hộ cho gia đình bác làm ăn trong năm. Nhưng thật bất ngờ bất
ngờ trong lưới không có cá mà chỉ có một chiếc bình bằng đồng to kín mít.
Bài 20 A: Chuyện về những người tài giỏi.
xanh biếc bốn mùa. Cánh đồng rộng thẳng cánh cò bay. Đường làng ngõ xóm đều
được bê tông hóa sạch đẹp. Mỗi đoạn đường đều được mang tên của một tổ chức
chăm sóc và bảo quản. Các bạn trong chi đội của tôi cùng sinh hoạt đội trên địa
bàn dân cư cũng nhận chăm sóc bảo quản hàng cây hai bên đường nữa đấy. Quê tôi
còn nổi tiếng nghề trồng dâu nuôi tằm ươm tơ dệt lụa. Các công trình điện, đường,
trường, trạm được xây dựng rất khang trang đẹp đẽ
Bài 21 A: Những công dân ưu tú.
Hoạt động 1,2 hoạt động thực hành.
- HS trung bình chỉ yêu cầu làm hoàn thành nội dung ở tài liệu HDH đặt câu kể ai
thế nào? Viết các câu vừa đặt vào vở? gạch chân dưới vị ngữ các câu đó.
- HS khá giỏi hoàn thành bài tập 1,2 giáo viên cho thêm bài tập bổ sung:
Xác định các các câu sau thuộc câu kiểu câu gì? Xác định vị ngữ trong các câu đó?
Thuốc này hút thơm. Rau này ăn mát. Các chị mặc những chiếc váy đủ màu sắc.
HS thường dễ nhầm các câu trên là câu kể ai làm gì? Vì có các động từ: Hút, ăn,
mặc GV khắc sâu cho học sinh thơm, mát chỉ tính chất của thuốc, rau; còn: “ mặc
những chiếc váy đủ màu sắc” là chỉ trạng thái
Bài 22 A: Hương vị hấp dẫn.
24
Hoạt động 5: Hoạt động cơ bản.
- HS trung bình chỉ yêu cầu hoàn thành nội dung ở HDH là đủ.
- HS khá giỏi GV có thể thêm câu hỏi bổ sung: Nêu nội dung chính của bài văn?
Bài văn miêu tả hương thơm và vẻ đẹp của hoa, quả sầu riêng một loài trái quý của miền Nam.
Hoạt động 2 hoạt động thực hành:
- HS trung bình chỉ yêu cầu đặt được 4 câu nói về một loại quả mà em thích.
- HS khá giỏi yêu cầu cao hơn có thể viết một đoạn văn 5 đến 8 câu một đoạn văn
viết về một loại quả mà em thích đúng theo thể loại văn miêu tả.
Vườn nhà tôi có nhiều loài cây trái khác nhau. Nhưng tôi thích nhất là cây
cam ông nội tôi trồng trước vườn nhà. Cây cam không cao như cây xoài cây nhãn
chỉ độ hai mét thôi mà cành lá sum suê. Năm nào cũng vậy cứ vào mùa xuân cây
cam nở hoa trắng xóa mùi thơm thoang thoảng không sặc mùi như hương cau