SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THẠCH THÀNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY
HỌC PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4
TRƯỜNG TIỂU HỌC THẠCH QUẢNG 2
Người thực hiện: Đặng Thị Loan
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thạch Quảng 2,
Thạch Thành, Thanh
Hóa
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tiếng việt
THẠCH THÀNH, NĂM 2017
MỤC LỤC
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2
2.1. Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
2
2.1.1. Vị trí vai trò của phân môn Luyện từ và câu.
2
2.1.2. Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu
3
2.1.3. Xét về tâm lý lứa tuổi
3
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
4
2.2.1. Thực trạng của việc dạy và học phân môn Luyện từ và câu
4
Lớp 4 Trường tiểu học Thạch Quảng 2
2.2.2. Kết quả của thực trạng
5
2.3. Các giải pháp tổ chức thực hiện
7
2.3.1. Các giải pháp thực hiện ở lớp 4A
7
2.3.2. Các biện pháp tổ chức thực hiện ở lớp 4A
7
2.3.2.1. Khơi gợi sự tò mò, nuôi dưỡng hứng thú học tập cho học
7
sinh.
2.3.2.2. Hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu
8
Tiếng Việt có vai trò đặc biệt quan trọng trong cộng đồng người Việt Nam. Trong
cuộc sống, Tiếng Việt là vốn ngôn ngữ phát triển toàn diện nhất, có khả năng đáp
ứng mọi nhu cầu về giao tiếp trong xã hội. Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình
thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt chính là góp phần
hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.
Ở tường Tiểu học việc dạy cho các em biết Tiếng Việt, hiểu Tiếng Việt, biết
sử dụng Tiếng Việt và giỏi Tiếng Việt là vô cùng cần thiết đối với mỗi giáo viên
trực tiếp đứng lớp.
Có thể nói môn Tiếng Việt trong chương trình bậc Tiểu học giúp học sinh
biết đọc thông viết thạo, biết sử dụng từ ngữ một cách chuẩn xác và có kĩ năng
giao tiếp trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Những kiến thức của môn Tiếng
Việt là tiền đề là cơ sở cho học sinh tiếp cận với các môn học khác. Việc dạy và
học môn Tiếng Việt trong nhà trường luôn được chú trọng ngay từ lớp đầu cấp.
Đặc biệt trong bộ môn Tiếng Việt là phân môn Luyện từ và câu có một vị trí rất
quan trọng, là chìa khoá mở ra kho tàng văn hoá trên mọi lĩnh vực đời sống xã
hội của con người. Hơn nữa phân môn Luyện từ và câu còn có nhiệm vụ cung cấp
những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và rèn luyện kĩ năng dùng từ đặt câu (nói viết), kĩ năng đọc cho học sinh. Mục tiêu của phân môn Luyện từ và câu lớp 4 là
giúp học sinh:
- Một là: “Mở rộng, hệ thống hoá vốn từ trang bị cho học sinh một số hiểu
biết sơ giản về từ và câu”. [1]
- Hai là: “Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng
dấu câu.” [2]
- Ba là: “Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng và nói thành câu,
có ý thức sử dụng Tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp”. [3]
Trường Tiểu học Thạch Quảng 2 là một trường vùng cao trong huyện, học
sinh thuộc đồng bào dân tộc Mường chiếm gần 50%. Qua thực tế dạy học Lớp 4
nhiều năm liền, tôi thường nhận thấy tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của các em.
Việc sử dụng vốn từ trong học tập và trong giao tiếp của các em còn nhiều hạn
chế. Các em gặp khó khăn để nắm được kiến thức khi giáo viên hướng dẫn và
càng khó khắc sâu mạch kiến thức đó. Không chuyển thành kĩ năng, kĩ xảo trong
năng cơ bản góp phần hình thình nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ
nghĩa. Bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm của người công dân, chuẩn bị
cho học sinh tiếp tục học THCS” [4]
Phân môn Luyện từ và câu là một môn học giữ vị trí quan trọng trong
chương trình Tiếng Việt lớp 4. Ngay từ đầu của hoạt động học tập ở trường, học
sinh đã được làm quen với lý thuyết của từ và câu. Sau đó chương trình được mở
rộng thêm và nâng cao dần để phục vụ cho nhu cầu ngày một tăng trong cuộc
sống của các em cũng như trong lao động, học tập và giao tiếp. Chính vì vậy, dạy
Luyện từ và câu có vị trí rất quan trọng, không có vốn từ đầy đủ thì không thể
nắm được ngôn ngữ để biến nó thành một phương pháp giao tiếp. Việc dạy từ và
câu giúp học sinh nắm được tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện học tập phát triển toàn
diện. Khả năng giáo dục nhiều mặt của Luyện từ và câu là rất to lớn. Nó có nhiều
khả năng để phát triển ngôn ngữ, tư duy logíc và các năng lực trí tuệ như trừu
tượng hoá, khái quát hoá, phân tích tổng hợp... và các phẩm chất đạo đức như
tính cẩn thận, cần cù. Ngoài ra phân môn Luyện từ và câu còn có vai trò hướng
dẫn cho học sinh kĩ năng nghe, nói, đọc, viết.
Luyện từ và câu là môn học nền tảng để học sinh học các môn học khác
trong tất cả các cấp học sau cũng như trong lao động và giao tiếp trong cuộc
sống, bởi nó giúp học sinh có năng lực nói, viết đúng, chính xác. Từ đó sử dụng
Tiếng Việt một cách thành thạo làm công cụ tư duy để học, giao tiếp và lao động.
Ngoài ra, nội dung chương trình của phân môn Luyện từ và câu ở tiểu học
được xây dựng phù hợp với yêu cầu phát triển lời nói của học sinh, giúp các em
mở rộng thêm kiến thức trong quá trình học tập, lao động và giao tiếp ngày một
4
tốt hơn, tiến bộ hơn, đạt kết quả cao hơn. Như vậy phân môn Luyện từ và câu có
vị trí quan trọng trong quá trình phát triển tư duy ngôn ngữ cho học sinh.
2.1.2. Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu.
“Dạy phân môn Luyện từ và câu ở trường Tiểu học nói chung và ở lớp 4 nói
Đặc điểm tâm lí của học sinh dân tộc thiểu số còn được thể hiện ở tư duy
ngôn ngữ, logíc dừng lại ở mức độ trực quan cụ thể. Hứng thú là một khâu quan
trọng, là một hiện tượng trong tâm lý đời sống mỗi người. Hứng thú tạo điều kiện
cho con người học tập lao động được tốt hơn. Nhà văn M.Goóc ki nói "Thiên tài
nảy nở từ tình yêu đối với công việc". Việc bồi dưỡng hứng thú học tập môn
Tiếng Việt - Phân môn Luyện từ và câu lớp 4 là một việc làm cần thiết.
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
2.2.1. Thực trạng của việc dạy và học phân môn Luyện từ và câu Lớp 4
Trường tiểu học Thạch Quảng 2.
5
2.2.1.1. Đối với nhà trường:
Nhà trường luôn quan tâm về chất lượng giáo dục và các phong trào hoạt
động thể dục thể thao, văn nghệ, kể chuyện. Nhưng bên cạnh đó tôi còn nhận
thấy:
- Nhà trường chỉ đạo công tác chuyên môn xây dựng nội dung các buổi sinh
hoạt chuyên môn còn chưa quan tâm đến phương pháp dạy phân môn Luyện từ
và câu. Sinh hoạt tổ còn chưa có chuyên đề Luyện từ và câu lớp 4.
- Chưa chú trọng xây dựng giờ dạy minh họa về phân môn Luyện từ và câu
để giáo viên được góp ý, xây dựng tiết dạy,trao đổi học hỏi đồng nghiệp.
- Đối với môn tiếng Việt, ngoài các tiết dạy học ở buổi chính khóa, nhà
trường còn bố trí cho học sinh được học ở buổi hai (trong đó giáo viên dành 1tiết
cho Luyện từ và câu). Như vậy, thời gian còn hạn chế để học sinh thực hành ôn
tập thêm các bài tập và củng cố kiến thức về Luyện từ và câu.
2.2.1.2. Đối với giáo viên:
- Hầu hết giáo viên chưa hiểu hết vị trí, tầm quan trọng, tác dụng của phân
môn Luyện từ và câu nên chưa dành nhiều thời gian để nghiên cứu phân môn này.
- Thực tế khi giảng dạy nhiều giáo viên còn chưa nghiên cứu kỹ, sử dụng
phương pháp dạy học chưa linh hoạt. Phân môn Luyện từ và câu là phần kiến
2016 (Đề bài có phụ lục kèm theo).
Kết quả thu được như sau:
Lớp Số học
Tốt
sinh
SL
TL%
Đạt yêu cầu
Chưa đạt yêu cầu
SL
TL%
SL
TL%
4A
30
2
6.6
19
63.3
9
30.1
4B
28
1
3.6
21
75.0
Dạng 4: Bài tập xác định các kiểu câu.
Học sinh thường mắc về viết câu, sử dụng chấm câu chưa đúng, không sử
dụng dấu chấm câu, chưa đọc kỹ đề bài, không hiểu yêu cầu, dẫn đến viết sai mục
đích câu. Đây là hình ảnh lỗi sai điển hình cụ thể của học sinh lớp 4A.
Bài của học
sinh : Bùi Thị
Kim
Huệ
Bài của học
sinh : Bùi Thị
Ngọc Mai
Bảng
thống kê số
lượng
học
sinh mắc lỗi ở
lớp 4 A qua
quá trình học với từng nội dung bài cụ thể : (Tổng số học sinh lớp 4A: 30 học
sinh) .
Các lỗi sai học sinh thường mắc
Dùng từ sai.
Chưa phân biệt được từ loại
Chưa phân biệt được từ ghép, từ láy
Chưa xác định được kiểu câu.
Chưa biết đặt câu, đặt câu sai mục đích
Số lượng HS
6
5
7
- Phân loại dạng bài và giúp học sinh lớp 4A trường Tiểu học Thạch Quảng
2 làm tốt đối với mỗi dạng bài trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4.
- Thực hiện tốt Thông tư 30 và Thông tư 22 sửa đổi, bổ sung Thông tư 30 về
đánh giá học sinh tiểu học.
- Đề xuất cho nhà trường tổ chức các buổi giao lưu, hoạt động ngoài giờ lên
lớp.
- Phối hợp chặt chẽ với giáo viên bộ môn và phụ huynh.
2.3.2. Các biện pháp tổ chức thực hiện ở lớp 4A:
2.3.2.1. Khơi gợi sự tò mò, nuôi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh.
- Tạo hứng thú trong học tập cho học sinh cũng là một nghệ thuật trong quá
trình dạy học của người giáo dục. Tạo hấp dẫn cuốn hút học sinh vào hoạt động
học và nhất là môn Luyện từ và câu đòi hỏi giáo viên cần có phương pháp và tổ
chức phong phú. Giảm bớt sự căng thẳng, nhàm chán.
- Để tạo được sự hứng thú học tập cho các em, tôi luôn tạo được sự thoải
mái trong học tập, phải làm cho các em cảm nhận được vẻ đẹp và khả năng kì
diệu của ngôn từ, để kích thích vốn từ sẵn có của từng em. Vì vậy tôi luôn biết
gây hứng thú học tập cho học sinh sẽ làm cho các em thích thú học tập không còn
gây cảm giác khô khan, chán học. Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài tôi sử
dụng nhiều phương pháp, hình thức khác nhau (Phương pháp trò chơi, phương
pháp động não, phương pháp hỏi đáp…) phù hợp với từng dạng bài.
a. Khơi gợi sự tò mò tạo hứng thú từ cách giới thiệu bài.
Để bắt đầu tiết học thật thoải mái tôi thường gợi mở, dẫn dắt cho các em vào
vấn đề dễ nhất, hiệu quả nhất, vừa giúp các em nắm vững kiến thức cũng vừa
giúp các em không áp dụng máy móc trong thực tế cuộc sống. Tôi đã sử dụng
phương pháp hỏi đáp ( Phương pháp nêu vấn đề) khi giới thiệu bài.
Ví dụ: Bài Mở rộng vốn từ : Ý chí – Nghị lực ( TV 4- tuần 12- trang 118)
* Tổ chức thực hiện: Giáo viên giới thiệu bằng cách đặt câu hỏi:
- Đọc bài Vua tàu thủy Bạch Thái Bưởi, các em thấy Bạch Thái Bưởi là
người thế nào mà từ hai bàn tay trắng ông đã vượt qua khó khăn để trở thành
“anh hùng kinh tế”? ( Học sinh trả lời) Giáo viên hỏi tiếp:
.......................................................... ………………………………………
- Hình thức tổ chức: Giáo viên chia lớp thành 3 đội, mỗi đội có 5 em tham
gia. Thời gian: 3 phút. Tôi cho các em từng đội nhận giấy bìa, trong thời gian 3
phút các em đính các tấm thẻ đúng vào bảng phụ. Hết thời gian đội nào phân biệt
đúng nhất, nhanh nhất thì đội đó thắng cuộc .
Tóm lại: Phân môn Luyện từ và câu được đánh giá là phân môn khó trong
môn Tiếng Việt nên việc gây hứng thú đối với học sinh là rất quan trọng. Tuy
nhiên trong quá trình lên lớp giảng dạy mỗi giáo viên phải tổ chức tiết học theo
phương châm: “ Học mà chơi, chơi mà học” để tạo hứng thú đặc biệt đối với các
em nhưng chú ý không biến giờ học thành giờ chơi vô ích.
2.3.2.2. Hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu.
Cũng như tất cả các bài tập ở môn học khác, để làm được bài tốt, bước đầu
tiên các em phải làm là phân tích đề bài. Giáo viên hướng dẫn các em tìm hiểu,
nắm bắt yêu cầu đề ra. Đọc kĩ đề sẽ giúp học sinh hiểu yêu cầu của đề bài. Giúp
học sinh đọc, phân tích để nắm vững yêu cầu của bài tập. Tổ chức bằng nhiều
hình thức tùy vào mỗi dạng bài có thể tổ chức nhóm, cá nhân.
* Tổ chức thực hiện:
- Cho học sinh đọc thầm đề bài; Giáo viên đặt câu hỏi để học sinh xác định
yêu cầu; Học sinh trình bày: Giáo viên chốt, khẳng định đúng sai.
- Giáo viên có thể giải thích thêm cho học sinh nắm rõ yêu cầu của bài
(trong trường hợp học sinh chưa nắm được yêu cầu của đề bài).
Ví dụ: Khi cho học sinh làm bài tập 1- bài Vị ngữ trong câu kể Ai là gì?
10
Tìm câu kể Ai là gì? Trong các câu thơ sau. Xác định vị ngữ của cầu vừa
tìm được. ...
(Tiếng việt 4 tập 2 – trang 62)
* Cách làm lâu nay là: Giáo viên cho học sinh đọc yêu đề bài và nêu yêu
cầu của bài rồi cho học sinh thực hành làm bài.
Nguyễn Đình Thành
Vũ Lê Xuân Mạnh
Bùi Thị Quỳnh
Bùi Thị Ngọc Mai
Bùi Thị Kim Huệ
Các lỗi sai
Dùng từ sai. Chưa phân biệt được từ loại.
Chưa phân biệt được từ loại; từ láy, từ ghép
Chưa biết đặt câu.
Chưa phân biệt được từ ghép, từ láy.
Chưa phân biệt được từ loại.
Chưa xác định được kiểu câu.
Chưa phân biệt được từ ghép, từ láy.
Dùng từ sai. Chưa biết đặt câu.
Dùng từ sai. Chưa phân biệt được từ loại.
Thông qua đó để tìm ra phương pháp dạy học hợp lý cho từng dạng bài tập,
cho từng đối tượng học sinh, giúp các em phần nào khắc phục tình trạng trên.
2.3.2.4. Phân loại dạng bài và giúp học sinh lớp 4 trường Tiểu học
Thạch Quảng 2 làm tốt đối với mỗi dạng bài tập phân môn Luyện từ và câu
lớp 4.
Với mỗi loại bài đều có phương pháp, hình thức tổ chức dạy học khác nhau.
Vì vậy để tiết học đạt hiệu quả cao giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung chương
trình, xác định các loại bài cụ thể trong phân môn để từ đó vận dụng các phương
pháp, hình thức dạy học phù hợp.
Dạng 1: Bài tập mở rộng vốn từ.
Cơ sở của việc hệ thống hoá vốn từ là sự tồn tại của từ trong ý thức con
người, từ tồn tại trong đầu óc con người không phải là những yếu tố rời rạc mà là
một hệ thống. Chúng được sắp xếp theo một hệ thống liên tưởng nhất định giữa
………………………………………….…………
- Hình thức tổ chức: Chia lớp thành các nhóm (nhóm 4), phát cho các nhóm
bộ thẻ từ, thảo luận và gắn vào hai cột trên bảng cho phù hợp. Các nhóm trình
bày kết quả (dán phiếu) trên bảng hoăc trên tường ở vị trí của nhóm.
Từ có tiếng tài có nghĩa là "có khả Từ có tiếng tài có nghĩa là "tiền của").
năng hơn người bình thường"
Tài giỏi, tài nghệ, tài ba, tài đức, tài nguyên, tài trợ, tài sản
tài năng, tài hoa
Ngoài việc tổ chức chia nhóm như trên, còn có thể tổ chức hoạt động học
theo hình thức trò chơi .
Ví dụ 2: Khi tổ chức làm bài tập 4 ở tiết Luyện từ và câu tuần 5 trang 148
SGK, Tiếng Việt 4, tập 1, bài "Mở rộng vốn từ: Đồ chơi - Trò chơi". Tôi tổ chức
cho học sinh chơi trò chơi “Mở rộng từ ngữ”. (Mục tiêu: Giúp học sinh củng cố
mở rộng thêm từ, tích luỹ được vốn từ. Giúp học sinh phát huy tính chủ động và
tự tin)
* Chuẩn bị: Chuẩn bị bảng nhóm, bút lông
* Hình thức tổ chức: Cho học sinh chơi theo đội, mỗi nhóm học tập là một
đội, giáo viên giao việc cho các đội trong thời gian 3 phút, học sinh tìm tìm các
từ miêu tả tình cảm thái độ của con người khi tham gia các trò chơi và ghi vào
bảng nhóm các từ đúng theo yêu cầu thuộc chủ điểm. Hết thời gian các đội trình
bày. Đội nào tìm được nhiều từ đúng thì đội đó thắng .
Kết quả học sinh sẽ tìm được các từ như: hào hứng, say mê, say sưa, đam
mê, mê, ham thích ...
Dạng 2: Bài tập về Tìm từ ghép, từ láy
Giáo viên cần xác định lỗi cụ thể học sinh thường mắc phải để tìm cách
hướng dẫn phù hợp. Dạng bài này không những căn cứ vào hình thức mà cần cho
học sinh xác định các tiếng trong từ có nghĩa hay không.
12
PHIẾU BÀI TẬP NHÓM 1
- 3 Từ đơn: ………………………………………………………………………………………………..
Nhóm 2 bổ sung:…………………………………………………………………………………………
Nhóm 3 bổ sung ……………………………………………………………………………………..
PHIẾU BÀI TẬP NHÓM 2
- 3 Từ láy: ………………………………………………………………………………………………..
Nhóm 1 bổ sung: …………………………………………………………………………………………
Nhóm 3 bổ sung :………………………………………………………………………………………..
PHIẾU BÀI TẬP NHÓM 3
- 3 Từ ghép: ………………………………………………………………………………………………..
Nhóm 1 bổ sung :………………………………………………………………………………………….
Nhóm 2 bổ sung :………………………………………………………………………………………
- Hình thức tổ chức: Chia lớp làm 3 nhóm, mỗi nhóm làm một ý.
13
Nhóm 1: Tìm được từ làm xong (Ghi vào phiếu bài tập trên), sau đó chuyển
cho nhóm 2, nhóm 2 bổ sung thêm từ, nhóm 3 bổ sung thêm từ. Cuối cùng
chuyển về nhóm 1. Nhóm 1 xem và hoàn thiện lại sau đó trình bày kết quả.
Tương tự như trên các nhóm khác cũng làm bài của nhóm mình, bổ sung bài
cho các nhóm khác.
Trong quá trình làm, các nhóm có thể không phải bổ sung từ nếu như nhóm
ban đầu đã tìm chính xác và đầy đủ các từ. Theo cách tổ chức này, các em rất
thích thú và quan trọng là đảm bảo cho mọi học sinh đều được làm tất cả các
phần của bài tập.
Sau khi học sinh trình bày kết quả, cho học sinh chọn từ để đặt câu với từ
đó. Tôi cho học sinh làm việc cá nhân.
* Yêu cầu học sinh so sánh từ láy với từ ghép. Giáo viên chốt:
- Từ bao giờ cũng có nghĩa vì nó là đơn vị nhỏ nhất để đặt câu.
- Khi các em đã hiểu và phân biệt được giữa danh từ chỉ khái niệm với
danh từ chỉ đơn vị. Tiếp tục cho học sinh làm bài.
14
- Khi cho học sinh làm vẫn còn một số em chậm hiểu tôi đã yêu cầu học
sinh làm là tìm danh từ chỉ người, danh từ chỉ sự vật xong còn lại là anh từ chỉ
khái niệm. (Lời giải: điểm, đạo đức, lòng, kinh nghiệm, cách mạng.)
Như vậy các em sẽ thấy quen với cách làm của bài này. Cuối cùng tôi kiểm
tra, đánh giá kết quả nhằm kích thích hứng thú học tập của học sinh và muốn học
sinh có mẫu sản phẩm tốt nhất thì tôi phải chuẩn bị mẫu lời giải đúng và dùng nó
đối chiếu với bài làm của học sinh. Với những bài làm sai tôi không nhận xét
chung mà chỉ rõ bài học sinh sai ở đâu và chuyển từ lời giải sai sang lời
giải đúng.
* Với cách làm này tôi đã thu được kết quả tốt. Học sinh không còn nhầm
lẫn danh từ chỉ khái niệm với danh từ chỉ đơn vị.
Dạng 4: Bài tập xác định các kiểu câu.
Với dạng bài tập này cũng được lựa chọn với thực tiễn sinh động hàng ngày
để học sinh biết đặt câu đúng, phù hợp với tình huống giao tiếp, đảm bảo lịch sự
khi đặt câu. Vì vậy khi dạy dạng bài tập này tôi đặt trong hệ thống chương trình
để thấy rõ vị trí của nó đồng thời phải nắm chắc nội dung khái niệm. Đây chính là
nội dung mà tôi cần đưa đến cho học sinh.Trong mảng kiến thức về câu gồm có:
Câu kể; Câu hỏi; Câu khiến; Câu cảm (Câu cảm thán)
Đây chính là nội dung cần đưa đến cho học sinh, để thực hiện giảng dạy tôi
đã linh hoạt sử dụng kết hợp các phương pháp, hình thức như: trực quan, hỏi đáp,
thảo luận nhóm, trò chơi, giúp học sinh rút ra kiến thức của bài học. Mục đích
cuối cùng của việc dạy câu trong nhà trường là sử dụng chúng một cách có ý thức
để thực hiện chính xác tư tưởng, tình cảm trong hình thức nói và viết. Vì vậy,
thực hành câu nhất thiết phải được dạy một cách có định hướng, có kế hoạch
thông qua hệ thống bài tập câu.
là người Thừa Thiên.
quê ở Quảng Nam
Diệu
Ông Năm
Cần
là dân ngụ cư của làng này.
là cánh tay kì diệu của các chú công nhân.
trục
- Hình thức tổi chức: Chia lớp thành các nhóm 4, phát thẻ từ cho các nhóm.
Trong nhóm, học sinh đặt các mảnh ngửa trên bàn, đảo đều và xếp thành hai dãy.
Từng em trong nhóm lần lượt chọn hai mảnh từ hai dãy sao cho hai mảnh này khi
đặt lại với nhau sẽ tạo thành một câu kể Ai là gì? với hai vế câu có nội dung phù
hợp và dán các thẻ câu trên phiếu bài tập.
- Ở bài tập này có điểm đặc biệt Giáo viên cần lưu ý cho học sinh câu Cả
hai ông đều không phải là người Hà Nội, tuy có chứa từ là nhưng từ là ở đây
không dùng để nối hai vế câu như các câu khác. Giáo viên cần yêu cầu học sinh
xác định: Khi tìm chủ ngữ cần trả lời câu hỏi Ai?, tìm vị ngữ cần trả lời câu hỏi
là gì?
Kết quả bài làm của học sinh.
Cả hai ông
Nguyễn Tri Phương
Ông Năm
Cần
đều không phải là người Hà Nội.
là người Thừa Thiên.
bảo kịp thời, công bằng, khách quan.
Ngoài ra giáo viên cần chú ý cho học sinh tự nhận xét và tham gia nhận xét
sản phẩm học tập của bạn, nhóm bạn trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học
tập để học và làm tốt hơn.
2.3.2.6. Đề xuất với nhà trường tổ chức các buổi giao lưu, hoạt động
ngoài giờ lên lớp.
Ngoài việc dạy học ở trên lớp nên tổ chức cho học sinh những giờ học ngoại
khóa thật bổ ích như tổ chức các trò chơi đố vui để học… các hội thi tìm từ
nhanh, đặt câu đúng… để các em tăng thêm vốn hiểu biết tạo ra sự thi đua, hứng
khởi trong học tập tiếng Việt và phân môn Luyện từ và câu nói riêng.
17
Tôi tổ chức cho các em đi tham quan thực tế học tập để các em mở rộng vốn kiến
thức về quê hương, đất nước để giúp đỡ các em hiểu hơn về cuộc sống, từ đó làm
giàu thêm vốn từ. Ngay từ trong cuộc sống hằng ngày của các em thường giao
tiếp với thầy cô, bạn bè, cha mẹ… học sinh phải nắm bắt được điều đó để điều
chỉnh cho học sinh trong hoạt động giao tiếp, học đi đôi với hành.
Thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp như các giờ chơi, chào cờ, các
cuộc toạ đàm trao đổi học sinh sẽ tích luỹ được vốn từ cho mình.
Ví dụ: Qua bài ''Mở rộng vốn từ đồ chơi - trò chơi'' các em cũng thấy được
những trò chơi nào có lợi. Thông qua các cuộc giao lưu, toạ đàm trao đổi, các em
biết đặt câu hỏi một cách lịch sự, tránh hỏi trống không hoặc những câu hỏi thiếu
tế nhị. Biết giữ phép lịch sự khi bày tỏ yêu cầu, đề nghị.
Trong năm học 2016 - 2017 tôi đã đề xuất với Ban gám hiệu nhà trường,
phối hợp với Liên đội và giáo viên trong tổ chuyên môn để tổ chức Hoạt động
ngoài giờ lên lớp, trường đã tổ chức cho các em Giao lưu: Em yêu Tiếng Việt.
Tôi đã cung cấp hệ thống câu hỏi thuộc Luyện từ và câu lớp 4 như sau:
Câu 1: Tiếng yêu gồm những bộ phận cấu tạo nào?
A. chỉ có vần và thanh B. Chỉ có vần
* Với thầy cô giáo bộ môn khác cần chú ý nhắc nhở học sinh:
- Khi học sinh trả lời câu hỏi, hoặc trong trao đổi giao tiếp cần nói đủ câu,
diễn đạt rõ nghĩa và dùng từ chính xác.
* Với phụ huynh giáo viên cần trao đổi với phụ huynh về các vấn đề sau:
18
- Giao tiếp khi ở nhà cần nhắc nhở con: Dùng từ đúng; Nói thành câu; Diễn
đạt nội dung rõ ràng.
- Phụ huynh tạo điều kiện về mặt thời gian cho các em đi học đầy đủ cả
những buổi chính khóa và những buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp. Chuẩn bị đủ
sách vở cho các em.
- Ở nhà phụ huynh cần nhắc nhở các em chuẩn bị bài, đọc sách, khuyến
khích các em đọc truyện Thiếu nhi.
- Điều đặc biệt với những học sinh thuộc dân tộc thiểu số thì cần thiết ở nhà
phụ huynh nên thường xuyên giao tiếp với các em bằng ngôn ngữ phổ thông để
các em mở rộng và rèn luyện cách sử dụng vốn từ.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Trong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và, qua một thời gian áp dụng
phương pháp nghiên cứu, tôi đã đề xuất với Ban giám hiệu được tiến hành khảo
sát chất lượng phân môn Luyện từ và câu của học sinh ở hai lớp, lớp 4A và lớp
4B - Trường Tiểu học Thạch Quảng 2 vào chiều Thứ ba, ngày 18 tháng 4 năm
2017 (Đề bài có phụ lục kèm theo), đã được Ban giám hiệu nhất trí.
Kết quả thu được như sau:
Lớp Số học Tốt
sinh
SL
4A
30
7
1
3.3
Chưa phân biệt được từ loại
0
0.0
Chưa phân biệt được từ ghép, từ láy
1
3.3
Chưa xác định được kiểu câu.
0
0.0
Chưa biết đặt câu, đặt câu sai mục đích
0
0.0
Qua bảng số liệu cho thấy, kết quả khảo sát chất lượng học sinh đã được
nâng lên rõ rệt.
Điều này chứng tỏ phương pháp tổ chức cho học sinh học các bài tập
Luyện từ và câu là rất quan trọng, nó quyết định rất nhiều đến kết quả học tập của
học sinh. Dần dần các em đã hình thành được thói quen làm việc có kế hoạch,
linh hoạt với từng dạng bài.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua kết quả thực nghiệm và thực tế giảng dạy phân môn Luyện từ và câu
ở lớp 4, tôi nhận thấy để mỗi giờ dạy Luyện từ và câu đạt hiệu quả cao, giáo viên
cần phải xác định rõ tầm quan trọng, vị trí của phân môn Luyện từ và câu. Ngoài
ra còn phải chú ý:
- Tạo niềm say mê, tạo động lực giúp các em yêu thích môn học. Có hứng
thú khi học tập.
19
SKKN được hoàn thiện, đảm bảo tính khoa học, hiệu quả và thiết thực hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thạch Quảng, ngày 22 tháng 04 năm 2017
XÁC NHẬN CỦA BGH NHÀ TRƯỜNG Tôi xin cam đoan đây là SKKN của tôi viết,
không sao chép nội dung của người khác
Người viết:
Đặng Thị Loan
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] [2] [3] Sách giáo viên Tiếng việt 4 - tập 1- Nguyễn Minh Thuyết chủ
biên - Nhà xuất bản Giáo dục, 2005.
[4] Luật giáo dục số 44/2009/QH12
[5] Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức kỹ năng các môn học ở Tiểu học
-Lớp 4 của Bộ Giáo dục và Đào tạo - Nhà xuất bản Giáo dục năm 2009
[6] Giáo trình Tâm lý học trẻ tiểu học - GS.TS Bùi Văn Huệ.
[7] Tham khảo một số tài liệu trên mạng Internet về chuyên đề Luyện từ và
câu lớp 4.
- Nguồn:
- Nguồn:
- Nguồn:
[8] Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT sửa đổi bổ sung Thông tư 30/2014/TTBGDĐT về quy định đánh giá học sinh tiểu học.
21
22