CHUYÊN ĐỀ ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PPDH THEO CHUẨN KIẾN THỨC KĨ NĂNG, ĐIỀU CHỈNH NỘI DUNG DẠY HỌC, DẠY PHÂN HOÁ ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC BUỔI 2 MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4, LỚP 5. - Pdf 27

https://vn.ann-kate.com/registration/index.php?inviter=VNMT1306030025
TƯ LIỆU CHUYÊN MÔN TIỂU HỌC.

CHUYÊN ĐỀ
ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PPDH THEO CHUẨN
KIẾN THỨC KĨ NĂNG, ĐIỀU CHỈNH
NỘI DUNG DẠY HỌC, DẠY PHÂN HOÁ ĐỐI
TƯỢNG HỌC SINH VÀ NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG DẠY HỌC BUỔI 2
MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4, LỚP 5.
HẢI DƯƠNG – NĂM 2015
http://vn.ipanelonline.com/register?inviter_id=1965836
https://vn.ann-kate.com/registration/index.php?inviter=VNMT1306030025
LỜI NÓI ĐẦU
Trong giai đoạn xã hội hóa và hội nhập quốc tế hiện nay,
nguồn lực con người Việt Nam trở nên có ý nghĩa quan trọng,
quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước.
Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc
xây dựng thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội. Đảng và nhà nước luôn quan tâm và chú trọng
đến giáo dục. Với chủ đề của năm học là “Tiếp tục đổi mới quản
lý và nâng cao chất lượng giáo dục” đối với giáo dục phổ thông.
Mà trong hệ thống giáo dục quốc dân, thì bậc tiểu học là bậc nền
tảng, nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng là bước đầu hình thành
nhân cách con người cũng là bậc học nền tảng nhằm giúp học
sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn
và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ
bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở. Để đạt được mục
tiêu trên đòi hỏi người dạy học phải có kiến thức sâu và sự hiểu
biết nhất định về nội dung chương trình sách giáo khoa, có khả
năng hiểu được về tâm sinh lí của trẻ, về nhu cầu và khả năng

CHUYÊN ĐỀ
ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PPDH THEO CHUẨN
KIẾN THỨC KĨ NĂNG, ĐIỀU CHỈNH
NỘI DUNG DẠY HỌC, DẠY PHÂN HOÁ ĐỐI
TƯỢNG HỌC SINH VÀ NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG DẠY HỌC BUỔI 2
MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4, LỚP 5.
A. Đổi mới nội dung, PPDH, đổi mới việc kiểm tra
đánh giá học sinh theo chuẩn kiến thức, kĩ năng và
dạy học phân hoá đối tượng học sinh môn Tiếng Việt.
Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Tiếng Việt là yêu cầu
cơ bản, tối thiểu về kiến thức và kĩ năng của các phân
môn: Học vần, Tập viết, Tập đọc, Chính tả, LT và câu,
Tập làm văn mà học sinh cần phải và có thể đạt được.
Chuẩn kiến thức và kĩ năng được cụ thể hoá ở các chủ đề
của môn học theo từng lớp, ở các lĩnh vực học tập cho
từng lớp và cho cả cấp học.
Khi dạy học theo chuẩn kiến thức và kĩ năng, người
GV giúp cho mọi học sinh đều đạt được những yêu cầu
cơ bản (kiến thức, kĩ năng tối thiểu), đồng thời cần phải
giúp cho học sinh khá giỏi vươn lên đạt được những yêu
cầu trên chuẩn (Mục Yêu cầu cần đạt trong tài liệu chỉ là
yêu cầu chuẩn - tối thiểu).
Ở Tiểu học, mỗi lớp học đều có nhiều đối tượng học
sinh. Dạy học theo chuẩn kiến thức và kĩ năng được thực
hiện chủ yếu ở các tiết chính khoá. Do đó, thực chất của
việc dạy học theo chuẩn cũng chính là dạy học phân hoá
đối tượng học sinh. Vì thế, khi lựa chọn nội dung dạy
học, ngoài việc bám sát vào mục tiêu theo " Những yêu
http://vn.ipanelonline.com/register?inviter_id=1965836

https://vn.ann-kate.com/registration/index.php?inviter=VNMT1306030025
Nàng tiên ốc có kết hợp tả ngoại hình của hai nhân vật:
bà lão và nàng tiên.
Để thực hiện tốt việc Đổi mới nội dung, PPDH, đổi
mới việc kiểm tra đánh giá học sinh theo chuẩn kiến
thức, kĩ năng và dạy học phân hoá đối tượng học sinh,
CBQL và GV cần lưu ý một số vấn đề sau:
I. Yêu cầu dạy học bám sát Chuẩn kiến thức, kĩ
năng
1. Yêu cầu chung :
1.1- Xác định mục tiêu bài học. Chú trọng dạy học
nhằm đạt được các yêu cầu cơ bản và tối thiểu về kiến
thức, kĩ năng, đảm bảo không quá tải và không quá lệ
thuộc hoàn toàn vào SGK. Mức độ khai thác sâu kiến
thức, kĩ năng trong SGK phải phù hợp với khả năng tiếp
thu của HS.
1.2. Đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính chủ
động, tích cực, tự giác học tập của HS. Chú trọng rèn
luyện phương pháp tư duy, năng lực tự học, tự nghiên
cứu ; tạo niềm vui, hứng khởi, nhu cầu hành động và thái
độ tự tin trong học tập cho HS.
1.3. Trong dạy học thể hiện được mối quan hệ tích
cực giữa GV và HS, giữa HS với HS ; tiến hành dạy học
thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập của HS, kết
hợp giữa học tập cá thể với học tập hợp tác, làm việc theo
nhóm, chú trọng đến việc rèn luyện các kĩ năng, năng lực
hành động, vận dụng kiến thức, tăng cường thực hành và
gắn nội dung bài học với thực tiễn cuộc sống, chú trọng
đến việc sử dụng có hiệu quả phương tiện, thiết bị dạy
học được trang bị hoặc do GV và HS tự làm ; quan tâm

thiểu về kiến thức, kĩ năng, dạy không quá tải và không
http://vn.ipanelonline.com/register?inviter_id=1965836
https://vn.ann-kate.com/registration/index.php?inviter=VNMT1306030025
quá lệ thuộc hoàn toàn vào SGK. Việc khai thác sâu kiến
thức, kĩ năng phải phù hợp với khả năng tiếp thu của HS.
3.2. Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn HS thực hiện các
hoạt động học tập với các hình thức đa dạng, phong phú,
có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng bài học, với đặc
điểm và trình độ HS, với điều kiện cụ thể của lớp, trường
và địa phương.
3. 3. Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện
cho HS được tham gia một cách tích cực, chủ động, sáng
tạo vào quá trình khám phá, phát hiện, đề xuất và lĩnh hội
kiến thức. Chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kĩ
năng đã có của HS. Tạo niềm vui, hứng khởi, nhu cầu
hành động và thái độ tự tin trong học tập cho HS. Giúp
HS phát triển tối đa năng lực, tiềm năng của bản thân.
3. 4. Thiết kế và hướng dẫn HS thực hiện các dạng
câu hỏi, bài tập phát triển tư duy và rèn luyện kĩ năng.
Hướng dẫn sử dụng các thiết bị dạy học. Tổ chức có hiệu
quả các giờ thực hành. Hướng dẫn HS có thói quen vận
dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực
tiễn.
3.5. Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức
dạy học một cách hợp lí, hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với
đặc trưng của cấp học, môn học ; nội dung, tính chất của
bài học ; đặc điểm và trình độ HS ; thời lượng dạy học và
các điều kiện dạy học cụ thể của trường, địa phương.
II. Yêu cầu kiểm tra, đánh giá bám sát Chuẩn
kiến thức, kĩ năng

kiểm tra kiến thức, kĩ năng cơ bản, năng lực vận dụng
http://vn.ipanelonline.com/register?inviter_id=1965836
https://vn.ann-kate.com/registration/index.php?inviter=VNMT1306030025
kiến thức của người học, thay vì chỉ kiểm tra học thuộc
lòng, nhớ máy móc kiến thức.
- Kết hợp thật hợp lí các hình thức kiểm tra, tự luận
và trắc nghiệm nhằm hạn chế lối học tủ, học lệch, học vẹt
; phát huy ưu điểm và hạn chế nhược điểm của mỗi hình
thức.
- Đánh giá chính xác, đúng thực trạng. Đánh giá thấp
hơn thực tế sẽ triệt tiêu động lực phấn đấu vươn lên ;
ngược lại, đánh giá khắt khe quá mức hoặc thái độ thiếu
thân thiện, không thấy được sự tiến bộ, sẽ ức chế tình
cảm, trí tuệ, giảm vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của
HS.
- Đánh giá kịp thời, có tác dụng giáo dục và động
viên sự tiến bộ của HS, giúp HS sửa chữa thiếu sót. Đánh
giá cả quá trình lĩnh hội tri thức của HS, quan tâm tới
mức độ hoạt động tích cực, chủ động của HS trong từng
tiết học tiếp thu tri thức mới, ôn luyện cũng như các tiết
thực hành.
- Đánh giá kết quả học tập, thành tích học tập của HS
không chỉ đánh giá kết quả cuối cùng, mà cần chú ý cả
quá trình học tập. Cần tạo điều kiện cho HS cùng tham
gia xác định tiêu chí đánh giá kết quả học tập với yêu cầu
không tập trung vào khả năng tái hiện tri thức mà chú
trọng khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các
nhiệm vụ phức hợp. Có nhiều hình thức và độ phân hoá
cao trong đánh giá.
- Kết hợp thật hợp lí giữa đánh giá định tính và định

http://vn.ipanelonline.com/register?inviter_id=1965836
https://vn.ann-kate.com/registration/index.php?inviter=VNMT1306030025
- Phân môn Tập đọc: Chú ý yêu cầu đọc hiểu, trả lời
các câu hỏi tìm hiểu bài, giọng đọc phù hợp với nội dung
bài.
- Phân môn Chính tả: Thay hoặc bớt ngữ liệu dài và
khó cho các bài tập chính tả.
- Phân môn Tập làm văn: Thay một số nội dung, đề
bài sao cho gần gũi với học sinh. Không dạy một số bài
khó.
- Phân môn Kể chuyện:
+ Kể chuyện đã nghe, đã đọc: Có thể cho học sinh
kể lại chuyện trong SGK hoặc nghe GV đọc, kể tại lớp
rồi kể lại.
+ Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia:
Không dạy một số bài khó.
- Phân môn Luyện từ và câu: Các bài dạy khái niệm
mới chỉ yêu cầu nhận diện, chưa yêu cầu hiểu bản chất
khái niệm.
Về cơ bản, những NDĐC nêu trên là phù hợp. Tuy
nhiên đối phân môn Luyện từ và câu, yêu cầu điều chỉnh
ở một số bài " Thêm trạng ngữ cho câu (tuần
31,32,33,34) có sự mâu thuẫn với hướng điều chỉnh.
Trong tất cả các bài đó, NDĐC đều có ghi: Không
dạy phần nhận xét, Không dạy phần ghi nhớ. Phần luyện
tập chỉ yêu cầu tìm hoặc thêm trạng ngữ ( Không yêu
cầu nhận diện trạng ngữ gì). Thực tế giảng dạy, nếu GV
hoàn toàn thực hiện theo yêu cầu đó thì học sinh sẽ rất
khó thêm trạng ngữ phù hợp để thành câu văn hoàn
chỉnh, hợp nghĩa. Vì thế, khi dạy những bài này, GV

dung đó sao cho tất cả học sinh đạt được yêu cầu cơ bản
http://vn.ipanelonline.com/register?inviter_id=1965836
https://vn.ann-kate.com/registration/index.php?inviter=VNMT1306030025
về kiến thức và kĩ năng theo quy định", tránh việc chỉ sử
dụng vở bài tập các môn học để cho học sinh làm bài theo
kiểu dạy học đại trà, loại bài luyện tập, thực hành.
Hiện nay, việc dạy học buổi 2 môn Tiếng Việt được
thực hiện bằng một số hình thức sau:
- Dạy theo lớp: Mỗi lớp đều có đủ các đối tượng học
sinh
- Dạy theo nhóm học sinh: Mỗi khối lớp tập trung
học sinh lại rồi chia thành các nhóm : G - K, TB và yếu
Tuy theo cách phân chia học sinh trong mỗi khối
trong mỗi nhà trường mà giáo viên lựa chọn các kiến thức
và kĩ năng cho phù hợp và có hiệu quả.
Chẳng hạn:
- Với cách chia thứ nhất: Vì mỗi lớp đều có đủ các
đối tượng học sinh nên trong mỗi bài tập hay mỗi nội
dung ôn tập cần có sự phân hoá để tất cả học sinh đều
được hoạt động. Khi soạn bài, người GV cần đặc biệt chú
ý sắp xếp nội dung dạy học trong mội bài tập theo các
mức độ từ dễ đến khó. Sau mỗi bài tập cần củng cố, khắc
sâu và mở rộng KT, KN cần thiết cho HS.
- Với cách chia thứ hai: GV có thể lựa chọn nội
dung bồi dưỡng theo từng phân môn hay từng mảng kiến
thức, theo chuyên đề nào đó (Có thể ôn tập kiến thức của
tháng trước, năm trước).
Chẳng hạn: Trước khi cho HS lớp 5 ôn tập về đại từ,
quan hệ từ, GV có thể cho HS ôn tập kĩ về DT, ĐT, TT .
- Đối với HS TB- Yếu: GV chỉ cần đưa ra những

cần có cách sắp xếp TKB, phân công nhiệm vụ và chọn
hình thức phân chia học sinh như thế nào sao cho phù
hợp với năng lực , điều kiện của mỗi GV sao cho có hiệu
http://vn.ipanelonline.com/register?inviter_id=1965836
https://vn.ann-kate.com/registration/index.php?inviter=VNMT1306030025
quả cao nhất. Giáo viên cần nhiết tình, tích cực học tập để
nâng cao kiến thức, phương pháp giảng dạy sao cho có
hiệu quả nhất. Trong khi soạn bài hay lên lớp, GV cần
nghiên cứu kĩ nội dung ôn luyện của từng tiết để lựa chọn
các hình thức tổ chức dạy học một cách phù hợp: dạy học
cá nhân, tổ chức nhóm, cần chuẩn bị đầy đủ trang thiết bị,
đồ dùng phù hợp cho cách tổ chức của mình sao cho đạt
hiệu quả nhất. Ban giám hiệu nhà trường cần chỉ đạo sát
sao việc bồi dưỡng cho GV về kiến thức, về phương pháp
giảng dạy, kết hợp tổ chuyên môn tăng cường dự giờ,
kiểm tra đánh giá chất lượng dạy học của mỗi GV được
phân công. Đồng thời có sự động viên khuyến khích kịp
thời các thầy cô có kinh nghiệm hay và có thành tích
trong việc nâng cao chất lượng BDHSG, PĐHS yếu ở
buổi 2, chính là góp phần nâng cao chất lượng dạy học
trong mỗi nhà trường.
D. Việc sử dụng SGK và các tài liệu tham khảo
- SGK, Chuẩn KT, KN và Điều chỉnh NDDH: Là tài
liệu cơ bản. Gv căn cứ vào nội dung bài học được thiết kế
trong SGK, bám sát chuẩn KTKN và những nội dung
điều chỉnh của từng bài theo định hướng của Bộ GD- ĐT
và sự thống nhất của GV trong khối, trong tổ chuyên môn
và được sự kí duyệt của BGH.
- Vở bài tập TV: Hầu hết các bài tập, câu hỏi được
trình bày trong VBT có nội dung trùng lặp với SGK, GV


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status