tìm hiểu về gia đình và những giá trị tạo nên văn hóa gia đình việt nam - Pdf 28

Lời nói đầu
Gia đình là nền tảng, là tiền để quan trọng cho sự phát triển của xã hội loài người. Việt
Nam chúng ta cũng vậy, gia đình là một tổ ấm để mọi người cùng nhau sinh sống, học
tập và làm việc. Để có một nền văn hóa lâu đời như vậy, nước Việt Nam chúng ta đã kế
thừa và phát huy những nét đẹp của văn hóa gia đình để hình thành nên một xã hội ổn
định, có tôn ti, trật tự rõ ràng mà hiếm quốc gia nào trên thế giới có được điều đó.
Cơ sở văn hóa Việt Nam là một bộ phận quan trọng của chương trình đào tạo của ngành
Quốc tế học. Bởi nếu người học chưa nắm vững những kiến thức cơ bản về văn hóa, tập
tục, phong tục người Việt Nam thì rất khó có thể hoàn thành tốt vị trí của một nhà ngoại
giao. Các kiến thức từ bộ môn Cơ sở văn hóa Việt Nam là nền tảng, là yếu tố cốt lõi hình
thành, xây dựng, hỗ trợ cho việc hoạch định một đường lối ngoại giao hiện đại: vừa đáp
ứng các yêu cầu đặt ra của thế giới thời hiện đại, vừa có thể giữ gìn, phát huy, quảng bá
bản sắc văn hóa dân tộc.
Trong bài kiểm tra này, em được Thầy giao cho công việc tìm hiểu về gia đình và những
giá trị tạo nên văn hóa gia đình. Đây là một đề tài rất hay, gần gũi, mang tính thời sự
cao nhằm trang bị cho em những kiến thức cốt lõi để sau này trang bị cho ngành học, kế
đến là xây dựng một gia đình cho tương lai. Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã khảo
cứu qua nhiều nguồn tài liệu và đúc kết cho mình những kinh nghiệm quý báu để hoàn
thành thật tốt yêu cầu mà Thầy giao cho. Mặc dù đã cố gắng hết sức trong việc hoàn
thành bài tiểu luận, song những sai sót là điều khó tránh khỏi. Em rất mong nhận được
những đóng góp xây dựng từ Thầy cũng như các bạn để bài tiểu luận của em hoàn thiện
hơn.
Phần nội dung
I. KHÁI NIỆM VỀ GIA ĐÌNH
Gia đình không chỉ gắn bó với mỗi con người mà còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều
lĩnh vực khoa học, là một đơn vị cụ thể để thu thập thông tin, phân tích số liệu, và cũng
là đối tượng cho chính sách xã hội. Vì vậy, xác định khái niệm gia đình, xác định những
nội dung mà khái niệm này biểu đạt không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của
mỗi con người, trong nhận thức xã hội mà còn hết sức cần thiết trong việc tiến hành
những nghiên cứu về gia đình, định hướng các vấn đề nghiên cứu.
Chúng ta hãy xem xét hiện nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về gia đình được

chung sống, có ngân sách chung. Trong năm tiêu chí này, quan hệ hôn nhân và huyết
thống là tiêu chí cơ bản nhất để nhận diện gia đình. Căn cứ vào nền văn hóa tinh hoa, có
truyền thống lịch sử lâu đời như ở Việt Nam, xin mạo muội đưa ra một khái niệm chung
về gia đình như sau: “gia đình là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở các quan
hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó, gắn bó với nhau về
tình cảm, chia sẻ kinh tế, trách nhiệm và quyền lợi, chịu sự ràng buộc có tính pháp lý
được xã hội, nhà nước thừa nhận và bảo vệ.”
Liên hệ với Việt Nam, loại gia đình phổ biến của cộng đồng dân tộc Việt Nam thường
gồm hai thế hệ là cha mẹ và con cái. Cũng có một số gia đình gồm ba thế hệ là ông bà –
cha mẹ - con cái và một số ít gia đình gồm bốn thế hệ là cố - ông bà – cha mẹ - con cái.
Bốn thế hệ nói chung sống hòa thuận trong một gia đình gọi là Tứ đại đồng đường, một
đặc trưng về tính cộng đồng của người Việt cho nên được vua ban thưởng. Trong lúc đó,
gia đình xã hội Âu Tây phổ biến hai thế hệ.
II. CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH
1. Chức năng sinh sản, tái sản xuất ra con người
Đây là chức năng cơ bản của gia đình, vừa đáp ứng yêu cầu tự nhiên, tâm sinh – lý của
con người, đồng thời mang ý nghĩa xã hội là cung cấp lực lượng lao động mới đảm bảo
sự phát triển liên tục và trường tồn của xã hội loài người. Chức năng này cụ thể được
xem như là một cơ sở hình thành nên gia đình trong những thời kỳ đầu tiên, nhằm tăng
cường sức mạnh của bộ tộc, thị tộc, tạo nên sự ổn định của cộng đồng trước sự tràn lấn
của cộng đồng khác.
2. Chức năng kinh tế và tổ chức hình thành đời sống gia đình
Đây là chức năng cơ bản của gia đình. Để thực hiện chức năng này, các gia đình tiến
hành các hoạt động lao động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tạo nên thu nhập chính đáng
để nâng cao đời sống, đảm bảo hạnh phúc cho gia đình. Thực hiện chức năng này cũng là
việc các gia đình sử dụng nguồn thu nhập để mua sắm những sản phẩm phục vụ cho đời
sống vật chất và tinh thần của gia đình (tiêu dùng), thông qua đó mà thúc đẩy nền sản
xuất xã hội phát triển.
Liên hệ Việt Nam, mỗi cộng đồng huyết thống của người Việt Nam từ lâu đã không còn
là đơn vị sản xuất mà đã phân thành vô vàn các gia đình nhỏ, với thân phận kinh tế - xã

3.Chức năng giáo dục của gia đình
Đây là chức năng rất quan trọng của gia đình, đặc biệt trong vai trò xã hội hóa trẻ em.
Nội dung giáo dục của gia đình là tương đối toàn diện. Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu,
nuôi dưỡng con cái, chăm lo cho việc học tập và sự phát triển lành mạnh của con cái cả
về thể chất lẫn tinh thần để con cái trở thành những công dân có ích cho xã hội.
Đối với trẻ em, gia đình là một xã hội đặc biệt. Trong các giai đoạn phát triển của mình,
trẻ em đều được lớn lên dưới sự giám sát của gia đình. Đồng thời, được dạy dỗ, rèn luyện
để làm quen và thực hiện các chuẩn mực trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Con
người xã hội của trẻ em được hình thành và hoàn thiện trong gia đình. Do vậy, có thể
thấy, gia đình là cầu nối quan trọng nhất để trẻ em có thể được xã hội hóa, được tạo
những bước chuẩn bị tốt nhất trước khi thực sự hòa nhập cộng đồng.
Cũng như tất cả các tộc người khác trên Trái Đất, ở người Việt gia đình là môi trường
giáo dục đầu tiên. Trong điều kiện gia đình là đơn vị tổ chức sản xuất, đơn vị kinh tế tự
chủ, đơn vị thờ cúng, gia đình sống trong môi trường làng dựa trên nền kinh tế nông
nghiệp ruộng nước với cơ sở xã hội là hàng loạt các mối quan hệ huyết thống, xóm
giềng, tuổi tác, vị thế xã hội…Như ở người Việt Nam ta vai trò là đơn vị giáo dục càng
trở nên quan trọng.
Những nội dung giáo dục của gia đình người Việt bao gồm:
Giáo dục kỹ năng lao động, kinh nghiệm sản xuất: Cuộc sống của một gia đình người
Việt ở nông thôn xưa và nay có biết bao công việc phải làm, từ việc tạo ra các sản phẩm
để nuôi sống con người, đến các việc bổ trợ đòi hỏi không chỉ nguồn lao động lớn mà còn
kỹ năng làm việc của mỗi lao động. Thêm nữa, đặc điểm nổi bật của gia đình Việt Nam
trước đây là ngay từ nhỏ, con cái luôn sống với bố mẹ, ông bà, lớn lên thì đi học ngay
trong trường làng – song chỉ có con trai và chỉ học nửa buổi, nên gia đình có điều kiện
giáo dục trẻ nhỏ, thực hiện tốt chức năng đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng được những
nhu cầu bức thiết về lao động. Các bậc ông bà hằng ngày trong nom trẻ nhỏ vẫn tiến hành
các công việc nhỏ như đan lát, băm bèo, thái rau, nấu nướng Đây chính là dịp mà trẻ
em có cơ hội quan sát trực tiếp các thao tác và làm theo, rồi được ông bà hướng dẫn, chỉ
bảo những kinh nghiệm của mình.
Ngay từ khi đứa trẻ còn nhỏ, các bậc cha mẹ đã chỉ bảo cho trẻ tập làm một số công việc

Ứng xử theo quan hệ tuổi tác cũng là một nội dung giáo dục gia đình. Xã hội nông nghiệp
dựa trên tư duy kinh nghiệm vì thế coi trọng tuổi tác, đề cao người có tuổi và người hơn
tuổi, bởi càng nhiều tuổi càng có nhiều kinh nghiệm và tuổi tác là một giá trị biểu tượng.
Kinh nghiệm được truyền tải không chỉ trong phạm vi gia đình mà còn trong làng xã, xã
hội nói chung.
Quan hệ giới tính cũng sớm là nội dung của giáo dục trong gia đình truyền thống người
Việt. Tuy nhiên do ảnh hưởng sâu đậm của tư tưởng Nho giáo nên giáo dục giới tính ở
đây chỉ mới dừng lại ở việc giúp mỗi người từ nhỏ phân biệt được ranh giới hiện hữu
giữa nam giới và nữ giới (nam nự thụ thụ bất thân). Trong xã hội phong kiến, tình yêu chỉ
có ở ngoài xã hội quan phương.
Quan hệ vị thế xã hội cũng là nội dung của giáo dục gia đình. Xã hội người Việt trong
phạm vi từng làng và trên bình diện cả nước – là xã hội gồm nhiều thang bậc, mang tính
đẳng cấp rất rõ nét. Người có chức vị cao thường được trọng vọng. Ngay trong làng, mỗi
người thường được gọi tên gắn liền với chức vị của họ chẳng hạn như: ông Lý, cụ Tiên
chỉ, cụ Cử… Vì thế, con người từ tấm bé đã được gia đình chỉ bảo cách ứng xử với người
có các chức vị xã hội khác nhau theo hướng tôn trọng họ.
Giáo dục đạo đức và nhân cách: Các khía cạnh của giáo dục trên đây đã bao hàm một
phần của giáo dục đạo đức và nhân cách cho con người. Gia đình truyền thống còn giáo
dục cho con người các khía cạnh đạo đức như sau:
- Quý trọng người lao động và sức lao động, đề cao tinh thần yêu lao động, chịu khó,
chăm chỉ làm việc và làm việc cẩn thận;
- Đề cao tiết kiệm, chịu khổ, biết dự tính, lo toan cho cuộc sống bản thân gia đình;
- Đề cao tinh thần cộng đồng và ý thức vì cộng đồng, thể hiện ở việc biết quan tâm và
giúp đỡ người khác, coi trọng tình làng nghĩa xóm, đề cao tinh thần đoàn kết và cố kết
trong cộng đồng làng xã, quan tâm đến các việc công ích, tích cực đóng góp xây dựng
làng xã…
- Đề cao chữ tâm, chữ tín, tính trung thực, thủy chung và đạo hiếu, lễ nghĩa, chú trọng
giữ gìn vị thế và nhân cách cá nhân, làm điều thiện để tích đức, tránh làm điều ác để tránh
vung vạ về sau.
Lòng biết ơn luôn là phẩm chất đáng quý của tất cả mọi người. Người Việt theo chế độ

trong gia đình luôn tìm thấy sự an toàn, yên ổn trong gia đình, làm cân bằng tâm lý trước
những áp lực trong cuộc sống.
Mỗi con người từ tấm bé đã được sống trong bầu không khí thân thương của gia đình mà
không nơi nào họ có thể tìm thấy được.
Trước hết là lòng yêu thương vô hạn, sự chăm sóc hết lòng của cha mẹ. Từ khi còn là đứa
trẻ đỏ hỏn, mỗi người được bố mẹ dồn sức nuôi nấng. Theo thời gian năm tháng, mỗi
người dần lớn lên, nhưng dưới con mắt của cha mẹ, thì con họ vẫn luôn là đứa trẻ bé
bỏng thơ ngây. Bố mẹ là chỗ dựa tinh thần, là chỗ dựa vững chắc cho con. Ca dao Việt
Nam có câu:
Còn cha còn mẹ thì hơn
Không cha không mẹ như đờn đứt dây.
Cùng với cha mẹ, các anh chị em trong nhà cũng là một chỗ dựa tinh thần lớn lao. Khi
còn bé, mỗi người đều được các anh chị lớn chăm sóc, nâng niu. Khi lớn lên, mỗi người
cùng với anh chị của mình gánh vác các công việc trong gia đình. Anh chị em quấn quýt
bên nhau, động viên nhau những khi gặp thuận lợi hay khó khăn trong cuộc sống.
Gia đình với quan hệ tâm lý, tình cảm đặc biệt gắn bó các thành viên lại với nhau bằng
máu mủ, tình thương yêu, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi con người ngay từ
khi còn tấm bé, bằng sự nhường nhịn, hy sinh, không tính toán thiệt hơn. Tình cảm gia
đình là công cụ chính để giải quyết hữu hiệu những bất đồng nếu nó xảy ra trong gia
đình. Tình cảm gia đình còn là hành trang để con người mang đi trên bước đường cuộc
sống.
Tính đa chức năng của gia đình trong xã hội nông nghiệp tạo nên tính bền chặt, quan hệ
phụ thuộc lẫn nhau rất sâu sắc của các thành viên trong gia đình. Các nhân được đặt trong
tương quan với các quy định trong quan hệ gia đình và hoàn toàn phụ thuộc vào gia đình.
Điều này dẫn đến việc gia đình trong xã hội nông nghiệp đặc biệt chú ý tới các mối quan
hệ theo chiều dọc. Trong đó, quyền lực của cha mẹ được xem là tuyệt đối với con cái.
Mọi biểu hiện không tôn trọng uy quyền chiều dọc tuyệt đối đều được xem là ảnh hưởng
xấu đến tính đa chức năng của gia đình, làm giảm ảnh hưởng của gia đình đến các cá
nhân. Trước sự xuất hiện của xu hướng đề cao cá nhân, tính chất đa chức năng và chú
trọng quan hệ chiều dọc của gia đình nông nghiệp đang có xu hướng dần dần bị thay thế.

Trong chế độ tư hữu, một vợ một chồng chỉ là hình thức và có ý nghĩa đối với người vợ
mà thôi. Trong xã hội phong kiến, “trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một
chồng”. Trong xã hội tư bản, người vợ trong gia đình tư sản được xem như một thứ công
cụ, một thứ đồ chơi trong tay giai cấp tư sản.
Trong chủ nghĩa xã hội, gia đình một vợ một chồng mới dựa trên hôn nhân tự nguyện, tự
do tiến bộ và được bảo vệ bằng pháp luật.
Ở nước ta hiện nay còn tồn tại các loại hình gia đình như: Gia đình mẫu hệ của người
Gia Rai, Ê đê, Chu Ru, Ra Glai, Chăm, Cơ Ho… với những chiếc nhà dài điển hình. Tuy
nhiên, các gia đình mẫu hệ này đang ở trong quá trình giải thể, chuyển từ nhà dài sang
nhà nhỏ cho một cặp vợ chồng và con cái; gia đình từ chế độ mẫu hệ chuyển sang phụ hệ
(dấu vết mẫu hệ đã mờ nhạt) như Khơ Mú, Xinh Mun, Vân Kiều, Ba Na… Nhưng cũng
có dân tộc, tàn dư mẫu hệ còn khá rõ nét như Tà Ôi, Ca Tu…
Gia đình phụ hệ của người Kinh, Tày, Nùng, Thái, H’Mông, Hoa, Khơ Me… ở những
gia đình này, hôn nhân còn mang nặng quan hệ phong kiến - gia trưởng. Vì vậy, cùng với
sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, chúng ta phải đẩy mạnh phong trào xây
dựng gia đình văn hoá mới, bảo đảm cho mỗi gia đình thực sự là tổ ấm của con người, là
tế bào lành mạnh của xã hội.
+ Gia đình tác động tích cực đến tiến trình phát triển xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì
gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính
vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý hạt nhân cho tốt.”
Bất cứ chế độ xã hội nào, muốn tồn tại và phát triển đều phải cần đến hai loại sản xuất:
Sản xuất ra thức ăn, vật dụng, những công cụ cần thiết và sản xuất ra con người để duy trì
nòi giống và tái sản xuất lực lượng lao động. Gia đình với chức năng tái tạo ra con người,
tái tạo ra sức lao động đã tham gia ngay từ đầu vào cả hai quá trình sản xuất đó.
2. Gia đình là cầu nối giữa mọi thành viên trong gia đình và xã hội
Phần lớn các thông tin về xã hội tác động đến con người thông qua gia đình. Gia đình tiếp
nhận mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, y tế… của xã hội và chăm lo sự
phát triển toàn diện của mỗi người, giữ gìn sự yên ấm, hạnh phúc của gia đình, góp phần
ổn định phát triển bền vững của xã hội.

là cơ sở bảo đảm cho xã hội hài hòa và phát triển. Trong xu thế hội nhập thế giới, giữ gìn
những nét đẹp gia đình truyền thống là việc hết sức quan trọng góp phần ổn định, phát
triển xã hội và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.
Gia đình truyền thống Việt Nam hình thành trong chế độ phong kiến với tư tưởng Nho
giáo chi phối, nên theo lễ nghĩa Nho giáo. Thiết chế gia đình truyền thống có nhiều nội
dung nhưng có các nội dung cơ bản là:
Thứ nhất, gia đình truyền thống Nho giáo lấy “Hiếu Đễ” làm nội dung cốt lõi. “Hiếu” là
chuẩn mực đạo đức cao nhất của con người, là đạo đức của con đối với cha mẹ, với ba
điều cơ bản: Tôn trọng cha mẹ, không làm nhục cha mẹ, nuôi dưỡng cha mẹ. “Đễ” là
nhường nhịn, hòa thuận trong mối quan hệ anh em trong gia đình. Những chuẩn mực ấy
có ý nghĩa quyết định gia đình truyền thống ổn định và phát triển bền vững cùng với sự
phát triển của dân tộc.
Thứ hai, gia đình truyền thống coi trọng việc giáo dục trong gia đình hay còn gọi là gia
giáo. Ngày xưa, trong xã hội phong kiến, ngoài thiết chế giáo dục Nho học thì giáo dục
trong gia đình là yếu tố cơ bản, nhất là những gia đình nghèo không có điều kiện đến
trường. Ở đó, con người được cha mẹ, anh em, người lớn trong xóm làng dạy bảo những
điều như: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cha nhân từ, con hiếu thảo, chồng vợ thủy chung, anh
em nhường nhịn để con người hoàn thiện nhân cách. Trong điều kiện xã hội nông
nghiệp, lạc hậu, những gia đình lao động nghèo khó không có điều kiện học ở trường thì
việc giáo dục trong gia đình truyền thống Việt Nam như vậy là cần thiết.
Thứ ba, gia đình truyền thống coi trọng quyền gia trưởng của người đàn ông trụ cột.
Trong gia đình, người đàn ông có quyền sai khiến, còn vợ con chỉ có việc chấp hành. Tư
tưởng “phu xướng, phụ tùy” (chồng nói, vợ nghe theo) đã trở thành nếp nhà, từ đó cũng
tạo nên thói quen trong con cái phải biết vâng lời cha mẹ. Người phụ nữ trong gia đình
truyền thống bị xem nhẹ như trong việc thừa kế tài sản, địa vị thấp kém
Như vậy, nếu bỏ qua những hạn chế thì gia đình truyền thống có những giá trị nhất định,
góp phần tích cực trong việc xây dựng một thiết chế xã hội nhỏ nhất - gia đình ổn định,
hài hòa tạo cơ sở cho xã hội phát triển. Thực chất, thực hiện tốt chữ “Hiếu” chính là giải
quyết tốt mối quan hệ người với người trong gia đình dựa trên cơ sở huyết thống gần.
Hiện nay, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa cũng chính là giải quyết mối quan hệ người

nhũng, hiện tượng “ông ăn chả, bà ăn nem” khá phổ biến Từ đó, trong gia đình thiếu
tính chuẩn mực cho con cái noi theo, thiếu định hướng cho con cái sống lẽ sống cao đẹp,
vai trò giáo dục trong gia đình ngày càng giảm sút, xuất hiện tình trạng “khoán trắng”
cho nhà trường và xã hội.
Hiện nay, phong trào xây dựng gia đình văn hóa đã phát triển sâu rộng và đạt được những
thành tựu nhất định, tuy vậy nhiều địa phương vẫn còn mang nặng hình thức, chạy đua về
chỉ tiêu, chứ chưa đi vào nội dung của việc xây dựng gia đình văn hóa trong thời kỳ mới.
Trước thực trạng đó, cần bảo tồn tồn các giá trị văn hóa trong gia đình vì nó là cơ sở để
bảo tồn, phát huy văn hóa dân tộc trong xu thế hội nhập. Do vậy, trước hết mỗi gia đình
cũng như toàn xã hội cần có những giải pháp cụ thể, đó là:
Trước hết, các địa phương cần xây dựng kế hoạch về xây dựng gia đình Việt Nam trong
thời kỳ mới với tiêu chí bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống dân tộc, đặc biệt
việc thực hiện chữ “Hiếu”, tôn trọng người già, quý trọng tình cảm anh em ruột thịt,
tương thân, tương ái với bà con. Các địa phương cần tạo cơ sở kinh tế cho việc chăm sóc
người già như xây dựng các trại dưỡng lão, con cái tạo điều kiện cho cha mẹ có vốn
dưỡng già. Thực hiện điều này là cơ sở để thực hiện chủ trương của Đảng: “Sớm có chiến
lược quốc gia về xây dựng gia đình Việt Nam, góp phần giữ gìn và phát triển những giá
trị truyền thống của văn hóa, con người Việt Nam, nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ".
Thứ hai, xây dựng gia đình cần chú ý các tiêu chí cơ bản: Thứ nhất là tổ chức gia đình
phù hợp với gia cảnh, hài hòa với xã hội. Thứ hai là xây dựng gia phong-tác phong, lối
sống phù hợp với thời kỳ công nghiệp nhưng phải bảo đảm quan hệ gia đình bền chặt.
Thứ ba là hình thành gia pháp, quốc gia có quốc pháp thì xã hội mới yên ổn, gia đình
cũng cần có gia pháp thì trật tự lễ nghĩa mới được gìn giữ như: Cha nghiêm, mẹ từ, anh
nhường, em nhịn ; nghi thức gia đình phải phù hợp với văn hóa mới.
Thứ ba, về phía các bậc cha mẹ, ông bà, cần phải nghiêm túc thực hiện tốt các chuẩn mực
đạo đức của mỗi người ở mỗi vị trí trong gia đình, cha phải cho ra cha, mẹ phải cho ra
mẹ, con phải cho ra con, chồng cho ra chồng, vợ cho ra vợ, anh cho ra anh, em cho ra
em Ông bà, cha mẹ phải trở thành những mẫu mực về đạo đức, làm tấm gương để con
cháu noi theo.
Thứ tư, cần nâng cao nhận thức về phong trào xây dựng gia đình văn hóa, đó là cần chú

những gia đình Việt Nam do con đông, có khi các bậc làm anh chị phải từ bỏ con đường
học vấn để hy sinh giúp cho em mình có cơ hội học tập tiến thân.
Đạo lý kính trên nhường dưới là nền tảng quan trọng tạo nên văn hóa gia đình. Nó góp
phần xây dựng gia đình bền vững, cũng như tạo nên sự gắn kết keo sơn giữa các thành
viên trong gia đình, và quan trọng nhất là nó đã thúc đẩy sự ổn định của quốc gia.
3. Đạo lý uống ước nhớ nguồn
Các gia đình Việt Nam thường có bàn thờ tổ tiên, to hay nhỏ tùy hoàn cảnh từng nhà
nhưng cần đặt ở nơi cao ráo, sạch sẽ, có bày bát hương, lọ hoa để cúng bái những ngày
giỗ Tết. Những nhà có điều kiện rộng rãi thì thường bố trí bàn thờ tổ tiên ở nơi đẹp đẽ
nhất. Trên bàn thờ đặt ba bát hương, hai lọ hoa, những tấm ảnh của những người thân đã
mất, hai cái đĩa đẹp để bày đồ cúng, một chai rượu, bộ ấm chén v v bàn thờ luôn được
giữ gìn sạch sẽ. Có gia đình lúc nào trên bàn thờ cũng nghi ngút vài nén hương, không để
nguội lạnh, vì họ cho rằng điều đó sẽ đem lại sự yên lành cho con cháu.
Hàng tháng cứ ngày mồng 1, ngày rằm âm lịch, con cháu thắp hương cúng tổ tiên, ông bà
đã khuất, dù chỉ vài bông hoa tươi, bát nước, nải chuối…
Trong năm lại có nhiều ngày lễ lớn như: Tiết Thanh Minh tảo mộ tháng 3 âm lịch, Tết
Đoan Ngọ tháng 5, Rằm tháng 7 xá tội vong nhân, Tết Trung Thu, Tết Nguyên Đán v v
Đó là những dịp để các gia đình tổ chức cỗ bàn, bánh trái, mời bà con họ hàng, thân thích
đến cúng bái tổ tiên, gặp gỡ nhau, thăm hỏi, chia sẻ mừng vui, hoạn nạn.
Như vậy, đối với nhiều người Việt Nam, việc kỷ niệm ngày sinh nhật không quan trọng
(tuy rằng một số thanh niên trẻ hiện nay theo phong tục phương Tây lại coi trọng ngày
sinh nhật), mà họ coi ngày giỗ người thân qua đời là hết sức có ý nghĩa.
Thông thường sau đám tang lễ người thân đã mất, gia đình làm lễ cúng 3 ngày, rồi 49
ngày, đến giỗ đầu 1 năm thì làm rất trang trọng. Sau đó, hàng năm cứ đúng ngày người
thân đã mất thì gia đình đứng ra tổ chức ngày giỗ, mời bà con họ hàng đến cúng bái và ăn
giỗ.
Dù gia đình nghèo cũng có mâm cơm, thắp hương cúng bái, mời vài người thân đến tham
dự. Sự vắng mặt của họ hàng trong những ngày giỗ là nỗi khổ tâm của gia chủ và cũng là
sự ân hận của những người được mời mà không đến dự được (vì họ cũng coi đây là trách
nhiệm cần có mặt trong những ngày trọng đại).

buồn, khó khăn, tìm cách giúp đỡ nhau.
Có nhiều dòng họ, những ngày giỗ được tổ chức long trọng. Ông tộc trưởng chủ trì, với
đầy đủ đại diện các chi họ đến cúng bái tổ tiên. Sau đó, mọi người cùng bàn bạc những
việc cần làm để thể hiện lòng thành kính và biết ơn ông Tổ chung nhiều đời của dòng họ.
Mối quan hệ họ hàng, dòng họ đến nay được duy trì, củng cố chính từ phong tục thờ cúng
Tổ tiên vẫn đang được thực hiện ở nhiều gia đình Việt Nam và được tổ chức ngày càng
nề nếp hơn.
Tháng 3 Tảo mộ, họ hàng chú, bác, cô, dì cùng nhau đi thắp hương, sửa sang mồ mả
người thân đã khuất ở nghĩa địa làng hay nghĩa trang dòng họ, nghĩa trang thành phố
v v
Hiện nay, vẫn có phong tục hàng năm cứ ngày Tết Nguyên Đán, anh em cùng dòng họ ở
thành phố, đô thị lại tập hợp nhau về quê hương, thắp hương ở nhà thờ Tổ và đi tảo mộ
v v… Con cháu họp nhau nhắc đến công ơn tổ tiên và từ đó đã nảy sinh nhu cầu tìm hiểu
về dòng dõi nhiều đời đã qua để biên soạn thành gia phả dòng họ.
Thờ cúng Tổ tiên, ông bà cha mẹ đã khuất, con cháu không chỉ cảm phục công lao sinh
thành, dưỡng dục của họ và lo báo hiếu. Điều quan trọng là cần làm rạng danh họ hơn
nữa trong thời đại ngày nay. Chúng ta từ những việc làm hữu ích cho xã hội, cách ăn ở có
nghĩa, có tình với mọi người, làm tốt công việc chuyên môn hàng ngày, đóng góp cho sự
phát triển và củng cố nền độc lập, tự do, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Việt
Nam, góp phần làm rạng rỡ thêm dòng họ ông cha ta.
Như vậy, phong tục Thờ cúng Tổ tiên là dịp để nhắc nhở con cháu noi gương những thế
hệ đã khuất và làm tốt hơn nữa công việc họ đã làm, như câu ca dao đã ví rằng:
“Con hơn cha là nhà có phúc”
Con hơn cha không phải là có tài sản, tiền bạc giàu có hơn mà ở đạo đức, nhân cách con
người, cư xử nhân nghĩa, làm ăn chính đáng, quan tâm giúp đỡ anh em họ hàng, người
nghèo trong xã hội v v…
Ý nghĩa tích cực, lâu dài của phong tục thờ cúng Tổ tiên chính là chúng ta cần hướng về
tương lai, mà không phải chỉ là quay về quá khứ để luyến tiếc, ca ngợi công lao ông bà,
cha mẹ đã khuất. Điều quan trọng của việc cúng bái tổ tiên là chúng ta cần suy nghĩ về
cuộc sống của bản thân: có tư cách đạo đức tốt hơn, cố gắng làm tròn trách nhiệm được

vào đó hình ảnh của người phụ nữ cùng những huyền thoại của họ ở mức nhiều như vậy
cũng là điều ít gặp ở các dân tộc khác.
Mặc dù Nho giáo cho phép Trai năm thê bảy thiếp/Gái chính chuyên chỉ lấy một chồng
nhưng bên cạnh việc ca ngợi những tấm gương chung thủy, tiết hạnh của người phụ nữ,
người Việt còn ca ngợi những người chồng có nghĩa, yêu vợ, người vợ mang nặng nghĩa
tào khang từ thuở còn phải chịu nghèo khổ cay đắng - dù có được gợi ý (đôi khi là ép
buộc) một cuộc hôn nhân với con gái một gia đình giàu có và nhiều quyền lực. Đề tài tiết
- nghĩa thường gặp trong các truyện nôm (Tống Trân - Cúc Hoa; Phạm Công - Cúc Hoa;
Hoa tiên,…).
Gia đình được coi là nền tảng của xã hội: Nước là gốc của thiên hạ, nhà là gốc của nước
(Thiên hạ chi bản tại quốc/Quốc chi bản tại gia) Sự ổn định bền vững của gia đình được
coi là cơ sở của sự ổn định bền vững của xã hội. Người phương Đông dồn tâm trí và sức
lực để xây dựng, phát triển gia đình (đông con nhiều cháu, giàu có, danh tiếng, ), coi
những thành quả đó là niềm tự hào và hạnh phúc của mình.
Trong ý niệm của những đôi vợ chồng Việt Nam xưa, sự hưởng thụ cá nhân không phải
là hạnh phúc. Thời gian son rỗi của đôi vợ chồng trẻ cũng không có ý nghĩa gì. Trong
quan niệm truyền thống của người Việt về quan hệ vợ chồng không hề có khái niệm Tuần
trăng mật sau khi cưới. Người phụ nữ bao giờ cũng nhận phần hy sinh, chịu đựng để chu
toàn hạnh phúc gia đình. Họ có truyền thống hy sinh hạnh phúc cá nhân - hy sinh sự
hưởng thụ, hy sinh tuổi trẻ, thậm chí hy sinh cả bản thân cho hạnh phúc gia đình, cho
chồng và cả gia đình nhà chồng, cho con, cho cháu, Nhiều phụ nữ không những phải đẻ
con, nuôi con mà còn phải nuôi cả chồng ăn học, hy vọng đến ngày chồng đỗ đạt, vinh
hiển, mặc dù điều này cũng không có gì chắc chắn lắm. Nhiều khi họ phải thốt lên:
”Khuyên ai chớ lấy học trò/Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”. Nhưng họ vẫn cặm cụi hy
sinh, chỉ mong người chồng đánh giá đúng được điều đó, mong rằng “Gái có công chồng
chẳng phụ”,
Ở một đất nước sống dựa vào nền sản xuất nông nghiệp nhưng lắm thiên tai, lại phải trải
qua nhiều cuộc chiến tranh giữ nước, sự hy sinh của phụ nữ Việt Nam bị nhân lên bội
phần. Tần tảo, cần cù, kiên cường, chịu đựng, thủy chung, là những gì luôn được nhắc
đến khi nói về những phẩm chất tốt đẹp của những người phụ nữ, những người vợ, người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status