Nghiên cứu nhu cầu tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn thành phố bắc ninh tỉnh bắc ninh - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

TRẦN THỊ VÂN ANH
NGHIÊN CỨU NHU CẦU THAM GIA
BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI - 2014

Page i

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng. Các kết
quả nghiên cứu trong luận văn được tập hợp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội
Tỉnh Bắc Ninh

chưa từng được ai nghiên cứu và công bố trong bất cứ công
trình khoa học nào.

Người cam đoan

Trần Thị Vân Anh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình viết luận văn tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ
của các thầy cô giáo Bộ môn Kinh tế Tài nguyên và Môi trường, Khoa Kinh
tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam; Ban Giám đốc,
Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh; BHXH Thành phố Bắc Ninh. Đặc biệt là sự
tận tình hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Văn Song; sự ủng hộ, động viên của

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
Phần II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản về nhu cầu 5
2.1.2 Khái quát chung về bảo hiểm xã hội 10
2.1.3 Lý luận về bảo hiểm xã hội tự nguyện 13
2.1.4 Nội dung chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện 17
2.2 Thực tiễn về BHXH tự nguyện trên thế giới và Việt Nam 20
2.2.1 Mô hình BHXH tự nguyện ở Trung Quốc 20
2.2.2 Mô hình BHXH tự nguyện ở Thái Lan 21
2.2.3 Tình hình thực hiện bảo hiểm xã hội ở Việt Nam 23
2.2.4 Bài học kinh nghiệm rút ra từ tổng quan cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn
của địa phương và nghiên cứu của tác giả. 27
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv

Phần 3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 29
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên thành phố Bắc Ninh 29
3.1.2 Tình hình phát trển kinh tế - xã hội 33
3.1.3 Tổng quan về BHXH tỉnh Bắc Ninh 36
3.2 Phương pháp nghiên cứu 41
3.2.1 Phương pháp tiếp cận 41

4.5.2 Về nâng cao hiệu quả hoạt động, quản lý của hệ thống cơ quan BHXH 74
4.5.3 Về nâng cao nhận thức và khả năng tiếp cận BHXHTN cho người dân 77
4.5.4 Về tăng cường hoạt động tuyên truyền, phổ biến về BHXHTN 78
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
5.1 Kết luận 80
5.2 Kiến nghị 82
5.2.1 Đối với nhà nước 82
5.2.2 Đối với tỉnh Bắc Ninh 83
5.2.3 Đối với cơ quan BHXH 83
5.2.4 Đối với người lao động 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 87 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASXH : An sinh xã hội
BHXH : Bảo hiểm xã hội
BHXHTN : Bảo hiểm xã hội tự nguyện
CC : Cơ cấu
CNH - HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
KT - XH : Kinh tế - xã hội
SL : Số lượng
TP : Thành phố

Hình 2.1: Tháp nhu cầu 7
Hình 3.1: Bản đồ tỉnh Bắc Ninh 30

Sơ đồ 2.1: Hệ thống các chính sách trong BHXH 24
Sơ đồ 2.2: Mô hình cơ cấu tổ chức BHXH Việt Nam 26
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy BHXH tỉnh Bắc Ninh 39
Sơ đồ 3.2: Khung phân tích 45

Đồ thị 4.1: Kết quả thu BHXH tự nguyện TP Bắc Ninh từ 2010 – 2013 53
Đồ thị 4.2: Ý kiến của người dân về mong muốn tham gia BHXHTN 58
Đồ thị 4.3: Nhu cầu tham gia BHXHTN theo các phương thức đóng 66
Đồ thị 4.4: Ý kiến của người dân về thủ tục tham gia BHXHTN 69

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1

Phần I
ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm thực hiện đổi đường lối đổi mới kinh tế (kể từ sau Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VI) nền kinh tế Việt Nam bước sang một thời kỳ
phát triển mới. Sự chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã
đem lại nhiều thành tựu to lớn cho đất nước, đời sống nhân dân ngày càng được
cải thiện rõ rệt. (Thành tựu 20 đổi mới - 2006)
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, BHXH ngày càng trở nên quan trọng góp phần đảm bảo công bằng xã
hội và phát triển xã hội một cách bền vững. Ở nước ta BHXH là một chính
sách xã hội lớn của Đảng và Nhà nước được quy định trong Hiến pháp, các
văn kiện của Đảng và không ngừng được phát triển, hoàn thiện nhằm từng

sách hiện hành chưa hấp dẫn với người tham gia; công tác tuyên truyền còn
kém hiệu quả, 80% người tham gia BHXH tự nguyện là qua giới thiệu của
người thân, đối tượng tiếp cận thông tin tuyên truyền qua các phương tiện
truyền thông không nhiều; chưa có cơ chế khuyến khích mở rộng phát triển
đối tượng với cơ quan thực hiện chính sách BHXH tự nguyện. (Bảo hiểm xã
hội tỉnh Bắc Ninh, quý 4/2013).
Vấn đề cần đặt ra là làm thế nào để người dân nhận thức được sự cần
thiết tham gia BHXH tự nguyện? Giải pháp nào giải quyết việc tham gia
BHXH tự nguyện của người dân? Những yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu tham
gia BHXH tự nguyện của người dân? Vấn đề thể chế và tổ chức thực hiện, đội
ngũ cán bộ quản lý, thực hiện trong ngành BHXH? Xuất phát từ những lý do
trên, tôi chọn đề tài "Nghiên cứu nhu cầu tham gia bảo hiểm xã hội tự
nguyện trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh" làm nội dung
nghiên cứu nhằm góp phần giải quyết những vấn đề còn hạn chế đã nêu trên.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3

1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở kết quả, đánh giá thực trạng việc tham gia BHXH tự
nguyện, nhu cầu và cầu tham gia BHXH tự nguyện của người dân trên địa bàn
TP Bắc Ninh; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường, thu hút người dân
tham gia BHXH tự nguyện trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn việc nghiên cứu nhu cầu,
cầu tham gia BHXH tự nguyện ở địa bàn thành phố Bắc Ninh;
- Đánh giá thực trạng và nhu cầu, cầu tham gia BHXH tự nguyện của
người dân trên địa bàn thành phố; Phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng tới
nhu cầu, cầu tham gia BHXH tự nguyện của người dân;
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường, thu hút người dân tham gia
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5

Phần II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản về nhu cầu
Từ lâu nhu cầu đã là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa
học nghiên cứu sinh học và xã hội. Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội vấn đề về
nhu cầu được tìm thấy trong nghiên cứu của các nhà khoa học tên tuổi
như Jeremy Bentham, Benfild, Milliam Stanley Jevons, John Ramsay
McCulloch, Edward. Herman. Có nhiều quan điểm, cách nhìn khác nhau về
khái niệm nhu cầu:
* Theo Kinh tế học: Nhu cầu được hiểu là nhu cầu tiêu dùng, là sự cần
thiết của một cá thể về một hàng hoá hay dịch vụ nào đó. Khi nhu cầu của
toàn thể các cá thể đối với một mặt hàng trong một nền kinh tế gộp lại, ta có
nhu cầu thị trường. Khi nhu cầu của tất cả các cá thể đối với tất cả các mặt
hàng gộp lại ta có tổng cầu.

Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công
bằng, an tâm, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân.
Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống, họ sẽ không quan tâm đến
các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng, (Hình 2.1: Tháp nhu cầu): Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7 Hình 2.1: Tháp nhu cầu
Cấu trúc của Tháp nhu cầu có 5 tầng, trong đó, những nhu cầu con
người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp.
- Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thể lý" (physiological)
- thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi.
- Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety) - cần có cảm giác yên tâm về
an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo.
- Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc
(love/belonging) - muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có
gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy.
- Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem) - cần có
cảm giác được tôn trọng, kinh mến, được tin tưởng.
- Tầng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-actualization) -
muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có
được và được công nhận là thành đạt.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8

Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thoả mãn trước khi
nghĩ đến các nhu cầu cao hơn. Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong


Trên thực tế người dân luôn đứng trước tình trạng mọi chủng loại sản
phẩm đều có rất nhiều nhãn hiệu. Người dân lại có những ước muốn và nhu
cầu khác nhau đối với mỗi sản phẩm, dịch vụ. Họ đòi hỏi ngày càng cao về
chất lượng. Đứng trước sự lựa chọn vô cùng phong phú như vậy, nguời dân sẽ
bị hấp dẫn bởi những sản phẩm nào đáp ứng tốt nhất nhu cầu và mong muốn
của cá nhân họ. Vấn đề được coi là cốt lõi nhất, cơ bản nhất là nhu cầu ước
muốn của người dân. Vì thế, nghiên cứu về nhu cầu của nguời dân là cô cùng
quan trọng đối với mỗi ngành nghề nói chung và ngành BHXH nói riêng, có
như thế BHXH mới có thể nâng cao hơn nữa khả năng của mình trong việc
phát triển đối tuợng tham gia. Bởi vì bằng cách hiểu về khách hàng thì mới có
thể tìm cách làm thoả mãn họ. Việc nghiên cứu về nhu cầu với tính cách là sự
phản ánh các điều kiện sống khách quan không những cho chúng ta hiểu sâu
sắc hơn về xu hướng tiêu dùng của người dân, giúp cho việc định hướng
những chính sách sao cho phù hợp, nâng cao uy tín, đáp ứng một cách tốt nhất
nhu cầu của nguời dân.
Khái niệm liên quan đến cầu
Khái niệm cầu (Demand) “Cầu là số lượng hàng hoá dịch vụ mà người
tiêu dùng (với tư cách là người mua) có khả năng và sẵn lòng mua ở các mức
giá khác nhau (mức giá chấp nhận được) trong phạm vi không gian và thời
gian nhất định khi các yếu tố khác không thay đổi”. (Giáo trình kinh tế học vi
mô; NXB Nông nghiệp – 2006).
Khi nói đến cầu chúng ta không thể không nhắc đến lượng cầu; Lượng
cầu: “là số lượng hàng hoá dịch vụ mà người tiêu dùng có khả năng và sẵn
sàng mua ở một mức cụ thể (khi các yếu tố khác không thay đổi)”.
- Cầu cá nhân:
Cầu cá nhân à ứng xử của một cá nhân khi muốn mua một hàng hoá
hay dịch vụ nào đó. Nó chỉ tồn tại nếu cá nhân đó sẵn sàng và có khả năng
mua, điều này phụ thuộc vào hai yếu tố:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11

hiểm bằng cách nộp các khoản phí để hình thành quỹ dự trữ. Khi người tham
gia gặp rủi ro dẫn đến tổn thất, người tham gia bảo hiểm lấy quỹ dự trữ cấp
hoặc bồi thường thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia. (Giáo
trình Bảo hiểm, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 2005).
b) Bản chất của bảo hiểm
Thực chất của bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm trong
nước giữa những người tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh tại
nạn, rủi ro bất ngờ xảy ra tổn thất đối với người tham gia bảo hiểm. Mục đích
chủ yếu của bảo hiểm là góp phần ổn định kinh tế cho người tham gia từ đó
khôi phục và phát triển sản xuất, đời sống, đồng thời tạo nguồn vốn cho phát
triển kinh tế và xã hội của đất nước.
Hoạt động bảo hiểm dựa trên nguyên tắc “Số đông bù số ít”, thể hiện
tính tương trợ, tính xã hội và nhân văn sâu sắc của xã hội trước rủi ro của mỗi
thành viên. Nguyên tắc này được quán triệt trong quá trình lập quỹ dự trù bảo
hiểm cũng như trong quá trình phân phối bồi thường, quá trình phân tán rủi
ro. Hoạt động bảo hiểm còn liên kết, gắn bó các thành viên trong xã hội cùng
vì lợi ích chung của cộng đồng, vì sự ổn định, sự phồn vinh của đất nước.
(Trích Giáo trình bảo hiểm Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 2005).
2.1.2.2 Bảo hiểm xã hội
a) Khái niệm:
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập một) thì: “BHXH là sự thay thế
hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm thu
nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất
nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của
các bên tham gia BHXH có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm
đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp
phần đảm bảo an toàn xã hội”.

lao động thì mới được hưởng BHXH.
- BHXH được thực hiện trên cơ sở một quỹ tiền tệ.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13

Cho đến nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam chưa có một khái niệm
thống nhất về BHXH. Ở nước ta, theo Điều 3 của Luật bảo hiểm xã hội: “Bảo
hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người
lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc bị chết, trên cơ sở
đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”.
b) Phân loại BHXH
BHXH là một vấn đề kinh tế xã hội tổng hợp có thể tiếp cận, nghiên
cứu ở nhiều góc độ khác nhau, do vậy có nhiều cách và tiêu chí phân loại
khác nhau. Dựa vào hình thức tham gia BHXH người ta chia BHXH thành hai
loại BHXH tự nguyện và BHXH bắt buộc.
- Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình BHXH mà đối tượng tham gia
là những người không thuộc diện tham gia bảo hiểm bắt buộc theo quy định
của Nhà nước. Người lao động toàn quyền quyết định việc mình có tham gia
hay không mà không chịu sự ràng buộc của pháp luật. BHXHTN có hai bên
liên quan là người lao động và cơ quan BHXH.
- Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình BHXH mà Nhà nước quy định
những người lao động làm việc trong các cơ quan Nhà nước, các tổ chức,
công ty có sử dụng 10 lao động trở lên buộc phải tham gia BHXH theo quy
định của pháp luật. BHXH bắt buộc có ba bên liên quan là người sử dụng lao
động, người lao động và cơ quan BHXH.
2.1.3 Lý luận về bảo hiểm xã hội tự nguyện
2.1.3.1 Khái niệm BHXH tự nguyện:
Theo quy định tại điều 3 Luật BHXH, thì: “BHXH tự nguyện là loại
hình bảo hiểm mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức

tượng tham gia BHXH tự nguyện sẽ có tác dụng cho việc phân bổ lao động,
tuyển dụng lao động giữa các khu vực, các ngành, các lĩnh vực và giữa các
thành phần kinh tế dễ dàng, là động lực để thúc đẩy kinh tế ở khu vực nông
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15

nghiệp và các khu vực khác tăng trưởng và phát triển. (Các khái niệm về bảo
hiểm xã hội)
* Bản chất xã hội
BHXH tự nguyện ra đời không vì mục tiêu lợi nhuận, mà góp phần
thực hiện công bằng xã hội thông qua việc chi trả các chế độ BHXH tự
nguyện khi người tham gia bị tổn thất do rủi ro, tuổi già, đảm bảo cuộc sống
và an sinh xã hội.
2.1.3.3 Vai trò của BHXH tự nguyện đối với người lao động
* Đối với người lao động
BHXH tự nguyện ra đời sẽ góp phần trợ giúp cho những người
lao động gặp phải rủi ro bất hạnh nhanh chóng khắc phục khó khăn bằng cách
tạo cho họ thu nhập thay thế, những điều kiện sinh hoạt thuận lợi giúp họ ổn
định cuộc sống khi không còn khả năng lao động, tạo cho họ niềm tin vào tương
lai. Từ đó, góp phần quan trọng vào tăng năng suất lao động cũng như tinh thần
nỗ lực vì sự phát triển của cá nhân các hộ nói riêng và toàn xã hội nói chung.
(Các khái niệm về bảo hiểm xã hội)
* Đối với xã hội
Thứ nhất, cần phải khẳng định rằng BHXH TN là một loại dịch vụ
công. Hoạt động BHXH TN giống như một “doanh nghiệp” sản xuất ra những
dịch vụ “bảo hiểm” cho người lao động, một loại dịch vụ cần cho tất cả mọi
người trong toàn xã hội chứ không phải chỉ la cán bộ, công nhân viên chức.
Khi các tổ chức này sản xuất và cung ứng ngày càng nhiều loại dịch vụ bảo
hiểm, đáp ứng đa dạng các nhu cầu người dân thì giá trị của các dịch vụ này
ngày càng tăng và là một bộ phận trực tiếp làm gia tăng tổng sản phẩm xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status