TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Lâm Nghiệp
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC VÀ LỰA
CHỌN CÁC LOÀI TẠO SẢN PHẨM DỊCH VỤ DU LỊCH SINH THÁI TẠI
LÀNG VIỆT TIẾN - A NÔR, XÃ HỒNG KIM, HUYỆN A LƯỚI, TỈNH
THỪA THIÊN HUẾ
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THIÊN
Lớp: Lâm nghiệp 45
Thời gian thực hiện: Từ 05/01/2015 đến 25/05/2015
Địa điểm thực hiện: huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế
Giáo viên hướng dẫn: TS. Trần Minh Đức
Bộ môn: Quản lí Tài nguyên rừng và Môi trường
HUẾ, NĂM 2015
TÓM TẮT
Giới thiệu đề tài
Cây thuốc có giá trị để chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ, giúp con người có cơ
thể khoẻ mạnh để lao động, để tạo ra của cải vật chất, làm tăng thu nhập và nâng cao
chất lượng cuộc sống. Nếu biết bảo tồn và khai thác hợp lý thì đó còn là một nguồn
thu nhập trong phạm vi hộ gia đình và các cộng đồng địa phương. Tổ chức trồng cây
thuốc trên quy mô lớn để tạo ra nguồn hàng hoá trên thị trường thì nó sẽ góp phần vào
sự tăng trưởng kinh tế cho đất nước. Tuy nhiên, tài nguyên cây thuốc nói chung ở
nước ta đang bị suy giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau như cách thu hái, khai thác
chưa phù hợp, lịch thu hái một số loài cây thuốc không đúng thời vụ, khai thác gỗ…
Do vậy, cần có các hoạt động phục hồi và phát triển tài nguyên cây thuốc. Để việc
phát triển cây thuốc theo hướng tạo sản phẩm hàng hóa phục vụ du lịch sinh thái có
trọng điểm, có cơ sở khoa học và thực tiễn cần thiết phải có hoạt động nghiên cứu
đánh giá về nguồn tài nguyên hiện có, tuyển chọn các loài cây chủ lực tại địa phương
và dẫn giống một số loài có giá trị kinh tế và phù hợp thị hiếu của du khách để thử
Bước đầu điều tra được 302 loài cây thuốc, thuộc 123 họ của 4 ngành thực vật
bậc cao có mạch. Các taxon bậc họ chi loài thuộc ngành hạt kín là đa dạng nhất với
114 họ 251 chi 285 loài. Nhóm cây được sử dụng làm thuốc nhiều nhất là nhóm cây
thân thảo với 111 loài ; các cây thuốc có phân bố chủ yếu là ở rừng tự nhiên rừng
trồng;. Lá cây là bộ phận được sử dụng nhiều nhất trong các bộ phân làm thuốc với
112 loài chiếm 37,09 %.
Kiến thức bản địa của người dân trong việc khai thác sử dụng, bảo tồn và phát
triển cây thuốc mai một dần. Chúng tôi đã đề xuất được 36 loài cây trong vườn sưu
tập các loài cây thuốc. Bước đầu mô hình trồng Giảo cổ lam có dấu hiệu khả quan,
còn hai mô hình trồng Đẳng sâm thì chưa thành công.
Kiến nghị
Tiếp tục điều tra nghiên cứu các loài thực vật làm thuốc.
Tạo điều kiện cho người dân nơi đây sử dụng các loài thực vật làm thuốc như
nâng cao và bổ sung nguồn kiến thức về các loài cây thuốc.
Cần có nhiều biện pháp hơn nữa để giữ gìn cũng như bổ sung thêm vào kiến
thức bản địa về cây thuốc.
Khuyến khích người dân gây trồng các loài thực vật sử dụng làm thuốc, Hỗ trợ
thêm về kĩ thuật cũng như công nghệ mới, cung cấp thông tin cần thiết phục vụ cho
việc gây trồng mang lại hiểu quả cao.
Thử nghiệm nhiều mô hình trồng Đẳng sâm và Giảo cổ lam ở những vị trí khác
nhau, thuận lợi hơn.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thiên nhiên ưu đãi cho chúng ta một tài nguyên thực vật làm thuốc đa dạng và
nhiều giá trị sử dụng. Vì vậy từ ngày xưa đến nay con người đã biết sử dụng để làm
thuốc chữa bệnh. Với khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nóng ẩm nên Việt Nam có hệ
thực vật phong phú và đa dạng. Rừng Việt Nam với hơn 7.000 loài được mô tả thì có
tới 3.830 loài có dược tính được sử dụng làm thuốc (Theo thống kê của Viện Dược
liệu - Cây thuốc Việt Nam). Theo Võ Văn Chi, năm 2012 đa thống kê được 4.700 loài
cây làm thuốc, con số đó chắc hẳn còn chưa đầy đủ, bởi vì kho tàng cây thuốc và kinh
nghiệm chữa bệnh từ cây cỏ của đồng bào các dân tộc vô cùng lớn mà chúng ta chưa
phù hợp, để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, góp phần tích cực trong việc xoá
đói giảm nghèo cho người dân ở vùng núi. Theo kinh nghiệm ở Sa Pa, thu nhập từ
trồng cây thuốc đạt 14-24 triệu đồng/ha/năm, trong khi thu nhập từ cây lương thực chỉ
đạt 2,4- 4,8 triệu đồng/ha/năm (N.B. Hoạt, 2002).
Tài nguyên cây thuốc nói chung ở nước ta đang bị suy giảm do nhiều nguyên
nhân khác nhau: Cách thu hái, khai thác chưa phù hợp; Nhiều loài bị khai thác không
đúng với bộ phận sử dụng của chúng hoặc khai thác đúng bộ phận nhưng lại khai thác
kiệt. Ví dụ như Lá khôi thì chỉ cần thu hái lá mà không cần đào cả thân, rễ. Những cây
lấy quả hạt như Trám, Tai chua, Dẻ, chỉ thu hái quả mà không cần phải đốn cả cây.
Lịch thu hái một số loài cây thuốc không đúng thời vụ: trong hoạt động sản xuất cũng
như tự nhiên thì các loài cây sẽ cho các sản phẩm có chất lượng cao trong một thời
gian, mùa vụ nhất định, do đó mà khi thu hái con người phải biết vận dụng để mang
lại hiệu quả cao nhất. Cường độ khai thác cây thuốc quá cao; Phát đốt chặt phá rừng
làm nương rẫy: Việc đốt nương làm rẫy là phong tục truyền thống lâu đời của đồng
bào các dân tộc thiểu số vùng cao. Một số hộ dân vẫn chặt đốt rừng phòng hộ, rừng
đặc dụng hoặc rừng sản xuất được giao. Việc đốt nương làm rẫy nói chung và đốt
rừng trái phép đều là nguyên nhân dẫn đến suy thoái tài nguyên rừng trong đó có các
loài cây thuốc. Khai thác gỗ: Đối với những loài khai thác gỗ thì cũng là nguyên nhân
suy thoái cây thuốc. Do vậy song song với việc bảo tồn và khai thác hợp lý nguồn tài
nguyện hiện có trong tự nhiên cần có các hoạt động phục hồi và phát triển thông qua
các hình thức khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, làm giàu hay trồng mới các loài cây
thuốc, trong đó ưu tiên các loài bị đe dọa và các loài có giá trị kinh tế cao.
Phát triển cây thuốc có thể tạo ra nhiều cơ hội mới về việc làm và thu nhập cho
người dân miền núi trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số tại khu du lịch sinh thái
trọng điểm của huyện A Lưới là thác A Nôr xã Hồng Kim. Để việc phát triển cây
thuốc theo hướng tạo sản phẩm hàng hóa phục vụ du lịch sinh thái có trọng điểm, có
cơ sở khoa học và thực tiễn cần thiết phải có hoạt động nghiên cứu đánh giá về nguồn
tài nguyên hiện có, tuyển chọn các loài cây chủ lực tại địa phương và dẫn giống một
số loài có giá trị kinh tế và phù hợp thị hiếu của du khách để thử nghiệm gây trồng tại
chỗ.
Ở Mỹ, dược thảo rất thông dụng với thổ dân bản xứ. Năm 1716, nhà thám hiểm
người Pháp Lafitau đã tìm ra sâm Mỹ ở vùng New World. Hiện nay sâm là tài nguyên
xuất cảng quan trọng của Hoa Kì. Hộ đồng thực vật mỹ dựa vào hai công trình của
Đức và Anh, đã soạn thảo một tài liệu nói về 26 dược thảo thông dụng.
Trong những năm gần đây xu thế thời đại có xu hướng trở về với y học cổ truyền.
theo tổ chức y tế thế giới (WHO) cũng như nhiều nhà khoa học có tên tuổi trên thế
giới đưa ra ý kiến : “Các dân tộc đều có một nền y học cổ truyền do cha ông để lại”.
Để tồn tại, loài người đã tìm thấy trên mãnh đất chôn nhau cắt rốn của mình có biết
bao nhiêu thứ thuốc mà thiên nhiên đã dành sẵn cho mình. Vậy nên dùng cây nhà lá
vườn mà chữa bệnh”. Đúng như người thầy thuốc vĩ đâị của Việt Nam Tuệ Tĩnh nói:
“Nam dược trị nam nhân”
[10]
. (Trương Xuân Nam, 1987)
Theo đánh giá chung của WHO thì có tới 80% dân số toàn thế giới vẫn thường
xuyên sử dụng cây thuốc cho việc chăm sóc sức khỏe ban đầu (Inglis, 1994). Đặc biệt
trong những năm gần đây nhu cầu sử dụng cây thuốc tăng lên khá đáng kể, đang tạo ra
thị trường sôi động ở châu Âu và Bắc Mỹ. Ở Mỹ có khoảng 35 triệu người dùng
thuốc đông y và phương pháp châm cứu, xoa bóp. Ở Trung Quốc, doanh thu từ các
cây thuốc tăng lên nhanh chóng, hằng năm tiêu thụ 700000 tấn dược liệu, sản phẩm
thuốc y học dân tộc đạt giá trị 1,7 tỷ USD vào năm 1986, chiếm 33,1% thị trường
thuốc năm 1995. Tại Nhật Bản năm 1979 nhập 21000 tấn, năm 1980 tăng lên 22640
tấn dược liệu, tương đương 50 triệu USD, chiếm 12% giá trị tổng sản lượng thuốc. Ở
Cameroon, vỏ một loại cây làm thuốc là Prunus (họ Roáceae) được khai thác để xuất
khẩu trong những năm 1990, có đến 3000 tấn loại này được xuất khẩu hàng năm cho
giá trị cỡ 220 triệu
[16]
.
Do nhu cầu về cây thuốc ngày càng cao, thêm vào đó khai thác mà chưa chú trọng
tới bảo tồn nên các nguồn tài nguyên cây thuốc đang bị suy giảm. Hiện nay, phong
trào dùng cây thuốc để phòng và chữa bệnh trên thế giới đã đặt ra một vấn đề cần lưu
Tảo, Rêu, Nấm và Côn trùng làm thuốc mới được thống kê còn quá ít.
Trong tổng số 3948 loài cây thuốc, gần 90 % là cây thuốc mọc tự nhiên, tập tung
chủ yếu trong các quần xã rừng, chỉ có gần 10 % là cây thuốc trồng. Theo số liệu
thống kê của ngành Y tế, mỗi năm ở Việt Nam tiêu thụ từ 30 - 50 tấn các loại dược
liệu khác nhau để sử dụng trong y học cổ truyền làm nguyên liệu cho công nghiệp
Dược và xuất khẩu. Trong đó, trên 2/3 khối lượng này được khai thác từ nguồn cây
thuốc mọc tự nhiên và trồng trọt trong nước. Riêng từ nguồn cây thuốc tự nhiên đã
cung cấp tới trên 20.000 tấn mỗi năm. Khối lượng dược liệu này trên thực tế mới chỉ
bao gồm từ hơn 200 loài được khai thác và đưa vào thương mại có tính phổ biến hiện
nay. Bên cạnh đó, còn nhiều loài dược liệu khác vẫn được thu hái, sử dụng tại chỗ
trong cộng đồng và hiện chưa có những con số thống kê cụ thể.
Theo kết quả điều tra của viện dược liệu trong thời gian 2001 2005, số loài cây
thuốc ở vùng trọng điểm thuộc các tỉnh gắn với dãy Trường Sơn như sau: Đắc Lăk
(751 loài), Gia Lai (783 loài), Kon Tum (841 loài), Lâm Đồng (756 loài).
Ở Việt Nam, tập dược liệu đầu tiên được xuất bản năm 1429 thời Lê Thái Tổ. đó là
cuốn “Bản thảo thực vật toàn yếu” do Phạm Chu Tiên biên soạn. Tập dược liệu có giá
trị thứ hai là cuốn “ Nam dược thần hiệu” của Tuệ Tĩnh. Trong cuốn Nam dược thần
hiệu tác giả đã nêu rõ giá trị của các vi thuốc nam. Theo ông đối với người nam, thuốc
nam thích hợp và tốt hơn cả. Trong sách ông kê tên, công dụng và cách dùng 630 vị
thuốc kèm theo tập 13 đơn thuốc và 37 cách chữa các chứng sốt. Có thể nói rằng Tuệ
Tĩnh là người đầu tiên khai sáng cho nên y học Việt Nam.
Tiếp theo có Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Ông đã có 40 năm nghiên cứu và
mất 30 năm để viết nên pho sách lớn “ Hải thượng y tôn tâm lĩnh” năm 1884, gồm 28
tập, 66 quyển. Ngoài viết sách ông còn mở trường đào tạo y sinh, truyền bá tư tưởng
và quan niệm của mình về y học. Cùng thời với Hải Thượng Lãn Ông có hai trạng
nguyên Nguyễn Nho và Ngô Văn Tĩnh biên soạn tập “ Vạn phương tập nghiệm” gồm
8 quyển xuất bản năm 1763. Tập “ Nam bang thảo mộc” xuất bản năm 1858, trong đó
tác giả ghi 100 cây thuốc theo kinh nghiệm bản thân.
Trong những năm gần đây để đưa ngành dược hội nhập với khu vực và toàn cầu,
Đảng và nhà nước tổ chức nhiều hội nghị dược liệu lần thứ nhất được tổ chức trọng
Nguyễn Viết Tuân ở Trường Đại Học Nông Lâm Huế năm 2006 đã biên soạn cuốn
sách “ Kĩ thuật gây trồng và bảo tồn một số loài cây thuốc nam” nhằm bảo tồn và phát
triển nguồn dược liệu, cung cấp cho người dân những thông tin về đặc điểm nhận biết,
kĩ thuật gây trồng cũng như sơ chế một số loài cây thuốc nam có giá tri kinh tế, giúp
người dân nâng cao thu nhập từ rừng.
Lương y Vương Thừa Ân (2007) với tuyển tập “Thuốc quý quanh ta” giới thiệu
cách phân biệt, chế biến bảo quản sử dụng thuốc, ý nghĩa và công dụng của các vi
thuốc, những bài thuốc hay từ những cây thuốc đơn giản xung quanh con người.
Mặc dù có nguồn tài nguyên thực vật vật phong phú và kinh nghiệm sử dụng dược
liệu làm thuốc từ xa xưa nhưng hiện tại hệ thống bảo tồn và gìn giữ, xây dựng và phất
triển nguồn gen, giống cây thuốc còn hạn chế. Theo số liệu của cơ quan chức năng
năm 2000, nguồn dược liệu nuôi trồng trong nước chỉ đạt 26%, một con số rất khiêm
tốn trong khi tiềm năng của nước ta vô cùng lớn. Dược liệu sử dụng chủ yếu dựa vào
nhập khẩu thông qua con đương tiểu ngạch chiếm tỉ lệ lớn (54%) mà chất lượng chưa
được kiểm tra và quản lý chặt chẽ, chon en vấn đề “ dược liệu hay là rác” đang đặt ra
hết sức cấp thiết. Trong những năm qua, bộ y tế cũng đã phê duyệt một số đề tài khoa
học về cây dược liệu có tiêm năng cung cấp nguồn dược liệu để nghiên cứu, bào chế
thuốc phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân như phát triển cây Sâm Việt
Nam, cây Thanh Hao hoa vàng, Trinh nữ hoàng cung… Tuy nhiên, một số loài cây
thuốc quý có giá trị kinh tế và chữa bệnh như Ngũ Gia Bì, Vàng Đắng, Ba Kích, Lan
Kim Tuyến… trước kia vẫn còn phong phú nhưng đến nay bị suy giảm nghiêm trọng
hoặc được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam. Theo viện dược – bộ y tế, hiện ở Việt Nam có
khoảng 600 loài cây thuốc quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng.
Chính vì vậy, để bảo tồn nguồn nguyên liệu cây thuốc đáp ứng được nhu cầu hiện
tại và trong tương lai,phải ra sức phát triển cây thuốc để tiến dần tới tự cung tự cấp,
bảo vệ sức khỏe của nhân dân, thực hiện khâu hiệu “ có thuốc tại chỗ và không ngừng
tăng cường nguồn hàng xuất khẩu”
[15]
. Phải coi trọng dược liệu như cây công nghiệp
cao cấp. phải phát triển dược liệu có kế hoạch, cần chú ý giữa việc khai thác trong tự
o Địa hình, đất đai
o Khí hậu, thủy văn
o Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên sinh vật rừng (các loại rừng, tài nguyên động thực vật rừng )
Cảnh quan thiên nhiên và tiềm năng DLST
Các nguồn TNTN khác (khoáng sản, nguồn nước, tiềm năng năng lượng )
• Điều kiện kinh tế, xã hội
o Dân cư (dân số, lao động, dân tộc )
o Mức sống, thu nhập và cơ sở hạ tầng
o Ngành nghề và các hoạt động kinh tế
o Các đặc trưng về văn hóa (phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội )
b. Hiện trạng tài nguyên rừng và hoạt động DLST
• Hiện trạng tài nguyên rừng
o Diện tích và phân bố các loại rừng
o Quy hoạch sử dụng rừng, đất lâm nghiệp và giao đất, giao rừng
o Kết quả hoạt động bảo vệ và phát triển rừng trong những năm gần đây
• Hoạt động phát triển du lịch sinh thái
o Các chủ trương và chính sách của địa phương về phát triển DLST
o Hình thức tổ chức DLST
o Các loại hình sản phẩm và dịch vụ du lịch sinh thái
o Những kết quả đạt được
o Những thuận lợi và khó khăn
2/. Đánh giá tính đa dạng loài cây thuốc tại Khu DLST A Nôr, xã Hồng Kim;
• Đa dạng về thành phần loài và các taxon phân loại
• Đa dạng về dạng sống, vùng phân bố của các loài cây thuốc
• Đa dạng về công dụng và bộ phận sử dụng
• Số lượng loài đặc hữu và các loài có giá trị bảo tồn
3/. Tìm hiểu kiến thức bản địa của người dân địa phương trong việc khai thác, sử
dụng, bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc;
• Mức độ hiểu biết về loài cây thuốc và công dụng làm thuốc
3.4.2.1 Phương pháp điều tra thực địa
- Tiến hành điều tra theo tuyến và các tuyến sẽ đi qua các sinh cảnh rừng để xác
định tài nguyên cây dược liệu tại vùng.
- Đồng thời tiến hành thu thập mẫu vật và xử lý sơ bộ ngoài thực địa
- Chụp ảnh đặc tả các loài bắt gặp tại hiện trường
3.4.2.2 Phương pháp phỏng vấn
- Tiến hành điều tra phỏng vấn hộ gia đình về các loài cây làm thuốc, công dụng
và bộ phận sử dụng trong việc phòng chữa bệnh; khả năng khai thác dựa vào
cộng đồng địa phương; các loài đáp ứng nhu cầu sử dụng và khả năng trồng của
cộng đồng.
- Tiến hành phỏng vấn chuyên gia: các nhà đông y trên địa bàn xã, cán bộ kiểm
lâm, người đi rừng, các nhà nghiên cứu có am hiểu chuyên sâu về cây dược
liệu.
- Xác định tên địa phương của loài sau khi phỏng vấn người dân và các nhà đông
y.
3.4.2.3 Phương pháp xử lý và tra cứu mẫu thực vật
- Mẫu thực vật sau khi xử lý và giám định sơ bộ ở thực địa, tiến hành xử lý bằng
cách sấy, ép trong phòng thí nghiệm.
- Tra cứu về đa dạng loài, dạng sống, công dụng của các loài thực vật thu thập
dựa vào các tài liệu dược liệu liên quan
3.4.2.4 Phương pháp bố trí mô hình
- Bố trí mô hình trồng thử nghiệm
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Xử dụng phần mềm Excel và thống kê toán học trong phân tích xử lý số liệu
của đề tài.
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
4.1.1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu
4.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
*Đặc điểm khí hậu:
Xã Hồng Kim nằm trong khu vực thuộc khí hậu miền trung chịu ảnh hưởng của
gió mùa, hình thành hai mùa mưa nắng rõ rệt, mùa hè gió tây nam nắng nóng kéo dài
từ tháng tư đến tháng chín, mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc lạnh kéo
dài từ tháng mười đến tháng ba năm sau, xen giữa hai mùa có gió đông nam ẩm và gió
tây bắc khô rét. Nhiệt độ trung bình năm là 21
o
C. Nhiệt độ cao nhất là 38,5
o
C, thấp
nhất là 10
o
C. Lượng mưa bình quân là 3120mm, hấp nhất là 2520mm, cao nhất là
4570mm. Số ngày mưa trong năm là 210 ngày, thường tập trung cao vào tháng 10, 11,
12. Độ ẩm trung bình là 68%. Hướng gió chính là Tây Nam thổi từ tháng 4 đến tháng
9, hướng gió Đông Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau.
* Đặc điểm thủy văn: Do nhận được lượng mưa hằng năm lớn nên trên địabàn
xã Hồng Kim có mạng lưới khe sông suối khá dày đặc như suối Ta Rình, suối A
Noorr mặc dù lưu vực không rộng lắm nhưng các con sông suối nhỏ đã phục vụ đắc
lực cho việc tưới tiêu cũng như cung cấp nước sinh hoạt cho người dân nơi đây.
Ở đây lũ chỉ xảy ra trong 3 tháng gần cuối mùa mưa ( tháng 9, 10, 11), tức là lũ
xảy ra chậm hai tháng và kết thúc trước một tháng so với mùa mưa. Điều này chứng
tỏ ở đây thảm thực vật rừng che phủ tốt và tầng đất dày, dễ thấm nước nên có tác dụng
điều tiết dòng chảy khu vực, chính vì vậy về mùa khô nhờ có nước ngầm cung cấp
nên các con sông suối ở đây ít khô cạn.
d. Tài nguyên thiên nhiên
* Tài nguyên rừng:
Hiện nay xã Hồng Kim có diện tích rừng 3800,16 ha với rừng tự nhiên 3486,6 ha,
trong đó có 408,52 ha đất rùng sản xuất, 489,90 ha đất rùng phòng hộ và 2890,38 ha
rùng đặc dụng. Rừng giàu đạt 2182,1 ha, rừng trung bình đạt 1251,8 ha và rừng phục
rừng đã nắm rõ vai trò, trách nhiệm, quyền lợi của mình. Với sự hướng dẫn của Kiểm
lâm địa bàn các chủ rừng đã tự tổ chức quản lý hiệu quả diện tích rừng được giao, đã
tổ chức ngăn chặn và phản ánh thông tin về tình hình công tác quản lý bảo vệ rừng kịp
thời cho cơ quan chức năng như Hạt Kiểm lâm, UBND xã.
- Tình hình quản lý và sử dụng diện tích đã giao rừng, cho thuê rừng của tổ chức,
cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân, nhóm hộ gia đình:
+ Các chủ rừng đã triển khai họp và phổ biến cho các thành viên trong cộng
đồng, nhóm hộ biết về vai trò, trách nhiệm khi được nhận rừng để bảo vệ.
+ Các tổ chức, cộng đồng dân cư và các nhóm hộ gia đình nhận rừng đã xây
dựng được phương án quản lý rừng, phân công lực lượng tham gia tuần tra rừng
thường xuyên hàng tháng, tuy nhiên việc tuần tra đôi lúc còn mang tính hình thức,
không thường xuyên, hiệu quả không cao, một số nơi không tổ chức tuần tra kiểm
soát do không có kinh phí.
* Cảnh quan thiên nhiên và tiềm năng du lịch sinh thái:
Du lịch sinh thái nổi tiếng nhất là khu du lịch sinh thái A Nôr. Khu này có diện
tích trên 10 ha, mây mù bao phủ qanh năm gợi cho du khách cảm giác gần gũi với
cảnh vật ở nơi đây. Thác A Nôr cách trung tâm huyện chỉ 03 km về phía Đông Bắc.
Phong cảnh tuyệt đẹp với 03 thác nước không xa nhau, cao 8m, 60m và 120 m, tựa
như những bức màn nhung trắng muốt Thác A Nôr đang còn giữ nguyên dáng vẻ
hoang sơ, thời tiết ở đây mát dịu tạo cho du khách tham quan huởng một cảm giác
trong lành, mát mẻ. Nằm trong hướng du lịch tham quan thác A Nôr, du khách có thể
di chuyển ra hướng Bắc khoảng 10 km, sẽ thích thú khi ngắm cảnh đèo Pê Ke. Nơi
đây mỗi khi buổi sớm hoặc lúc hoàng hôn mây mờ trắng xóa cùng với sương núi đã
tạo nên một khoảng không gian bềnh bồng trông đẹp mắt.
Bên cạnh đó kết hợp với nhữnh thắng cảnh tự nhiên tuyệt đẹp như suối nước
nóng Tôm Trung, thác Pông Chất, hang động Kềnh Crâm ( xã A Roàng), hồ mặt nước
ngầm A Co (xã Phú Vinh, Hồng Thượng), đèo Pê Ke (xã Hồng Vân, Hồng Thủy), hầm
A Roàng (xã A Roàng) cùng nhiều ngọn thác, con suối róc rách thơ mộng, nhiều con
sông uốn lượn bao quanh thung lũng A Lưới rộng lớn như sông A Sáp, A Lin, Tà
Rình Chạy dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh là những dãy rừng nguyên sinh đan
- Trồng trọt: Diện tích gieo trồng năm 2014 là 114 ha, giảm 26 so với cùng kỳ; đã
tiếp nhận giống lúa DV 108, tổng số lượng 2.600 kg theo NĐ 42/TTg của Chính phủ
về việc hỗ trợ giống cho nhân dân vụ Đông – Xuân, đã cấp cho toàn thể nhân và đến
nay đã lập danh sách các hộ mua giống lúa vụ Đông – Xuân năm 2014-2015.
Lúa nước: Tổng diện tích gieo trồng vụ Đông – Xuân và Hè - Thu: 43 ha, sản
lượng lúa năm 2014 đạt: 457.520 kg, tăng 29.240 kg so với cùng kỳ năm 2013; trong
đó: Năng suất lúa bình quân vụ Đông - Xuân đạt 50,8 tạ/ha, giảm 0.4 tạ/ha so với
cùng kỳ năm 2013 ; năng suất vụ Hè - Thu đạt 55,6 tạ/ha, tăng 7,2tạ/ha so với cùng kỳ
năm 2013.
Cây ngô: Tổng diện tích trồng vụ Đông – Xuân năm 2013 - 2014: 6 ha, giảm 4
ha so với cùng kỳ năm 2013; năng suất bình quân 58,2 tạ/ha, tăng 8.2 tạ/ha so với
cùng kỳ năm 2013; sản lượng đạt 34.920 kg, giảm 15.080 kg so với cùng kỳ năm
2013
Cây sắn: Tổng diện tích sắn KM94 và sắn địa phương 50 ha, giảm 10 ha so với
cùng kỳ năm 2013; Năng suất đạt 90 tạ/ha, giảm 10 tạ/ha so với cùng kỳ năm 2013;
sản lượng đạt 450.000 kg, giảm 150.000 kg so với cùng kỳ năm 2013.
Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2014 đạt: 527.360 kg, tăng 94.080 kg so
với cùng kỳ năm 2013; sản lượng lương thực bình quân đạt: 282kg/đầu người/năm,
tăng 48 kg so với cùng kỳ năm 2013.
Rau các loại:
- Diện tích khoai các loại là: 03 ha.
- Diện tích rau màu khác là: 06 ha.
Chương trình trồng chuối hàng hoá: UBND xã đã tiếp nhận giống chuối chuối
1.730 cây, trong đó: Dự án BCC 200 cây, đến nay, diện tích trồng mới chuối là 7 ha.
Tỷ lệ sống đạt 90%.
2). Về chăn nuôi thú y
Về chăn nuôi: Năm 2014, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động các hộ chăn
nuôi vệ sinh chuồng trại, xây dựng chuồng trại cho gia súc, gia cầm với phương châm
ấm áp vào mùa đông, thoáng mát vào mùa hè. Dự án BCC đầu tư làm Mô hình nuôi
gà 200 con cho 01 hộ làm điểm tại thôn 6 (thôn 5), Chương trình xây dựng nông thôn
Nước sinh hoạt: Hiện nay, hộ gia đình trên toàn xã đang dùng nước sạch và
nước hợp vệ sinh là 479 hộ/479 hộ, tỷ lệ đạt 100%, trong đó hộ sử dụng nước sạch là
407 hộ, đạt 96,2%, hộ sử dụng nước giếng là 46 hộ, chiếm 10% , hộ sử dụng nước từ
trên cao chảy xuống là 26 hộ, chiếm 5,42%.
5). Lâm nghiệp
UBND xã đã triển khai theo Nghị quyết của HĐND xã về việc giao đất, giao
rừng cho nhóm cộng đồng, nhóm hộ gia đình, cá nhân tự quản lý, chăm sóc và bảo vệ
rừng. Dự án BCC đầu tư trồng rừng sinh kế 15 ha (keo, bơi lơi), Trồng làm giàu rừng
40 ha, trong đó: rừng cộng đồng thôn 3: 31ha, rừng cộng đồng thôn 4: 09 ha ( Dự án
BCC), Chủ yếu trồng cây Lim, Gõ, Sên.
Cây keo: Diện tích các hộ tự mua giống để trồng mới là 20 vào diện tích đất
rừng đã khai thác.
Cây mây: Diện tích năm 2014 là 17,5 ha, trồng tại rừng cộng đồng thôn 3, chủ
yếu là trồng ( thuộc Dự án BCC đầu tư).
b6. Công tác khuyến nông lâm
Mô hình thu gom rơm khô làm thức ăn gia súc: Đã tổ chức tập huấn kỹ thuật và
chỉ đạo 3 hộ làm mô hình thu gom rơm và xây dựng được 4 cây rơm dự trữ tại các
thôn.
6. Công tác phòng chống bão lũ, giảm nhẹ thiên tai
Đã kiện toàn BCĐ phòng chống bão lụt và xây dựng các phương án di dời các
hộ gia đình sống tại vùng sung yếu ngập lụt và sạt lỡ trên địa bàn.
c. Các đặc trưng về văn hóa, xã hội và môi trường
1) Văn hóa - giáo dục:
- Tỷ lệ thôn đạt chuẩn văn hóa có 2/6 thôn với 335 hộ đạt 73,64% hộ trên toàn xã.
- Phổ cập giáo dục THCS: Đạt
- Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học ( phổ thông, bổ túc,
nghề ): 65%.
2). Y tế:
- Xã đạt chuẩn quốc gia về y tế.
- Tỷ lệ tham gia các hình thức bảo hiểm y tế 45 %.
thuộc 7 chi, 5 họ.
Bảng 4.1. Sự phân bố các taxon cây thuốctrong các ngành thực vật
Stt Ngành Họ Chi Loài
SL TL% SL TL% SL TL%
1
Polypodiophyta (Thông đất)
2 1,63 2 0,76 3 0,99
2
Polypodiophyta (Dương xỉ)
5 4,07 7 2,65 9 2,98
3
Pinophyta (Thông)
2 1,63 4 1,52 5 1,64
4
Magnoliophyta (Ngọc lan)
114 92,68 251 95,08 285 94,37
Tổng cộng
123 100 264 100 302 100
( Nguồn: tổng hợp số liệu điều tra thực địa, 2015)
Có thể nhận thấy rằng, sự đa dạng của ngành Ngọc lan cũng kèm theo sự đa
dạng công dụng làm thuốc của các loài cây thuộc ngành này, cũng thấy được người
dân tập trung chủ yếu sử dụng các loài cây thuốc thuộc ngành này. Có đến 285 loài
(chiếm 94,37%) thuộc ngành Ngọc lan được người dân khai thác và sử dụng. So với
ngành Ngọc lan, các ngành khác có số lượng loài được khai thác sử dụng rất ít chỉ có
3 loài thuộc ngành Thông đất, ngành Thông có 5 loài chiếm 1,64%; ngành Dương xỉ
có 9 loài chiếm 2,98%.
Trong ngành Ngọc lan, sự phân bố các loài theo 2 lớp Ngọc lan
(Magnoliopsida) và lớp Hành (Liliopsida) cũng có sự khác nhau rõ nét.
Bảng 4.2. Sự phân bố các taxon cây thuốc trong các ngành Ngọc lan
Stt Ngành Họ Chi Loài
( Nguồn: tổng hợp số liệu điều tra thực địa, 2015)
Qua bảng 4.3, có thể thấy được rằng thực vật là thuốc tại địa bàn nghiên cứu có
dạng sống rất đa dạng và phong phú. Từ các loài thực vật thân gỗ, cây bụi, thân thảo
đến dạng dây leo, phụ sinh kí sinh. Trong 4 nhóm dạng sống thì nhóm cây thân thảo
được có công dụng làm thuốc nhiều nhất, với 111 loài chiếm 36,75 % trong tổng số
các dạng sống, tiếp đến là nhóm cây thân gỗ có đến 87 loài chiếm 28,80 % và dạng
cây bụi chiếm 18,21 %; thấp nhất là nhóm dây leo có 49 loài chiếm 16,23 % . Như
vậy có thể thấy rằng, việc khai thác sử dụng cây làm thuốc tại địa bàn nghiên cứu
phân bố khắp các tầng của cấu trúc rừng. Tuy nhiên, việc khai thác sử dụng cây làm
thuốc tại địa phương nghiên cứu không ảnh hưởng đến cấu trúc rừng vì các loài khai
thác nhiều tập trung vào nhóm cây thân thảo, cây bụi. Nhưng, việc khai thác cây làm
thuốc với cường độ tập trung, không có định hướng kế hoạch phục hồi, bảo tồn và
phát triển thì nguy cơ mất đa dạng sinh học rất cao.
4.2.2.2 Đa dạng về phân bố của các loại cây thuốc
Qua quá trình điều tra thực địa, cũng như phỏng vấn người dân địa phương sau
đó lại được kiểm chứng lại thông tin qua họp nhóm với những người hiểu biết tại địa
phương cũng như tham khảo thông tin trên sách báo chúng tôi đã xác định được nơi
phân bố, sinh sống của các loài cây thuốc và tỉ lệ của các loài cây thuộc sống ở mỗi
dạng môi trường sống khác nhau, bước đầu chúng tôi điều tra trên 5 dạng sinh cảnh
sau: 1- Rừng tự nhiên, 2- Rừng trồng, nương rẫy hay trảng cây bụi; 3- Bãi hoang, bờ
ruộng, trảng cỏ, ven đường, 4- Ven suối, vùng đất ngập nước, và 5- Vườn nhà.
Bảng 4.4. Phân bố cây thuốc theo sinh cảnh.
Stt Phân bố Số loài Tỉ lệ %
1 Rừng tự nhiên 156 50,00
2 Rừng trồng, nương rẫy hay trảng cây bụi 169 55,96
3 Bãi hoang, bờ ruộng, trảng cỏ, ven đường 147 48,68
4 Ven khe suối, đất ngập nước 80 26,49
5 Trong vườn hộ gia đình 112 37,09
Tổng số 100,00
( Nguồn: tổng hợp số liệu điều tra thực địa)