THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU các NGÀNH HÀNG CHỦ lực của VIỆT NAM và NHỮNG GIẢI PHÁP đẩy MẠNH KIM NGẠCH XUẤT KHẨU - Pdf 28


KỸ THUẬT VÀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH NGOẠI THƯƠNG
Đề tài:
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÁC NGÀNH HÀNG CHỦ LỰC
CỦA VIỆT NAM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH KIM
NGẠCH XUẤT KHẨU
NHĨM THỰC HIỆN – LỚP NT4
NGUYỄN T. THÙY DƯƠNG
VŨ THỊ HỒNG OANH
HỒNG T. MINH PHƯƠNG
TRẦN KIM TRANG
ĐÀO T. THANH TÚ
MỤC LỤC
TRANG
KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
THỜI GIAN GẦN ĐÂY
I. QUY MƠ VÀ TỐC ĐỘ 01
II.MỘT SỐ MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHÍNH 02
A. XUẤT KHẨU DẦU THƠ
I. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU DẦU THƠ CỦA VIỆT NAM 06
II. THUẬN LỢI 09
III. KH Ĩ KH ĂN 09
IV. GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU DẦU THƠ
CỦA VIỆT NAM 10
B. NGÀNH DỆT MAY
I. NHỮNG THÀNH CƠNG CỦA DỆT MAY VIỆT NAM 11
II. KHĨ KHĂN, THÁCH THỨC 16
III. H ẠN CHẾ 19
IV. GIẢI PHÁP 22
C. XUẤT KHẨU DA GIÀY

H. XUẤT KHẨU HÀNG ĐIỆN TỬ, LINH KIỆN MÁY TÍNH
I. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH 124
II. SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA NGÀNH VÀ THÀNH TỰU 125
III. CÁC THỊ TRƯỜNG CHỦ LỰC 126
IV. THUẬN LỢI 130
V. KHĨ KHĂN VÀ HẠN CHẾ 131
VI. GIẢI PHÁP 133
I. HỒ TIÊU
I. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HẠT TIÊU 135
II. THỊ TR ƯỜNG XUẤT KHẨU TIÊU CỦA VIÊT NAM 136
III. THUẬN LỢI 140
IV. CƠ HỘI 141
V. KHĨ KHĂN VÀ THÁCH THỨC 142
VI. GIẢI PHÁP 145
J. HẠT ĐIỀU
I. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU 153
II. THUẬN LỢI 156
III. KHĨ KH ĂN 157
IV. GIẢI PHÁP 159
NHỮNG GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG HĨA
VIỆT NAM RA THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI 160
TÀI LIỆU THAM KHẢO 163
KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
THỜI GIAN GẦN ĐÂY
I. QUY MƠ VÀ TỐC ĐỘ
Theo Bộ Cơng Thương, tình hình xuất khẩu tháng 8/2008 tiếp tục diễn biến
theo chiều hướng cĩ lợi cho cán cân thương mại. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu
tháng 8/2008 cĩ giảm nhẹ so với tháng 7/2008 do một số mặt hàng tái xuất khơng
cịn song vẫn ở mức khá cao. Kim ngạch xuất khẩu tháng 8/2008 đạt khoảng 6,1 tỷ
USD đưa kim ngạch xuất khẩu 8 tháng đầu năm 2008 lên mức 43,321 tỷ USD,

xuất khẩu bình quân tăng cao nên trị giá xuất khẩu dầu thơ đạt 6,71 tỷ USD, tăng
50,2% so với cùng kỳ năm 2007.
Trong 7 tháng đầu năm 2008, lượng dầu thơ của Việt Nam chủ yếu xuất sang
các thị trường là Ơxtrâylia: 2,39 triệu tấn, giảm 11,5% so với cùng kỳ 2007; Nhật
Bản: 1,8 triệu tấn, tăng 139%; Singapore: 1,24 triệu tấn, giảm 28,6%; Hoa Kỳ: 685
nghìn tấn, giảm 20,1%; Malaysia: 659 nghìn tấn, tăng 2,1%; …
- Than đá:
Trong tháng xuất khẩu 1,45 triệu tấn, tăng 21,8% so với tháng trước, nâng tổng
lượng than xuất khẩu 7 tháng năm nay lên 14,56 triệu tấn, giảm 22,3% so với cùng
kỳ năm trước và thực hiện được 72,8% kế hoạch năm. Trị giá xuất khẩu than đá 7
tháng năm 2008 đạt gần 874 triệu USD tăng 49,23% so với cùng kỳ năm 2007.
Dẫn đầu trong các thị trường nhập khẩu than đá của Việt Nam trong 7 tháng
qua vẫn là Trung Quốc với gần 11,18 triệu tấn, giảm 27,1% so với cùng kỳ năm
trước và chiếm hơn 76,8% tổng lượng than xuất khẩu của Việt Nam.
- Hàng dệt may:
Trị giá xuất khẩu nhĩm hàng này trong tháng 7/2008 là 945 triệu USD, tăng
12,8% so với tháng 6, nâng tổng kim ngạch 7 tháng lên 5,09 tỷ USD, tăng 20,6%
so với cùng kỳ năm trước và thực hiện được 53,6% kế hoạch năm.
Tính đến hết tháng 7/2008, ba thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất của
Việt Nam là Hoa Kỳ: 2,9 tỷ USD, EU: 966 triệu USD và Nhật Bản: 442 triệu
USD.
- Giày dép:
Trị giá giày dép xuất khẩu trong tháng 7/2008 đạt gần 461 triệu USD, tăng nhẹ
(4,2%) so với tháng trước. Hết tháng 7/2008, trị giá xuất khẩu nhĩm hàng này của
cả nước đạt 2,73 tỷ USD, tăng 17,2% so với cùng kỳ năm trước và thực hiện được
60,6% kế hoạch năm.
Hai đối tác lớn nhất nhập khẩu giày dép của Việt Nam trong 7 tháng năm
2008 vẫn là EU và Hoa Kỳ với trị giá và tốc độ tăng tương ứng là 1,5 tỷ USD,
tăng 16,4% và 576 triệu USD, tăng 10,7% so với cùng kỳ 2007.
- Gỗ và sản phẩm gỗ:

tháng trước, nâng tổng lượng cao su xuất khẩu 7 tháng năm 2008 lên 308 nghìn
tấn, giảm 12,8% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, giá xuất khẩu cao su bình
quân vẫn tiếp tục tăng trong 7 tháng qua, tăng 40,2% tương đương với tăng 759
USD/ tấn so với 7 tháng năm 2007 nên trị giá đạt 815 triệu USD và tăng 22,2%.
Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu chính của cao su Việt Nam trong 7
tháng năm 2008 với 199 nghìn tấn, tiếp theo là Hàn Quốc: 16,1 nghìn tấn, Đức:
13,1 nghìn tấn, Đài Loan: 10,3 nghìn tấn, Nga: 7,8 nghìn tấn, Nhật Bản: 7,6 nghìn
tấn,…
- Hạt tiêu:
Trong tháng trị giá xuất khẩu mặt hàng này chỉ đạt 35 triệu USD giảm 2,7%
so với tháng trước, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu hạt tiêu 7 tháng năm 2008 lên
202 triệu USD tăng 31,3% so với cùng kỳ năm trước và thực hiện được 50,5% kế
hoạch năm.
- Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện:
Trong tháng xuất khẩu 224 triệu USD, tăng 5,1% so với tháng trước, nâng
tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này 7 tháng năm 2008 lên 1,43 tỷ USD, tăng
28,4% so với cùng kỳ năm trước và thực hiện được 40,8% kế hoạch năm.
A. XUẤT KHẨU DẦU THƠ
I. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU DẦU THƠ CỦA VIỆT
NAM
Cùng với dệt may, giày dép và hàng thủ cơng mỹ nghệ, dầu thơ được coi là
một trong 4 nhĩm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và cĩ khả năng cạnh tranh
cao trên thị trường thế giới.
Xuất khẩu trong tháng 7 là 991 nghìn tấn, giảm 4,2% so với tháng 6, nâng tổng
lượng dầu thơ xuất khẩu của Việt Nam 7 tháng 2008 lên 7,7 triệu tấn, giảm 13,2%
so với cùng kỳ năm 2007. Mặc dù lượng dầu thơ xuất khẩu giảm nhưng do giá
xuất khẩu bình quân tăng cao nên trị giá xuất khẩu dầu thơ đạt 6,71 tỷ USD, tăng
50,2% so với cùng kỳ năm 2007.
Trong 7 tháng đầu năm 2008, lượng dầu thơ của Việt Nam chủ yếu xuất sang
các thị trường là Ơxtrâylia: 2,39 triệu tấn, giảm 11,5% so với cùng kỳ 2007; Nhật

lượng và mục tiêu khai thác 1 triệu tấn dầu thơ từ nước ngồi khơng đạt. Năm 2008
vẫn sẽ tiếp tục đà khĩ khăn, bởi sản lượng khai thác vẫn tiếp tục đi xuống. Một số
mỏ mới dự định đưa vào khai thác chưa hồn tất các cơng việc chuẩn bị phát triển
mỏ.
Do giá dầu thế giới tiếp tục tăng cao, hiện đã vượt quá 110 đơ la Mỹ/thùng,
nên giá xuất khầu dầu thơ của Việt Nam cũng tăng theo. Điều này giúp đảm bảo
được mục tiêu thu về 9,5 tỉ đơ la Mỹ trong năm nay như kế hoạch, dù sản lượng
khai thác dầu thơ từ mỏ Bạch Hổ (lớn nhất nước ta) sẽ giảm khoảng 1 triệu tấn so
với năm trước.
PetroVietnam đặt mục tiêu khai thác trong năm nay đạt 16 triệu tấn, xuất khẩu
dầu thơ và condensate đạt 15,65 triệu tấn, với kim ngạch xuất khẩu dự kiến 7,6 tỉ
USD. Với giá dầu ở mức cao như hiện nay, nhiều chuyên gia cịn dự báo khả quan
kim ngạch xuất khẩu sẽ giữ vững con số kỷ lục của năm nay hoặc vượt (năm 2007,
kim ngạch xuất khẩu dầu thơ đạt 8,78 tỉ USD)
Mặc dù là nước xuất khẩu dầu, song Việt Nam sẽ phải đối mặt với những
thách thức kể từ năm nay khi sản lượng dầu thơ xuất khẩu đang sụt giảm và nhu
cầu nhập khẩu dầu trong những năm tới, để đáp ứng nguyên liệu cho các nhà máy
lọc
Bộ Thương mại đang xây dự Đề án xuất khẩu 2006 - 2010, theo đĩ, trong giai
đoạn tới, cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng cĩ giá
trị gia tăng cao; tăng sản phẩm chế biến chế tạo, sản phẩm cĩ hàm lượng cơng
nghệ và chất xám cao, giảm dần tỷ trọng hàng thơ. Do đĩ, nhĩm hàng nhiên liệu,
khống sản với hai mặt hàng chủ yếu là dầu thơ và than đá giảm mạnh từ 21% năm
2006 xuống cịn 9,6% năm 2010. Kim ngạch xuất khẩu dầu thơ sẽ bắt đầu giảm
mạnh từ năm 2009 trở đi do sản lượng khai thác được sẽ dành một phần để phục
vụ cho hoạt động của nhà máy lọc dầu trong nước.
Nhằm hạn chế xuất khẩu các sản phẩm nguyên nhiên liệu hĩa thạch, Bộ Tài
chính vừa quyết định tăng thuế xuất khẩu đối với cả 3 nhĩm mặt hàng gồm dầu
thơ, than và quặng lên mức 20%.
Tin vui là trong thời gian từ nay đến cuối năm sẽ đưa thêm 5 mỏ mới vào khai

lớn đến hoạt động xuất khẩu.
IV. GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU DẦU THƠ CỦA VIỆT
NAM
Cần đẩy mạnh cơng tác tìm kiếm, thăm dị trong phạm vi kỹ thuật cho phép và
an tồn mỏ để gia tăng trữ lượng dầu khí, tiếp tục thúc đẩy các dự án tìm kiếm thăm
dị ở nước ngồi để sớm cĩ thêm nguồn dầu khí bảo đảm an ninh năng lượng quốc
gia.
Tổ chức khai thác bảo đảm an tồn và hiệu quả nhất nguồn tài nguyên dầu khí
của đất nước.
Cần tập trung phân tích tình hình và nâng cao dự báo chính xác về thời điểm
nhằm đẩy mạnh xuất khẩu đúng thời điểm cĩ lợi nhất để thu được giá trị lợi nhuận
cao.
Kiên quyết chống thất thốt, triệt để tiết kiệm nguyên nhiên liệu, năng lượng,
dành thêm tài lực cho xuất khẩu.
Nâng cao hiệu quả cơng tác thống kê thương mại, chính sách tiền tệ và tỷ giá
hối đối, tăng cường tiếp xúc và tham vấn giữa các cơ quan quản lý nhà nước và
doanh nghiệp.
B. NGÀNH DỆT MAY
I. NHỮNG THÀNH CÔNG CỦA DỆT MAY VIỆT NAM
1. Tổng kim ngạch xuất khẩu của dệt may Việt Nam từ năm 1999 đến 7 tháng
đầu năm 2008
Năm 96 97 98 99 2000 01 02 03 04 05 06 07 7T/
08
Số
lượn
g (tỷ
$)
1.1
5
1.34

tỷ USD.
2. Xuất khẩu hàng dệt may trong 8 tháng đầu năm 2008 so với tổng kim
ngạch xuất khẩu cả nước:
Bộ Công Thương vừa thông báo, ước tính xuất khẩu của Việt Nam trong 7
tháng đầu năm 2008 đạt 37,22 tỷ USD, tăng 39% so với cùng kỳ năm 2007. Trong
đó, xuất khẩu hàng dệt may đạt kim ngạch xấp xỉ 5,094 tỷ USD (chiếm gần 14%
tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước), tăng gần 20,6% so với cùng kỳ năm ngoái và
thực hiện được 53,6% kế hoạch năm, là một trong những ngành hàng có tốc độ
tăng trưởng xuất khẩu cao.
Biểu đo à 2: Xuất khẩu dệt may trong 7 tháng đầu năm 2008 so với tổng kim
ngạch xuất khẩu của cả nước
Nguồn:www.doanhnghiep24g.com.vn
3. Dệt may là một trong tám mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD,
dẫn đầu Hiệp hội dệt may Đơng Nam Á về tăng trưởng:
Trong tổng kim ngạch xuất khẩu 37.22 tỷ USD vào 7 thàng đầu năm 2008 thì
dệt may là một trong tám mặt hàng cĩ kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Cụ thể:
dệt may đạt 5.094 tỷ USD; thuỷ sản là 2.388 tỷ USD; giày dép là 2.73 tỷ USD;
dầu thơ là 6.71 tỷ USD; gỗ là 1.59 tỷ USD; cà phê là 1.4 tỷ USD; điện tử là 1.43 tỷ
USD và cuối cùng là gạo 1.9 tỷ USD.
Ngồi ra, theo tuyên bố của Hiệp hội dệt may Đơng Nam Á tại buổi Hội nghị
Liên đồn các nhà sản xuất, dệt may các nước Đơng Nam Á (AFTEX) diễn ra vừa
qua, mặc dù Việt Nam đứng vị trí thứ ba về tỷ trọng xuất khẩu hàng dệt may
ASEAN với xấp xỉ 3 tỷ USD/năm (dẫn đầu là Indonesia từ 7-8 tỷ USD/năm, kế
đến là Thái Lan, 6.5 tỷ USD) song tăng trưởng của Việt Nam lại dẫn đầu khu vực.
Và theo ơng Lê Quốc Ân-Chủ tịch Hiệp hội dệt may Việt Nam, vị trí số một về tỷ
trọng xuất khẩu hàng dệt may sẽ về với Việt Nam trong năm tới.
Xét vị trí trên thị trường quốc tế, từ vị trí thứ 16, hàng dệt may Việt Nam đã lọt
vào nhĩm 10 nước xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới vào cuối năm 2007 và
hiện nay,Việt Nam đứng vị trí thứ 9. Theo mục tiêu đề ra, Việt Nam sẽ đứng vào
nhĩm 5 thế giới trong 3 năm tới.

nhiên, trong bối cảnh hiện nay, đồng USD đang cĩ dấu hiệu phục hồi, giá dầu đã
giảm và các dịng vốn đầu tư đang cĩ dấu hiệu quay trở vào thị trường tài chính,
đưa nền kinh tế Mỹ sẽ thốt khỏi suy thối và hàng dệt may của Việt Nam xuất sang
Mỹ cĩ thể bứt phá mạnh trong thời gian tới.
+ Kim ngạch xuất khẩu sang EU đạt 975 triệu USD, tăng 21,63%; Kim ngạch
xuất khẩu sang Đài Loan đạt 130 triệu USD, tăng 49%; Kim ngạch xuất khẩu sang
Canađa tăng 23%, đạt 95 triệu USD; Kim ngạch xuất khẩu sang Nga đạt 52 triệu
USD, tăng 22%; Kim ngạch xuất khẩu sang Hàn Quốc đạt 62 triệu USD, tăng
51%; Kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 30 triệu USD, tăng 57%; Kim
ngạch xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ đạt 31 triệu USD, tăng 47%; Kim ngạch xuất
khẩu sang Ơxtrâylia đạt 23 triệu USD, tăng 77%.
+ Kim ngạch xuất khẩu sang Đài Loan đạt 130 triệu USD, tăng 49%
+ Kim ngạch xuất khẩu sang Canađa tăng 23%, đạt 95 triệu USD
+ Kim ngạch xuất khẩu sang Nga đạt 52 triệu USD, tăng 22%
+ Kim ngạch xuất khẩu sang Hàn Quốc đạt 62 triệu USD, tăng 51%
+ Kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 30 triệu USD, tăng 57%
+ Kim ngạch xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ đạt 31 triệu USD, tăng 47%
+ Kim ngạch xuất khẩu sang Ơxtrâylia đạt 23 triệu USD, tăng 77%
+ Trong khi đĩ, xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản vẫn duy trì ở mức thấp. 7
tháng đầu năm nay kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Nhật
Bản chỉ tăng 13,6%, đạt 422 triệu USD. Tuy nhiên, trong tháng 7, kim ngạch xuất
khẩu hàng dệt may của nước ta sang Nhật Bản đã tăng rất cao so với tháng trước
và cùng kỳ năm ngối.
5. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ từ năm 2002 đến 7 tháng đầu
năm 2008:
Biểu dồ 5: Kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ từ năm 2002 dến 7 tháng
đầu năm 2008
Nguồn : www.doanhnghiep24g.com.vn
Trong các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục dẫn
đầu. Kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ đạt trị giá 2,9 tỷ USD, tăng 16,75%

(chiếm tỷ trọng hơn 90%), kể cả khi xuất khẩu sang các thị trường EU, Nhật Bản.
Nhưng từ đầu năm đến nay, tỷ giá đồng USD lên xuống khơng ổn định, khi thì
giảm giá, sau đĩ lại tăng cao đã gây khĩ khăn cho doanh nghiệp.
Nếu như quý I, tỷ giá đồng USD giảm, các ngân hàng hạn chế mua USD,
cho nên USD thu được từ xuất khẩu dệt may khĩ chuyển đổi ra VNÐ dẫn tới việc
thanh tốn các khoản chi và tiền lương cho người lao động gặp khĩ khăn, trong khi
giá cả đầu vào như xăng, dầu, than và các nguyên liệu vật tư khác đều tăng cao,
dẫn đến nhiều DN hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, một số đơn vị
thua lỗ. Cĩ DN đã ký hợp đồng mở L/C bằng USD để nhập nguyên phụ liệu,
nhưng ngân hàng khơng đáp ứng được ngoại tệ để thanh tốn, hoặc nếu thanh tốn
thì các DN phải nhận nợ bằng đồng VNÐ với lãi suất cao càng khiến DN điêu
đứng.
Từ quý II-2008, tỷ giá đồng USD tăng vọt, đồng thời giá nguyên liệu nhập
khẩu như bơng, xơ, phụ liệu, hĩa chất thuốc nhuộm tăng mạnh làm cho giá thành
sản phẩm sợi vải tăng đột biến đã làm cho sản phẩm của DN khơng đủ sức cạnh
tranh trên thị trường quốc tế và trong nước, sản phẩm làm ra bị tồn kho. Nhiều DN
cần USD để trả nợ ngân hàng hoặc đến hạn thanh tốn L/C phải mua USD của ngân
hàng bán ra với giá cao hơn nhiều so với tỷ giá niêm yết của ngân hàng. Lấy ví dụ,
khi tỷ giá ngân hàng niêm yết là 16.250 đồng/USD nhưng thực chất DN phải mua
với giá 17.500-19.500 đồng/USD. Như vậy DN cần đồng USD để thanh tốn đều
phải mua bằng với giá tại thị trường tự do, làm cho DN phát sinh khoản chênh
lệch tỷ giá khá lớn
Ngồi ra, lãi suất cho vay tăng cao, giá đầu vào nguyên liệu tăng cũng ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động của các DN dệt may cĩ nhu cầu vay vốn lưu động,
nhiều dự án đầu tư bị chậm tiến độ. Nhiều trường hợp DN đã ký hợp đồng mở L/C
bằng USD để nhập khẩu nguyên phụ liệu với mức lãi suất 7%/năm, khi hàng về
nhận nợ, ngân hàng thương mại cắt ngang lãi suất chuyển nhận nợ bằng VNÐ với
mức lãi suất từ 14 đến 18%/năm, gây bất bình đẳng trong quan hệ tín dụng. Mặt
khác, khi lãi suất cho vay VNÐ tăng lên 21%/năm, dẫn đến giá thành sản phẩm
tăng cao, khơng cĩ khả năng tiêu thụ sản phẩm, nhiều dự án đang trong quá trình

mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam nhằm mục đích đảm bảo rằng
hàng dệt may khơng bị bán phá giá vào thị trường Mỹ và đe dọa khả năng cạnh
tranh của các nhà sản xuất Mỹ.
d) Lao động:
Vấn đề đáng lo ngại đối với các DN là nguy cơ đình cơng từ phía cơng nhân
rất cao. Cơng nhân vừa nghỉ việc, vừa đình cơng, sản xuất đình đốn, nguy cơ vỡ
hợp đồng đe dọa lên doanh nghiệp. Bên cạnh đĩ, việc khơng thực hiện đúng thời
hạn hợp đồng từ nguyên nhân đình cơng cũng đang là mối quan ngại của các
khách hàng nước ngồi vì họ thà chịu đơn giá cao hơn một chút ở các nước cĩ ít
đình cơng để đảm bảo đơn hàng đúng hạn.
III. HẠN CHẾ:
Trong nhiều năm qua, ngành dệt may đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhưng
kể từ khi các nước thành viên WTO được bãi bỏ hạn ngạch thì tốc độ này cĩ xu
hướng giảm sút. Bản thân WTO là một mơi trường đầy chơng gai chính vì vậy,
nếu khơng cĩ khả năng nhanh nhạy, nắm bắt những biến động thì doanh nghiệp
Việt Nam khơng thể cĩ chỗ đứng trong mơi trường này.
Bên cạnh những thành tựu đạt được thì ngành dệt may vẫn đang đối mặt với
một số hạn chế bất lợi lớn cần khắc phục:
- Khả năng cạnh tranh của ngành đang ở mức thấp bởi doanh nghiệp Việt
Nam thiếu nhà quản trị giỏi, thiếu kỹ năng tiếp cận thị trường trong khi năng suất
lao động cịn rất thấp.
- Phần lớn các doanh nghiệp dệt may Việt Nam vẫn thuộc loại vừa và nhỏ.
Nếu phân theo tiêu chí lao động thì cĩ tới 80% doanh nghiệp sử dụng dưới 300 lao
động, theo vốn thì cĩ tới 90% dưới 5 tỉ VND. Do đĩ, dẫn đến khả năng đứng vững
trên thị trường khá bấp bênh. Thực tế cho thấy trong tiến trình xĩa bỏ hạn ngạch
đến đâu thì hàng Việt Nam mất hoặc giảm thị phần đến đĩ.
- Ngành dệt may VN vẫn chưa tìm được điểm mạnh cho mình để đầu tư phát
triển, khâu thiết kế cịn yếu, chủ yếu thực hiện hợp đồng theo đơn đặt hàng gia
cơng. Ngay trong gia cơng, các DN vẫn khơng tạo ra được thế mạnh cho mình, gia
cơng cùng lúc nhiều mặt hàng dẫn đến năng suất thấp. Vẫn chưa cĩ sự đồn kết,

điều khỏan, qui định. Tuy nhiên ở các doanh nghiệp dệt may, việc nắm bắt các vấn
đề này vẫn cịn yếu ở bộ phận lãnh đạo. Cịn ở nhân viên thì đa số mơ hồ. Hầu hết
các doanh nghiệp dệt may chưa thành lập đội ngũ triễn khai vấn đề này. Vì vậy,
khả năng dẫn đến việc áp dụng thuế chống bán phá giá cho ngành dệt may Việt
Nam rất dễ xảy ra.
- Trong nội bộ doanh nghiệp, các cơng tác tiến hành quảng bá thương hiệu,
xúc tiến mở rộng thị trường, hỗ trợ cập nhật thơng tin thị trường và cơng nghệ,

Trích đoạn VỀ PHÍA CHÍNH PHỦ Thị trường EU: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH XUẤT KHẨU CÀPHÊ nước nhập khẩu hàng đầu của ngành càphê Việt Nam LINH KIỆN MÁY TÍNH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status