Xác lập cơ sở khoa học cho phát triển du lịch bền vững dải ven biển từ đèo ngang đến cửa nhật lệ, tỉnh quảng bình - Pdf 28


ii

MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1 – LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
1.1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu 3
1.1.2. Cơ sở lý luận về du lịch và du lịch bền vững 6
1.1.3. Cơ sở lý luận về đới ven biển 9
1.2. PHƢƠNG PHÁP TIẾP CẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
1.2.1. Phƣơng pháp tiếp cận 11
1.2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 13
Chƣơng 2 - TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH 15
2.1. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 15
2.1.1. Vị trí địa lý 15
2.1.2. Đặc điểm khí hậu, thủy văn, hải văn 17
2.1.3. Đặc điểm địa chất 24
2.1.4. Đặc điểm địa hình - Địa mạo 28
2.1.5. Lịch sử phát triển địa chất Đệ tứ đới bờ 30
2.2. ĐẶC ĐIỂM TÀI NGUYÊN MÔI TRƢỜNG ĐỚI VEN BIỂN 33
2.2.1. Tài nguyên và môi trƣờng nƣớc 33
2.2.2. Tài nguyên và môi trƣờng đất 35
2.2.3. Tài nguyên sinh vật 39
2.2.4. Tài nguyên khoáng sản 40
2.3. ĐẶC ĐIỂM TÀI NGUYÊN DU LỊCH 43

iii

Quảng Bình Error! Bookmark not defined.
Hình 2.4. Mô hình DEM tỉnh Quảng Bình 288
Hình 2.5. Mô hình DEM khu vực nghiên cứu 29
Hình 2.6. Mặt cắt trầm tích Đệ tứ qua cồn cát phía Nam Nhật Lệ 322
Hình 2.7. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất vùng ven biển từ Đèo Ngang đến Nhật Lệ,
Quảng Bình Error! Bookmark not defined.8
Hình 2.8. Bãi Đá Nhảy 433
Hình 2.9. Bãi biển Nhật Lệ 444
Hình 2.10. Vũng Chùa – Đảo Yến 47
Hình 2.11. Đồi cát Quang Phú 467
Hình 2. 12. Bản đồ tài nguyên du lịch vùng ven biển từ Đèo Ngang đến cửa Nhật
Lệ, tỉnh Quảng Bình Error! Bookmark not defined.
Hình 2.13. Hang Sơn Đoòng 51
Hình 2. 14. Suối khoáng Bang 52
Hình 2.15. Nhà tƣởng niệm Đại tƣớng Võ Nguyên Giáp 522
Hình 3.1. Thống kê lƣợng khách du lịch tới Quảng Bình qua các năm 677
Hình 3.2. Bản đồ định hƣớng quy hoạch du lịch vùng ven biển từ Đèo Ngang đến
cửa Nhật Lệ, tỉnh Quảng Bình Error! Bookmark not defined.6 v

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Một số ví dụ về xác định ranh giới cố định của đới bờ biển 10
Bảng 2.1. Lƣợng mƣa trung bình nhiều năm tại các trạm 17
Bảng 2.2. Nhiệt độ trung bình nhiều năm tại các trạm đo 18
Bảng 2.3. Số giờ nắng bình quân nhiều năm tại các trạm đo 19
Bảng 2.4. Lƣợng bốc hơi bình quân nhiều năm tại các trạm đo 20
Bảng 2.5. Độ ẩm trung bình tại các trạm đo 20
Bảng 2.6. Tốc độ gió bình quân nhiều năm tại các trạm đo 21

bảo an ninh quốc phòng. Quảng Bình cách Huế 150 km về phía Bắc, là nơi giao
thoa hội tụ của nhiều luồng văn hóa, đồng thời là chiến trƣờng ác liệt trong hai cuộc
kháng chiến bảo vệ tổ quốc nên ngày nay còn lƣu giữ đƣợc nhiều di tích lịch sử, văn
hóa của nhiều thời đại khác nhau. Quảng Bình mang đặc trƣng của khu vực Bắc
Trung Bộ, là địa phƣơng có nhiều dân tộc lƣu trú nên truyền thống văn hóa khá
phong phú, kho tàng văn hóa đa dạng.
Đới ven biển từ Đèo Ngang tới cửa Nhật Lệ có những đặc thù riêng về điều
kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch đã tạo ra cho tỉnh những ƣu thế về tiềm năng, lợi
thế và cơ hội của đới bờ. Đới bờ là kết quả tiến hóa của trầm tích Đệ tứ trong mối
quan hệ với sự thay đổi của mực nƣớc biển. Vì vậy đã tạo ra đê cát ven bờ và các
lagun tàn dƣ tiềm năng về tài nguyên du lịch chủ yếu phát triển các bãi tắm và khu
nghỉ dƣỡng. Tài nguyên đặc thù của đới ven biển từ Đèo Ngang tới cửa Nhật Lệ là
các đê cát và cồn cát kéo dài dọc đƣờng bờ biển. Đê cát ven bờ và cồn cát là tài
nguyên khổng lồ về vật liệu xây dựng, là thành tạo địa chất chứa nƣớc ngọt phục vụ
dân sinh, tuy nhiên việc khai thác, sử dụng hiện nay chƣa đƣợc quan tâm và có giải
pháp hợp lý.
Hiện nay, phát triển du lịch tại khu vực đới ven biển từ Đèo Ngang đến cửa
Nhật Lệ mới chỉ phát triển cục bộ tại các điểm mà chƣa có đánh giá, quy hoạch tổng
thể, do vậy chƣa tận dụng đƣợc hết các tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch của khu
vực.

2

Xuất phát từ các nhu cầu thực tiễn trên, học viên lựa chọn đề tài “Xác lập cơ
sở khoa học cho phát triển du lịch bền vững dải ven biển từ Đèo Ngang tới cửa
Nhật Lệ, tỉnh Quảng Bình” với mục tiêu và nhiệm vụ sau đây:
Mục tiêu
- Làm sáng tỏ tiềm năng tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên môi trƣờng
đới ven biển từ Đèo Ngang tới cửa Nhật Lệ, tỉnh Quảng Bình.
- Xác lập cơ sở khoa học định hƣớng quy hoạch phát triển du lịch bền vững.

điểm về du lịch bền vững. Ví dụ, ở Úc bƣớc đầu việc nghiên cứu đƣợc tiến hành với
việc xây dựng chính sách về du lịch bền vững, chiến lƣợc du lịch sinh thái quốc
gia… rồi sau đó tiến tới xây dựng mô hình điểm về phát triển du lịch bền vững ở
Great Barrier Reef; ở Mỹ bƣớc đầu là chính sách phát triển du lịch bền vững tại các
vƣờn quốc gia, khu bảo tồn rồi đến xây dựng mô hình điểm ở khu bảo tồn san hô
ngầm Florida; ở Malaysia là chiến lƣợc quốc gia về du lịch sinh thái và văn hóa bản
địa rồi đến xây dựng mô hình ở Langkawi…
- Dựa trên việc xây dựng các mô hình điểm về phát triển du lịch bền vững để
rút kinh nghiệm xây dựng các chính sách triển khai trên toàn quốc. Ví dụ ở Nepal
việc nghiên cứu phát triển du lịch bền vững đƣợc bắt đầu bằng việc nghiên cứu mô
hình phát triển tại khu bảo tồn Annapurna rồi đến xây dựng Chính sách phát triển
du lịch sinh thái quốc gia; ở Ecuado đƣợc bắt đầu xây dựng mô hình phát triển du

4

lịch tại quần đảo Galapagos rồi đến xây dựng Chính sách phát triển du lịch bền
vững của Ecuado…
Việc nghiên cứu này là một trong những nội dung cơ bản của khoa học địa lý
để phục vụ cho quy hoạch và tổ chức không gian du lịch tối ƣu nhất. Trên thế giới
đã có một số công trình khoa học nhƣ đánh giá các thể tổng hợp tự nhiên phục vụ
giải trí (Mukhinua, 1972; Sepfer, 1973). Một trong số nhà địa lý cảnh quan của
trƣờng đại học tổng hợp Matxcova nhƣ E.D Xmiarnova, V.B Nhefedova, L.V.
Xvittrenco đã tiến hành nghiên cứu thích hợp cho mục đích nghỉ dƣỡng trên lãnh
thổ Liên Xô trƣớc đây [19]. Nhà địa lý B.N.Likhanov 1973 đã xác định tài nguyên
nghỉ ngơi giải trí có trên lãnh thổ khai thác cho du lịch [19].
Các nhà địa lý Mỹ nhƣ Bô-ha (1918 - 1971), nhà địa lý Anh H. Robinson và
các nhà địa lý Canada nhƣ Vôn-phơ, 1966; Henayno 1972 cũng đã tiến hành đánh
giá sử dụng tài nguyên thiên nhiên để phục vụ mục đích giải trí du lịch.
Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà địa lý trên thế giới
trong lĩnh vực du lịch nhƣ M. Buchavarov, N.X Mironhenke và I.T

trong khu vực nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đã đƣợc tiến hành khá tỷ mỷ.
Điển hình trong số đó là các Đề tài đánh giá tổng thể sử dụng hợp lý dải cát ven
biển miền Trung và bảo vệ môi trƣờng, KC.08.07 (Trƣơng Quang Học, 2003) và
KC.08-21 (Trần Văn Ý, 2005); các đề tài điều tra địa chất khoáng sản đới biển nông
ven bờ (0 -30m nƣớc) của Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển [17]…. Đới bờ
Quảng Bình - Quảng Trị - Thừa Thiên Huế cũng đã đƣợc các nhà khoa học nhƣ
Đặng Văn Bào, Nguyễn Cao Huần (2010) nghiên cứu xác lập luận chứng khoa học
về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, KT - XH, môi trƣờng và tai biến thiên nhiên, mâu
thuẫn trong khai thác và sử dụng tài nguyên…
Trƣớc năm 2000, vấn đề nghiên cứu phát triển du lịch tại Việt Nam, do nhiều
điều kiện khách quan và chủ quan, nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững mới
chỉ hạn chế ở một số công trình có liên quan nhƣ nghiên cứu cơ sở cho phát triển du
lịch sinh thái, đánh giá tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên môi trƣờng
[14]…Có thể kể tới một số công trình tiêu biểu đó là: Sơ đồ phát triển và phân bố
ngành du lịch Việt Nam (1986), Dự án VIE/89/003 về kế hoạch chỉ đạo, phát triển

6

du lịch Việt Nam do tổ chức du lịch thế giới (OMT) thực hiện (Madrit 1992), đề tài
khoa học cấp Nhà nƣớc KT 03 - 18 về luận cứ khoa học phát triển hệ thống du lịch
biển Việt Nam thuộc chƣơng trình biển KT-03. Dự án quy hoạch tổng thể phát triển
du lịch Việt Nam 1995 - 2010 do Viện Nghiên cứu và Phát triển du lịch thực hiện,
Tổng cục Du lịch đã phối hợp với Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN)
triển khai nghiên cứu du lịch bền vững dƣới góc độ du lịch cộng đồng tại Sapa [19].
Từ năm 2002 trở lại đây, nghiên cứu phát triển du lịch bền vững đã đƣợc nhiều cấp
bộ ngành quan tâm và nghiên cứu. Tiêu biểu trong số đó là công trình định hƣớng
phát triển du lịch đến năm 2010, 2020 các vùng Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, Duyên
hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, địa bàn kinh tế miền Trung…thuộc các chƣơng
trình quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội do Viện Nghiên cứu và Phát triển
du lịch thực hiện; Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt

Trong các từ điển tiếng Việt (Từ điển tiếng Việt, Nxb. Khoa học Xã hội. Hà Nội
1995), du lịch đƣợc giải thích là đi chơi cho biết xứ ngƣời.

Ở Việt Nam, khái niệm này đƣợc định nghĩa chính thức trong Pháp lệnh du
lịch (1999) và Luật Du lịch (2005) nhƣ sau: “Du lịch là hoạt động của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải
trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
Điều kiện kinh tế ngày càng tăng lên, chính vì vậy nhu cầu thƣởng ngoạn của
con ngƣời cũng ngày càng nhiều, đặc biệt là loại hình gắn với tự nhiên và những nơi
cảnh quan nguyên thủy ngày càng đƣợc ƣa chuộng. Tuy nhiên, khi tiến hành hoạt
động du lịch tự phát, thiếu định hƣớng, quy hoạch khiến môi trƣờng chịu nhiều tác
động tiêu cực. Do vậy, vấn phát triển bền vững trong hoạt động du lịch đƣợc quan
tâm sâu sắc hơn, từ đó khái niệm về du lịch bền vững đƣợc ra đời.
b. Khái niệm về du lịch bền vững
Cho đến nay vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về phát triển du lịch bền
vững, theo Butler's (1993) cho rằng phát triển du lịch bền vững là quá trình phát
triển và duy trì trong một không gian và thời gian nhất định (ở đó tồn tại cộng đồng,
môi trƣờng), thêm nữa sự phát triển sẽ không làm giảm khả năng thích ứng môi

8

trƣờng của con ngƣời trong khi vẫn có thể ngăn chặn những tác động tiêu cực tới sự
phát triển lâu dài [6]. Đây là quan điểm đã nhận đƣợc sự đồng thuận khá cao của
các tác giả khác nhƣ Murphy (1994), Mowforth và Munt (1998). Trong khi đó,
Machado (2003) nhấn mạnh đến tính bền vững của các sản phẩm trong phát triển du
lịch, ông cho rằng phát triển du lịch bền vững là quá trình phát triển các sản phẩm
du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành du lịch và cộng
đồng địa phƣơng mà không ảnh hƣởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ
tƣơng lai. Nghiên cứu của Tosun (1998) đề xuất phát triển du lịch bền vững nhƣ là
một trong những thành phần của phát triển du lịch và nó tạo ra những đóng góp

vào [6].
Các tiêu chí để phát triển du lịch bền vững: Đóng góp vào sự thỏa mãn các
nhu cầu của du khách và cộng đồng tại một điểm đến nhất định; đóng góp vào việc
giảm sự bất bình đẳng và nghèo đói của cộng đồng tại điểm đến nhất định; hỗ trợ
cộng đồng tại điểm cảm thấy đƣợc tự do, đƣợc tiếp cận với các dịch vụ du lịch tốt
hơn, giảm các tệ nạn xã hội, duy trì và phát huy đƣợc tính đa dạng và bản sắc văn
hóa dân tộc, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giảm tình trạng ô
nhiễm môi trƣờng; không chỉ góp phần tăng trƣởng kinh tế của quốc gia, khu vực
và địa phƣơng mà sự phát triển còn góp phần nâng cao mức độ công bằng về quyền
lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên và giữa các thế hệ trong xã hội; không chỉ chú ý
đạt đƣợc các mục tiêu trên trong một thời kỳ nhất định mà còn không ảnh hƣởng
đến nhu cầu của thế hệ tƣơng lai.
1.1.3. Cơ sở lý luận về đới ven biển
Ranh giới của khu vực ven biển đƣợc định xác định là đới chuyển tiếp giữa
đất liền và biển, có độ rộng phụ thuộc vào quy mô và cƣờng độ của sự tƣơng tác
giữa lục địa và đại dƣơng. Ranh giới của ĐVB rất khó xác định một cách rõ ràng vì
phụ thuộc vào bản chất của các quá trình tƣơng tác tự nhiên không ổn định và
thƣờng xuyên thay đổi, phụ thuộc vào chế độ thuỷ triều, mùa, khí hậu, thiên tai (bão
biển, các trận lũ lụt, sạt lở v.v.), chính sách của chính phủ, quan điểm của từng
nƣớc, từng chƣơng trình quản lý ĐVB. Cho đến nay, vẫn chƣa có một quy chuẩn

10

chung xác định ranh giới của ĐVB, nhƣng có thể phân biệt ra hai nhóm cách xác
định ranh giới ĐVB:
Cách xác định khoa học: Ranh giới của đới ven biển đƣợc xác định dựa vào
đặc điểm tự nhiên của ĐVB nhƣ đặc điểm địa mạo, động lực vùng biển. ĐVB đƣợc
giới hạn trong vùng biển, đới bãi và vùng đất sau bãi. Vùng biển đƣợc mở rộng từ
mức nƣớc triều thấp nhất về phía biển với các hệ sinh thái biển nông nhƣ cỏ biển,
san hô v.v. Đới bãi đƣợc mở rộng từ mực nƣớc triều thấp nhất đến mực nƣớc triều

200 km tính từ mực nƣớc cao trung
Mực nƣớc thấp trung bình

11

bình
Trung Quốc
10 km tính từ mực nƣớc cao trung bình
15 mét đƣờng đẳng sâu
Tây Ban Nha

500 m tính từ nơi cao nhất của bão
hoặc là đƣờng thuỷ triều
12 hải lý
Srilanka
300 m tính từ mực nƣớc cao trung bình
2 km tính từ mực nƣớc
thấp trung bình
Trong luận văn, ranh giới vùng Đèo Ngang tới Cửa Nhật lệ đƣợc lấy tới độ
cao địa hình là 25m về phía trung du (phần cồn cát). Lấy ranh giới này trên cơ sở
ranh giới phân bố địa chất các thành tạo Đệ tứ và đặc điểm địa hình của khu vực
nghiên cứu, đồng thời đáp ứng mục tiêu quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên
nhiên. Việc lựa chọn giới hạn phần lục địa của vùng nghiên cứu dựa trên thành tạo
địa chất và sự tƣơng tác giữa lục địa và biển, nghĩa là tại những nơi mà ở đó có xuất
hiện các tƣơng tác giữa lục địa và biển trong suốt giai đoạn Holocen trở lại đây.
Về phía biển khu vực nghiên cứu đƣợc xác định theo đƣờng đẳng sâu 30 m
nƣớc bao gồm các đảo và vùng nƣớc ven đảo. Lấy đƣờng đẳng sâu 30m nƣớc trên
cơ sở đƣờng bờ cổ gần nhất trong giai đoạn Holocen. Tuy nhiên, do mục đích của
đề tài là xác lập cơ sở khoa học cho phát triển du lịch bền vững nên học viên chỉ tập
trung vào phần điều kiện tự nhiên phần lục địa trong phạm vi vùng nghiên cứu, khu

nguyên phục vụ phát triển KT - XH, các tiêu chí về bền vững sinh thái - môi trƣờng
- xã hội phải đƣợc đặt lên hàng đầu.
+ Tiếp cận sinh thái
Đới biển ven bờ là một hệ sinh thái đƣợc cấu thành từ các hợp phần chính
nhƣ đất, cát, nƣớc và sinh vật đồng thời cũng là những HST nhạy cảm, có sức chịu
đựng tới hạn nhất định, phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố tự nhiên và đặc biệt nhạy
cảm với hoạt động nhân sinh. Các điều kiện tự nhiên (đặc điểm địa hình, địa mạo,
địa chất, khí hậu, thủy văn, hải văn, thổ nhƣỡng,…) vừa là cơ sở, vừa là yếu tố ảnh
hƣởng đến sự hình thành và phát triển của các HST trên vùng ven biển. Bên cạnh đó
các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên đới ven biển là yếu tố tác động trực tiếp
đến HST, làm biến động HST ven biển. Do vậy, khi nghiên cứu, đánh giá các HST
ven biển khu vực từ Đèo Ngang tới cửa Nhật Lệ nhất thiết phải dựa vào cách tiếp

13

cận sinh thái. Trên cơ sở tiếp cận đó, đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý
khu vực ven biển trong khả năng chịu đựng và phục hồi của các HST ven biển, đảm
bảo cân bằng sinh thái.
+ Tiếp cận lịch sử
Các hợp phần tự nhiên tồn tại, phát triển theo quy luật riêng của chúng
nhƣng lại có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Nghiên cứu tự
nhiên trên quan điểm này cần xuất phát từ lịch sử phát sinh, phát triển của chúng
trong mối tƣơng quan giữa các yếu tố với nhau, từ đó có biện pháp sử dụng hợp lý
nhằm hƣớng tới sự phát triển bền vững.
+ Tiếp cận tích hợp liên ngành
Đặc điểm của vùng đất ven biển vừa phản ánh, vừa phụ thuộc vào các yếu tố
tự nhiên cũng nhƣ các yếu tố KT - XH. Do vậy, để đánh giá đƣợc đặc điểm điều
kiện tự nhiên của vùng ven biển cần phải nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau, tức
là có sự tích hợp nhiều nguồn thông tin khác nhau.
1.2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu

Phân tích độ hạt: phƣơng pháp này sử dụng bộ rây và pipet (đối với trầm tích bở
rời) để tính hàm lƣợng % các cấp hạt (sạn, cát, bột, sét ) từ đó xây dựng các biểu đồ
tích luỹ độ hạt, biểu đồ phân bố độ hạt, tính toán các tham số Md, So, Sk để xác định
chế độ thuỷ động lực của môi trƣờng.
Trong luận văn, học viên sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu mẫu trầm tích để
xác định hệ số Md, S
0
qua đó đánh giá chất lƣợng cát của bãi tắm.
e. Phương pháp đánh giá tiềm năng du lịch
Phƣơng pháp đánh giá tài nguyên du lịch cụ thể là đánh giá chất lƣợng các
bãi tắm. Trong luận văn học viên sử dụng các tiêu chí đánh giá dựa theo các công
trình công bố của các nhà khoa học về du lịch đã nghiên cứu. Lựa chọn phƣơng
pháp phù hợp nhất để từ đó chấm điểm cho các tiêu chí, tổng hợp lại đánh giá khả
năng phù hợp cho du lịch.

15

Chƣơng 2 - TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
2.1. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
2.1.1. Vị trí địa lý
Đới ven biển khu vực từ Đèo Ngang tới cửa Nhật Lệ thuộc tỉnh Quảng Bình
trong phạm vi các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch và thành phố Đồng Hới, đƣợc giới
hạn bởi:
- Phía Bắc chắn bởi Đèo Ngang - một nhánh Hoành Sơn của dãy Trƣờng
Sơn, lấy là đƣờng ranh giới của tỉnh Quảng Bình tiếp giáp với Hà Tĩnh.
- Phía Nam lấy gianh giới khu vực sông Nhật Lệ, lấy ranh giới hành chính
của thành phố Đồng Hới tiếp giáp với huyện Quảng Ninh.
- Phía Tây là diện tích phần trung du, lấy đƣờng cao địa hình 25 mét làm
ranh giới.
- Phía Đông lấy ra đƣờng đẳng sâu 30m nƣớc, bao gồm cả 5 hòn đảo là Hòn

Sơn ở phía Tây nên khí hậu mang những nét riêng biệt của vùng tiểu khí hậu.
- Mưa:
Lƣợng mƣa trung bình nhiều năm dao động từ 1.900 - 2.200 mm [3]. Lƣợng
mƣa phân phối không đều cả về thời gian, không gian, tập trung chủ yếu vào các
tháng mùa mƣa lũ, từ tháng 9 đến tháng 11 chỉ kéo dài 3 tháng nhƣng lƣợng mƣa đã
chiếm tới 80% tổng lƣợng mƣa cả năm. Mƣa lớn nhất trong năm xảy ra vào tháng 9,
tháng 10 thƣờng có các trận mƣa cƣờng độ lớn, kéo dài liên tục trong một số ngày
do bão, dải hội tụ, hoặc các nhiễu động thời tiết khác gây nên. Sau mùa mƣa lũ kể
từ tháng 12 lƣợng mƣa giảm đi rất nhanh và kéo dài cho đến tháng 4 năm sau, thời
kỳ này các tháng có lƣợng mƣa nhỏ dƣới 100 mm, tháng 2, tháng 3 có lƣợng mƣa
trung bình tháng nhỏ nhất trong năm và thông thƣờng chỉ đạt từ 30 - 50 mm mỗi
tháng (Bảng 2.1). Tiếp đến tháng 5, tháng 6 là thời kỳ lƣợng mƣa lại bắt đầu tăng
đáng kể, đây là thời kỳ mƣa phụ trong năm, gọi là mƣa tiểu mãn, loại mƣa này
không phải năm nào cũng xảy ra nhƣng theo thống kê nhiều năm thì số năm xảy ra
chiếm tỷ lệ khá lớn, khoảng 60-70% [3]. Số ngày mƣa trung bình là 150 ngày/ năm.
Bảng 2.1. Lƣợng mƣa trung bình nhiều năm tại các trạm [3]
Đơn vị: mm
Trạm
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11


18

Ngoại trừ mƣa bão và vào mùa mƣa, các tháng còn lại thƣờng ít mƣa và cơ
chế mƣa là mƣa rào. Kiểu mƣa này nhanh tạnh, ít ảnh hƣởng tới tham quan du lịch.
Ở một khía cạnh khác, các cơn mƣa đóng vai trò trong việc làm sạch không khí, sau
cơn mƣa không khí trong lành hơn, cảnh quan thoáng đãng, không gây ảnh hƣởng
tới du lịch.
- Chế độ nhiệt, nắng, bốc hơi, độ ẩm, gió
 Chế độ nhiệt:
Toàn bộ khu vực nghiên cứu nằm trong vùng nội chí tuyến Bắc bán cầu, một
năm có hai lần mặt trời đi qua thiên đỉnh. Độ dài của thời gian ban ngày giữa các
mùa trong năm chênh lệch không nhiều do vậy lƣợng bức xạ mặt trời rất phong phú
và tƣơng đối đều trong năm. Tổng lƣợng bức xạ cao, trung bình đạt 120-140
kcal/cm
2
/ngày. Tổng bức xạ trong mùa hè (từ tháng 4 - tháng 9) chiếm từ 64 - 69%
tổng lƣợng bức xạ năm. Lƣợng bức xạ dồi dào dẫn đến nhiệt độ ở vùng tƣơng đối
cao, tổng nhiệt độ trung bình năm đạt 8.500
0
C đến 8.700
0
C. Nhiệt độ trung bình
nhiều năm có xu hƣớng tăng dần từ Bắc xuống Nam, ở vùng đồng bằng ven biển
thƣờng cao hơn ở vùng đồi núi. Tại Ba Đồn và Đồng Hới đều lớn hơn 24
0
C (dao
động từ 24,1
0
C - 24,7

27,1
24,7
22,0
19,4
24,5
Đồng Hới
19,2
19,4
21,7
24,8
28,0
29,8
29,8
29,1
27,0
24,8
22,6
19,9
24,7
Các tháng mùa hè (từ tháng 4 - tháng 10) có nhiệt độ trung bình cao hơn các
tháng mùa đông, nhiệt độ đều đạt trên 24
0
C đến gần 30
0
C. Tháng 7 là tháng có nhiệt
độ trung bình cao nhất và tháng 1 là tháng có nhiệt độ thấp nhất. Sự biến đổi nhiệt
độ có mức độ khác nhau tại các vùng và các thời kỳ, nhất là ở các thời kỳ chuyển
tiếp giữa các mùa, tăng nhanh vào tháng 3 - 4 và giảm nhanh vào tháng 10 - 11.

19

3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Ba Đồn
99,4
67,3
106,5
164,1
239,3
214,5
241,1
192,4
156,6
147,8
95,5
88,8
1813,1
Đồng Hới
96,2
68,9
99,8
161,4

4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Ba Đồn
49,6
37,0
45,5
61,7
114,2
147,5
175,4
136,3
72,7
65,4
60,0
56,3
1021,5
Đồng
Hới
61,7
45,8
52,3
70,2

11
12
Năm
Ba Đồn
88
89
89
87
81
75
73
77
85
87
87
87
84
Đồng Hới
88
89
90
87
81
72
71
75
84
86
86
86


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status