PHƯƠNG PHÁP GÂY HỨNG THÚ CHO HỌC SINH
TRONG GIỜ HỌC TIẾNG ANH
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Ngày nay khi nền kinh tế của các nước trên thế giới ngày càng phát triển
thì sự giao lưu văn hoá chính trị, xã hội giữa các quốc gia ngày càng được mở
rộng. Để giao tiếp được với nhau thì đòi hỏi các quốc gia khác nhau trên thế
giới, phải biết sử dụng thành thạo một ngôn ngữ chung ngoài tiếng mẹ đẻ của
mình. Trong các ngôn ngữ giao tiếp thông dụng trên thế giới, Tiếng Anh đang
được coi là ngôn ngữ chung phổ biến nhất.
Từ nhiều năm nay, việc học ngoại ngữ, nhất là đối với môn Tiếng Anh
ngày càng được phổ biến rộng rãi và môn học này đang trở thành môn học bắt
buộc trong các trường học. Bởi vậy yêu cầu đặt ra là làm thế nào để giờ dạy đạt
chất lượng và hiệu quả cao. Yêu cầu này đòi hỏi người giáo viên phải luôn hoàn
thiện mình không chỉ về trình độ chuyên môn, mà cả về phương pháp dạy học
và thủ thuật dạy học.
Là một giáo viên Tiếng Anh ở trường THCS, tôi luôn trăn trở là dạy làm
sao cho trò hiểu và phát huy được tính tích cực, sáng tạo ở các em. Chính vì vậy
tôi thiết nghĩ việc trau dồi phương pháp không phải là của riêng ai mà là vấn đề
chung cho mọi giáo viên. Cùng một vấn đề song người thầy phải làm thế nào để
nó đơn giản nhất, dễ hiểu nhất khi truyền đạt cho các em, giúp các em hiểu và
khắc sâu được vấn đề. Nhất là làm sao để thu hút các em vào hoạt động học tập,
từ đó tạo ra ấn tượng tốt đối với các em để các em đi đến với bộ môn một cách
tự nguyện, hứng thú chứ không là một sự áp đặt, ép buộc học sinh. Trên thực tế
vấn đề đã được nhiều quý thầy cô đồng nghiệp đề cập đến, song với bản thân tôi
cũng có những quan điểm riêng của mình trong vấn đề này. Vì vậy, với điều
kiện thực tế của nhà trường, thực trạng học sinh trong bộ môn Tiếng Anh ở
trường THCS Vĩnh Mỹ A tôi mạnh dạn đưa ra vấn đề và đưa vào nghiên cứu
thực tế.
B. NỘI DUNG:
1. Thực trạng của vấn đề:
1
2
2.1. Phương pháp gây hứng thú cho học sinh thông qua đồ dùng trực
quan:
Theo quan điểm của tôi tất cả các phương tiện dạy học như băng, đài và
các phương tiện trực quan như tranh, ảnh, đồ vật thật,… đều có thể gây hứng thú
cho học sinh trong học tập. Trong đó, việc sử dụng đồ dùng trực quan là phương
pháp gây hứng thú cho học sinh có hiệu quả nhất trong giảng dạy Tiếng Anh. Vì
phương tiện trực quan đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập mối quan hệ
giữa ngôn ngữ và ý nghĩa, giúp học sinh liên tưởng được ý nghĩa của ngôn ngữ
một cách trực tiếp, dễ dàng, dễ khắc sâu mà không cần phiên dịch.
Với các chủ đề gần gũi, sát thực với cuộc sống thường ngày của bộ sách
giáo khoa Tiếng Anh từ khối 6 đến khối 9, giáo viên có thể giới thiệu từ mới hay
tình huống thông qua các phương tiện trực quan như hình ảnh hay đồ vật thật.
Ví dụ: Khi dạy (Unit 2: At school – English 6). Để giới thiệu từ mới:
a book → một quyển sách
a school bag → một cái cặp học sinh
a pencil → một cái bút chì
an eraser → một cục tẩy
Giáo viên có thể chỉ vào các đồ vật có thật ở trong lớp và giới thiệu:
“This is a door” or “ That is a desk” ,…
Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh nhìn vào đồ vật và đoán nghĩa của từ.
Phương pháp này cho các em hứng thú học tập và sự tập trung cao vì các từ mà
giáo viên giới thiệu là những đồ vật rất gần gũi và dễ đoán nghĩa đối với các em.
Tuy nhiên không phải lúc nào cũng có sẵn đồ vật thật ở trường nên giáo
viên có thể sử dụng tranh ảnh để thay thế. Trong bộ sách giáo khoa Tiếng Anh
mới, hình ảnh được đưa ra để giới thiệu rất sẵn, sống động và giống với hình ảnh
thật trong cuộc sống. Vì vậy trong khi giảng dạy, giáo viên không những phải
biết khai thác và sử dụng chúng một cách tối đa mà còn phải sử dụng một cách
linh hoạt và sáng tạo. Đây là cách dạy nhẹ nhàng nhất, dễ hiểu nhất nhưng kết
quả đạt được rất cao và rất phù hợp với đối tượng học sinh trung học cơ sở ở
Giáo viên treo tranh nói về các hoạt động tiêu biểu trong giờ ra chơi lên
trên bảng.
4
Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh gấp sách vở lại, nhìn vào tranh và nói
về hoạt động của các bạn học sinh trong giờ ra chơi.
Ví dụ: Picture a - Student says: the girls are skipping.
Picture b - Student says: the boys are talking.
Qua thực tế giảng dạy trên lớp, tôi thấy các giáo cụ trực quan luôn làm
cho giờ học sôi nổi, đạt hiệu quả cao và gây được hứng thú đối với học sinh
trong giờ học.
2.2. Phương pháp khêu gợi trí tò mò và tính ham hiểu biết của học
sinh:
Đối với lứa tuổi học sinh THCS sự tò mò và tính ham hiểu biết của các
em rất lớn nên các em dễ bị lôi cuốn vào những vấn đề mà chúng quan tâm.
Do vậy, khi biên soạn sách giáo khoa Tiếng Anh từ lớp 6 đến lớp 9 các
nhà biên soạn sách hiện hành đã tập trung vào những chủ đề gần gũi, sát thực
với học sinh, phù hợp với trình độ, tâm lí lứa tuổi, nhu cầu, sở thích cũng như
vốn sống của các em.
Ví dụ 1: Khi nói đến chủ đề về công việc hàng ngày (Unit 5 – English
6) có các chủ điểm sau:
A. My day. (Một ngày của tôi)
B. My routine. (Công việc thường nhật của tôi)
Nói đến chủ đề về đồ ăn và đồ uống có các chủ điểm như:
- Food and Drink (Unit 10 – English 6)
- At the store (Unit 11 – English 6)
- Our food (Unit 12 – English 7)
Nói về chủ đề địa điểm (places):
- (A) Our house (Nhà của tôi)
- (C) Around the house (Xung quanh ngôi nhà). (Unit 6 – English 6)
- Asking the way (Unit 8 – English 7)
T: I play volleyball và hỏi: Which sport do you play?
(Tôi chơi bóng chuyền) (Em chơi môn thể thao nào?)
Học sinh sẽ dễ dàng hiểu được yêu cầu của giáo viên và thực hành.
Student 1: I play soccer.
6
Student 2: I play badminton,
hay khi dạy Unit 6: Part B. It’s time for recess. (English 7)
Sau khi học xong phần B
1
về những hoạt động mà học sinh Việt Nam
thường làm sau giờ học. Ở phần B
2
học sinh sẽ được học một bài đọc nói về
những hoạt động của học sinh Mỹ trong thời gian rãnh rỗi. Để khêu gợi trí tò mò
của học sinh vào bài học giáo viên có thể hỏi như sau:
T: Do you know what students in the USA like to do in their free time?
(Các em có biết học sinh ở Mỹ thích làm gì vào lúc rỗi không?)
Ss: guess the activities. (đoán hành động)
T: Now look at the pictures given and compare with your guessing.
(Bây giờ các em hãy nhìn vào tranh cho sẵn và so sánh với những dự đoán
của em.)
Chắc chắn học sinh sẽ rất thích thú và tò mò muốn biết các bạn học sinh
Mỹ thường tham gia hoạt động gì lúc rảnh rỗi.
2.3. Phương pháp thúc đẩy động cơ học tập của học sinh:
Như đã nói ở trên, học sinh chỉ có được động cơ học tập khi các em cảm
thấy hứng thú đối với môn học và thấy được sự tiến bộ của mình. Do vậy, ngoài
việc sử dụng các tình huống thách đố nhằm hấp dẫn, lôi cuốn học sinh vào
những hoạt động trên lớp, giáo viên còn phải biết khích lệ, động viên các em
trong học tập.
Để giúp các em nhận thấy được sự tiến bộ trong học tập, giáo viên cần
Giáo viên đọc lần lượt các con số trong dãy số mà mình đã chuẩn bị sẵn.
Học sinh lắng nghe và đánh dấu vào ô con số mà giáo viên vừa đọc. Học sinh
nào có 3 ô liên tục được đánh dấu thì hô to “Bingo”. Học sinh nào “Bingo” bảng
số của mình trước là người chiến thắng.
2.4.2. Trò chơi: “Jumble words” được dùng để kiểm tra từ vựng:
* Ví dụ: Khi dạy xong chủ đề “Food and Drink” trong Tiếng Anh 6. Để kiểm tra
xem học sinh có thuộc từ vựng và nhanh mắt hay không giáo viên có thể viết
một số từ bị xáo trộn lên bảng.
Eronga / awtre / riutf / ppael / iol – kcoigno
8
và yêu cầu học sinh xếp lại thành từ có nghĩa
→ orange (quả cam)
→ water (nước)
→ fruit (hoa quả)
→ apple (quả táo)
→ cooking oil (dầu ăn)
2.4.3. Trò chơi “Slap the board”. Dùng để kiểm tra từ vựng hoặc củng
cố lại kiến thức:
* Ví dụ: Khi dạy bài 8 – “Places” trong sách Tiếng anh lớp 7, giáo viên viết các
danh từ nói về địa điểm vào các mảnh giấy nhỏ và gắn lên bảng.
Giáo viên gọi từng cặp học sinh một lên bảng.
Giáo viên hô to từ Tiếng Việt, học sinh vỗ vào từ được gọi bằng Tiếng
Anh ở trên bảng. Em nào vỗ nhanh và đúng nhiều hơn sẽ là người chiến thắng.
2.4.4. Guessing game:
* Ví dụ: Khi dạy bài 9 – “The body” trong sách Tiếng Anh lớp 6, giáo viên có
thể lồng ghép trò chơi hỏi đoán như sau:
Sau khi học sinh được học cách mô tả hình dáng bên ngoài của các nhân
vật, giáo viên cho một học sinh lên bảng và ghi tên của một bạn trong lớp mà
các em muốn miêu tả vào một mảnh giấy mà không cho các bạn khác biết. Sau
đó giáo viên cho học sinh tả bằng Tiếng Anh và yêu cầu các học sinh khác đoán
kém).
Kết quả học kỳ I, năm học: 2013 – 2014
Giỏi Khá TB Yếu Kém
Lớp SS SL % SL % SL % SL % SL %
6C 40 2 5 8 20 17 42.5 13 32.5
6D 38 1 2.6 07 18.4 13 34.2 15 39.5 2 5.3
10
Kết quả cuối năm học: 2013-2014
Giỏi Khá TB Yếu Kém
Lớp SS SL % SL % SL % SL % SL %
6C 39 02 5.1 12 30.8 19 48.7 06 15.4
6D 38 01 2.6 07 18.4 20 52.6 09 23.7 01 2.6
(Sĩ số lớp 6C giảm 01 h/s)
Chính vì vậy tôi mạnh dạn đưa đề tài này ra để cùng thảo luận, chia sẻ và
rút kinh nghiệm để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy.
C. KẾT LUẬN
Qua thực tế giảng dạy Tiếng Anh ở trường THCS, tôi có thể nói rằng việc
gây được hứng thú cho học sinh đối với môn học là vô cùng quan trọng vì: Nếu
như các em có được hứng thú đối với môn học các em mới nỗ lực phấn đấu hết
mình để đạt được kết quả cao trong học tập. Do đó để gây được hứng thú học
tập cho học sinh việc sử dụng đồ dùng trực quan, các trò chơi cũng như việc
khích lệ các em tham gia thực hành trong quá trình giảng dạy của mình là luôn
cần thiết. Tuy nhiên để vận dụng thành công còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố
mà yếu tố tiên quyết nhất đó chính là cái tâm của người giáo viên trong quá trình
thực hiện nhiệm vụ của mình.
* Kiến nghị:
Cung cấp thêm tranh ảnh theo các chủ điểm bài học để mỗi bài học có sự
sinh động, gây hứng thú học tập cho học sinh.
Gia đình và các tổ chức xã hội luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi, cho các
em đến trường với tâm trạng phấn khởi trong học tập.
3. Kiến nghị 11
Danh mục tài liệu tham khảo 12
13