SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT LONG KHÁNH
Mã số:
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NGHỆ THUẬT TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÝ TẠI TRƯỜNG THPT
LONG KHÁNH
Người thực hiện: HOÀNG THỊ THÚY NGA
Lĩnh vực nghiên cứu: Phương pháp dạy học môn: ĐỊA LÝ
Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2014 – 2015
LÍ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: HOÀNG THỊ THÚY NGA
2. Ngày tháng năm sinh: 23/01/1986
3. Nam, nữ: nữ
4. Địa chỉ: tổ 26, Bảo Vinh A, xã Bảo Vinh, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai
5. Điện thoại: 0933 491 517
6. Email: [email protected]
7. Đơn vị công tác: TRƯỜNG THPT LONG KHÁNH
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị cao nhất: Thạc sĩ Địa lý
- Năm nhận bằng: 2012
- Chuyên ngành đào tạo: Địa lý học
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Số năm có kinh nghiệm giảng dạy: 4 năm
2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
2.2.3. Sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học Địa lý …………… … 15
2.2.4. Liên hệ thực tế và rèn luyện kĩ năng sống cho HS…………….… 22
2.2.5. Nghệ thuật sử dụng phương pháp thảo luận nhóm để tăng hứng thú
học tập của HS ………………………….……………………………………… 25
2.2.6. Tạo hứng thú cho HS bằng cách tiểu kết hợp lý, chuyển ý hấp dẫn 29
2.2.7. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học……………… ….32
2.2.8. Trình bày trực quan kiến thức cơ bản của bài học bằng SĐ tư duy 33
2.2.9. Thiết kế trò chơi tạo hứng thú cho HS……………………… …….35
2.3. Tạo hứng thú cho HS thông qua việc thay đổi cách thức kiểm tra, đánh
giá……………………………………………………………………….39
3. Tạo hứng thú cho HS thông qua các hoạt động tham quan ngoại khóa.….40
4. Tạo hứng thú cho HS thông qua hoạt động của CLB Địa lý.…….……… 42
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI …………………………… …………………….44
V. KẾT LUẬN…………………….………………………………….………… 45
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
4
VII. PHỤ LỤC ……………………………………………….………………… 47
NGHỆ THUẬT TẠO HỨNG THÚ CHO HS TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA
LÝ TẠI TRƯỜNG THPT LONG KHÁNH
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Các nhà tâm lí học nghiên cứu và chỉ ra rằng hứng thú có một vai trò quan
trọng trong quá trình hoạt động của con người. Nó là động cơ thúc đẩy con người
tham gia tích cực vào hoạt động đó. Khi được làm việc phù hợp với hứng thú dù
phải khó khăn con người cũng vẫn cảm thấy thoải mái và đạt được hiệu quả cao.
Trong hoạt động học tập, hứng thú có vai trò hết sức quan trọng, thực tế cho thấy
hứng thú đối với các bộ môn của học sinh tỉ lệ thuận với kết quả học tập của các
em.
Bàn về thực trạng học tập môn Địa lý của học sinh Trung học phổ thông
(THPT) nói chung, HS trường Long Khánh nói riêng, bên cạnh những học sinh vui
thích, đam mê với việc học tập thì cũng có một bộ phận không nhỏ các em không
hoạt động, ở bề rộng và chiều sâu của hứng thú.
Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt động
nhận thức, tăng sức làm việc.
* Từ khái niệm về hứng thú ta có thể suy ra được định nghĩa của hứng thú học
tập: hứng thú học tập là thái độ đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt
động học tập, vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong đời
sống cá nhân.
1.2. Tầm quan trọng của hứng thú đối với các hoạt động sống và học tập
Sự hứng thú thể hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê của chủ
thể hoạt động. Sự hứng thú gắn liền với tình cảm của con người, nó là động cơ
thúc đẩy con người tham gia tích cực vào hoạt động đó. Trong bất cứ công việc gì,
nếu có hứng thú làm việc con người sẽ có cảm giác dễ chịu với hoạt động, nó là
động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực và sáng tạo hơn vào hành động đó.
Ngược lại nếu không có hứng thú, dù là hành động gì cũng sẽ không đem lại kết
quả cao. Đối với các hoạt động nhận thức, sáng tạo, hoạt động học tập, khi không
có hứng thú sẽ làm mất đi động cơ học, kết quả học tập sẽ không cao, thậm chí
xuất hiện cảm xúc tiêu cực.
1.3. Khái niệm động cơ
Trong tâm lý học có nhiều cách lý giải khác nhau về động cơ:
- Theo thuyết phân tâm học: Động lực thúc đẩy hoạt động của con người là vô
thức. Nguồn gốc vô thức là những bản năng nguyên thủy mang tính sinh vật và
nhấn mạnh vai trò của các xung năng tính dục.
- Theo thuyết hành vi: Đưa ra mô hình “kính thích - phản ứng”, coi kích thích là
nguồn gốc tạo ra phản ứng - là động cơ.
- Theo J. Piaget: Động cơ là tất cả các yếu tố thúc đẩy cá thể hoạt động nhằm đáp
ứng nhu cầu và định hướng cho hoạt động đó.
6
- Theo thuyết tâm lý hoạt động: Những đối tượng nào được phản ánh vào óc ta
mà có tác dụng thúc đẩy hoạt động, xác định phương hướng hoạt động để thỏa
mãn nhu cầu nhất định thì được gọi là động cơ hoạt động.
thường
Không thích
2012-2013 10A 5/39 12/39 17/39 5/39
2013-2014 11B5 6/37 14/37 13/37 4/37
2014-2015 12B6 8/37 15/37 10/37 4/37
Tổng số 113 HS 19 41 40 13
7
100 % 16,8 % 36,3 % 35,4 % 11,5 %
Như vậy, vẫn còn một bộ phận HS cảm thấy thờ ơ với môn Địa lý, thậm chí
một số HS còn thể hiện rõ thái độ chán nản, không hứng thú với môn học.
2.2. Thái độ của học sinh đối với việc học môn Địa lý
Năm học Lớp Phát biểu nhiều Có phát biểu nhưng
không nhiều
Không
phát biểu
2012- 2013 10 A 5/39 8/39 26/39
2013-2014 11 B5 7/37 10/37 20/37
2014-2015 12B6 8/37 10/37 19/37
Tổng số 113 HS 20 28 65
100 % 17,7 % 24,8 % 57,5 %
Qua thái độ của học sinh trong giờ học có thể thấy, chỉ có khoảng gần ¼ học
sinh trong lớp là thực sự hứng thú với môn học, một bộ phận sự hứng thú với môn
học không liên tục, một bộ phận bàng quan trong tiết học.
2.3. Động cơ học tập môn Địa lý
Năm học Lớp
Vì yêu thích
môn học, muốn
khám phá, trau
dồi kiến thức
Học để kiểm tra,
2012-2013 10 A 10/39 13/39 9/39 4/39 2/39
2013-2014 11B5 9/37 14/37 8/37 5/37 1/37
2014-2015 12B6 8/37 15/37 6/37 6/37 2/37
Tổng số
113
HS
27 42 23 15 5/37
100
%
23,9% 37,2% 20,4% 13,2% 4,4%
Như vậy, có nhiều lý do khiến học sinh chán học. Nhưng lý do lớn nhất
khiến tới 37,2% HS không thấy hứng thú học là do cảm thấy môn học thiếu hấp
dẫn. Như vậy, làm thế nào để môn học trở nên hấp dẫn hơn đối với học trò là điều
mà tác giả luôn trăn trở, suy nghĩ.
3. Một số giải pháp nhằm tạo hứng thú cho HS trong dạy học môn Địa lý tại
trường THPT Long Khánh
• Tạo động cơ học tập đúng đắn cho HS, giúp HS có niềm đam mê với môn
học.
• Tạo hứng thú cho HS trong từng khâu lên lớp:
- Mở bài hấp dẫn bằng nhiều cách khác nhau, khơi gợi sự tò mò, ham học hỏi
của HS.
- Trong từng nội dung của bài học: sử dụng nhiều phương pháp sinh động, phát
huy tính tự giác, tích cực của HS, hướng đến dạy học cá thể, sử dụng kiến thức
liên môn trong giảng dạy giúp HS vận dụng kiến thức để giải thích được các
vấn đề thực tế, qua đó rèn luyện kĩ năng sống cho HS; ứng dụng CNTT vào
thiết kế bài giảng, tổ chức các trò chơi,…làm cho tiết học trở nên sôi nổi, HS
cảm thấy hứng thú hơn.
- Tổ chức cho HS đi tham quan ngoại khóa, tổ chức CLB Địa lý tạo sân chơi lành
mạnh cho các em, cung cấp cho các em thêm nhiều kiến thức bổ ích.
III. Tổ chức thực hiện các giải pháp nhằm tạo hứng thú cho HS trong dạy học
Địa lý. Cụ thể:
Chương bản đồ chúng ta sẽ thấy được: À để xây dựng được một chiếc bản
đồ không hề đơn giản nhưng cũng không quá khó với sự hỗ trợ của công nghệ
thông tin. Và chiếc bản đồ quen thuộc không đơn thuần là để xác định vị trí mà hóa
ra ngành nào cũng cần đến nó, thật thú vị!
Đến chương 2 chúng ta sẽ đi khám phá vũ trụ, hệ Mặt Trời và Trái Đất để
hiểu hơn về sự hình thành vũ trụ, để giải thích được tại sao đến nay Trái Đất là
hành tinh duy nhất trong hệ Mặt Trời có sự sống, tại sao trên Trái Đất có ngày đêm,
có các mùa, & giờ mỗi nơi trên TĐ lại khác nhau?
Các chương tiếp theo chúng ta sẽ được khám phá lòng đất, các tầng đá, bầu
khí quyển, sự phân bố đất, và sinh vật trên TĐ,…
Tuy nhiên hứng thú học tập của học sinh được tăng cường phần lớn chịu sự
ảnh hưởng bởi giáo viên. Khi khảo sát động cơ học tập của HS tại trường, ngoài lý
do là học Địa lý để nâng cao kiến thức, thi cử thì tác giả thật sự bất ngờ khi phần
10
lớn học sinh thích học môn Địa lý, cảm thấy hứng thú trong tiết học vì tiết học
thoải mái, không áp lực, không buồn chán, cô dạy nhiệt tình, dễ hiểu, cô lại vui
tính, thân thiện, gần gũi với HS.
Do đó, giáo viên cần không ngừng trau dồi kỹ năng, phẩm chất đạo đức nghề
nghiệp, cải tiến phương pháp giảng dạy, đảm bảo việc truyền thụ tri thức ngày càng
chính xác, hấp dẫn, có chất lượng. Giáo viên cần giúp cho học sinh thấy được ý
nghĩa và vai trò của các kiến thức môn học đối với cuộc sống; giúp học sinh biết
cách học thích hợp đối với bộ môn, nắm vững lý thuyết, luôn có sự vận dụng các
kiến thức đã học vào cuộc sống và giải quyết các tình huống trong đời sống theo
các khía cạnh khác nhau. Cần có những bài giảng nêu vấn đề, những giờ thảo luận
trên lớp, những trò chơi mang tính chất giáo dục để kích thích hứng thú học tập
cho các em. Quá trình kích thích hứng thú không chỉ diễn ra ở bài giảng này hay
bài giảng khác mà cần phải diễn ra trong suốt quá trình. Do đó, trong quá trình
giảng dạy, người giáo viên cần tạo ra các hoàn cảnh nhằm kích thích hứng thú học
tập của học sinh, tăng tính tích cực của trí tuệ.
sự chú ý và kích thích sự tò mò của các em.
Ví dụ: Khi dạy bài 27: “Vai trò, đặc điểm, các nhân tố ảnh hưởng đến sự
phát triển, phân bố nông nghiệp. Một số hình thức TCLTNN” (Địa lý 10), GV có
thể mở bài như sau: “Tại sao nói hiện nay cũng như sau này không có ngành nào
có thể thay thế được sản xuất nông nghiệp. Ngành nông nghiệp có đặc điểm gì &
sản xuất nông nghiệp trên Thế giới cũng như ở Việt Nam có những hình thức nào.
Các câu hỏi này sẽ lần lượt được sáng tỏ trong bài học hôm na
• Mở bài bằng cách sử dụng phương pháp động não:
Dựa vào nội dung của bài, GV nêu một số câu hỏi hay một ý tưởng yêu cầu
HS phát biểu ý kiến cá nhân của mình. Sau đó, GV gom các ý kiến lại hướng vào
nội dung của bài học để tiến hành bài học.
Ví dụ khi dạy bài 22: “Dân số và tình hình tăng dân số thế giới” (Địa lý
10), GV có thể đặt ra các câu hỏi như:
+ Em nào biết dân số TG hiện nay khoảng bao nhiêu, theo em trong tương lai quy
mô dân số sẽ biến động như thế nào (tiếp tục tăng nhanh hay ổn định hoặc giảm
xuống)?
+ Theo em tại sao dân số Thế giới hoặc dân số của một quốc gia, một vùng, một
địa phương nào đó lại luôn biến động?
+ HS lần lượt trả lời, thậm chí còn tranh luận gay gắt về xu hướng biến động quy
mô dân số trong tương lai.
+ GV: Ý kiến của mỗi em đều có lý lẽ riêng của mình, đúng là quy mô dân số hiện
nay rất lớn, đạt trên 7 tỉ người, thời gian vừa qua dân số Thế giới đã tăng rất nhanh,
trong tương lai gần quy mô dân số vẫn tiếp tục tăng nhưng có xu hướng chậm lại,
trong tương lai xa quy mô dân số sẽ dần ổn định, thậm chí có thể giảm. Bởi có
nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động quy mô dân số Thế giới. Các em
cũng đã đưa ra được một số nguyên nhân hợp lý. Vậy ngoài những nguyên nhân đó
còn có những nguyên nhân nào khác ảnh hưởng đến sự biến động quy mô dân số
Thế giới nói chung, từng quốc gia và vùng lãnh thổ nói riêng, chúng ta cùng tìm
hiểu trong bài học hôm nay.
• Mở bài bằng cách nêu giả thuyết:
hấp dẫn, phát huy tính tự giác, tích cực của HS, hướng đến dạy học cá thể, sử dụng
kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề, giúp HS vận dụng kiến thức để giải thích
được các vấn đề thực tế, qua đó rèn luyện kĩ năng sống cho HS.
II.2.1. Chọn kiến thức cơ bản của bài học
Đây là điều tưởng như rất đơn giản nhưng không phải ai cũng làm được. Bởi
giáo viên thường không muốn bỏ sót nội dung nào trong bài học. Càng đến tiết
thao giảng, dự giờ, giáo viên càng đưa vào bài giảng nhiều nội dung. Chính vì vậy,
tiết học thường bị “cháy”. Điều này làm học sinh quá tải, cảm thấy mệt mỏi, chán
học.
Trong bài học: chúng ta nên xác định rõ nội dung cơ bản, trọng tâm, những
kiến thức khó để xoáy sâu vào giải quyết vấn đề. Đối với những nội dung không
quá khó, học sinh có thể tự nghiên cứu ở nhà thì chúng ta không cần phải đưa hết
vào tiết học để tránh bài học bị loãng, quá tải và nhàm chán. Thời gian còn, chúng
ta cần mở rộng vấn đề, dành thời gian cho HS hoạt động, trình bày suy nghĩ, sử
dụng kiến thức bài học để giải quyết các vấn đề thực tế. Qua đó GV vừa đánh giá
13
được HS đã hiểu bài đến đâu và có tác động kịp thời, vừa cho các em cơ hội để lấy
điểm miệng hoặc điểm cộng trên lớp.
II.2.2. Có thể sắp xếp lại cấu trúc bài dạy trên lớp để làm nổi bật các
kiến thức trong hệ thống bài học
Việc chọn lọc kiến thức cơ bản của bài dạy có thể gắn với việc sắp xếp lại
cấu trúc của bài học để làm nổi bật các mối liên hệ giữa các hợp phần kiến thức
của bài, từ đó làm rõ thêm trọng tâm, trọng điểm của bài. Việc làm này thực sự cần
thiết, tuy nhiên không phải bài nào cũng tiến hành được.
Chẳng hạn: Bài 11 lớp 11: Khu vực ĐNA, tiết 1: Tự nhiên, dân cư & xã hội,
chúng ta có thể kết hợp nội dung mục 2 & mục 3 để bài học chặt chẽ, dễ hiểu hơn,
không bị rời rạc:
Các yếu
tố tự
nhiên
- Rừng xích đạo, rừng
nhiệt đới
Biển
- Phần lớn các nước giáp biển (trừ
Lào), vùng biển giàu tiềm năng.
- Vùng biển rộng lớn giàu
tiềm năng.
Đánh giá
Thuận lợi
- Khí hậu nóng ẩm, hệ đất trồng phong phú, mạng
lưới sông ngòi dày đặc thuận lợi cho việc phát triển
một nền nông nghiệp nhiệt đới.
- Đông Nam Á có lợi thế về biển (trừ Lào) thuận lợi
để phát triển các ngành kinh tế, cũng như thương
mại, hàng hải.
- Đông Nam Á nằm trong vành đai sinh khoáng vì
thế có nhiều loại khoáng sản. Vùng thềm lục địa
nhiều dầu khí, là nguồn nguyên, nhiên liệu cho phát
triển kinh tế.
14
- Đông Nam Á có diện tích rừng xích đạo và nhiệt
đới ẩm lớn.
Khó khăn
- Rừng đang có nguy cơ bị thu hẹp do khai thác
không hợp lí và do cháy rừng.
- Chịu ảnh hưởng nặng nề của các thiên tai như động
đất, sóng thần, bão, lũ lụt,…
- Vấn đề khai thác và sử dụng hợp lí tài nguyên thiên
nhiên, phòng tránh, khắc phục thiên tai là nhiệm vụ
quan trọng của các quốc gia trong khu vực.
Ví dụ 1:
15
Khi dạy Bài 6 (Địa lý 10): Hệ quả chuyển động xung quanh mặt trời của Trái
Đất để khắc sâu kiến thức phần III. “Ngày đêm, dài ngắn theo mùa và theo vĩ độ”,
GV sử dụng câu ca dao:
“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối”
Yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức mới học để giải thích ?
Giải thích ý nghĩa : “Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng”
Việt Nam nằm trong vùng nội chí tuyến bán cầu bắc. Tháng 5 âm lịch của
Việt Nam tương ứng là tháng 6 dương lịch. Tháng 6 dương lịch BCB là mùa hè.
Ngày 22/6 hàng năm, tia bức xạ mặt trời chiếu vuông góc với tiếp tuyến bề
mặt trái đất tại chí tuyến bắc (23
o
27’B) nên thời gian chiếu sáng ở nửa cầu Bắc
(Việt Nam) dài. Càng về phía Cực Bắc ngày càng dài, đêm càng ngắn, nên có hiện
tượng ngày dài, đêm ngắn: “Ngày tháng mười chưa cười đã tối”
Vào ngày 22/12 (tháng 10 âm lịch), Mặt trời chuyển động biểu kiến về chí
tuyến Nam và vuông góc tại bề mặt đất tại tiếp tuyến 23
o
27’N (Chí tuyến Nam) thì
ở BCN lúc này ngày dài đêm ngắn và ở BCB (Việt Nam) là hiện tượng ngày ngắn,
đêm dài.
Ví dụ 2:
Khi dạy Bài 12 (Địa lý 10): “Sự phân bố khí áp. Một số loại gió chính”. Sử
dụng câu:
“Cơn đàng Đông vừa trông vừa chạy”
“Cơn đàng Nam vừa làm vừa chơi”
“Cơn đàng Bắc đổ thóc ra phơi”
Để dạy phần kiến thức 2: Gió mùa
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”
- Bài 9 lớp 12: Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, khi giải thích hiện tượng Phơn
ở duyên hải miền Trung, GV có thể đọc cho HS nghe câu thơ:
“Trường Sơn Đông nắng Tây mưa
Ai chưa đến đó như chưa hiểu mình”
Khi đọc câu thơ đó xong, HS sẽ rất chăm chú nghe GV giải thích tại sao
Trường Sơn lại “Đông nắng, Tây mưa” và đặc biệt là tại sao “Ai chưa đến đó” lại
“như chưa hiểu mình”, tiết học nhờ đó mà hấp dẫn hơn.
- Khi dạy bài 24: Phân bố dân cư. Các loại hình quần cư và đô thị hóa (Địa
lý 10): để HS nắm được thế nào là di dân tự giác chúng ta có thể sử dụng các câu
thơ trong bài “Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên” để HS cảm thấy hứng thú và dễ
nhớ:
17
“Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng
Bạn bè đi xa anh giữ trời Hà Nội
Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi
Ngoài cửa ô tàu đói những vành trăng”
* Tích hợp môn Lịch sử trong dạy học Địa lý:
- Biết về quá khứ, vận dụng để giải thích sự phát triển ở hiện tại và là cơ sở để
dự báo sự phát triển trong tương lai là một trong những điều rất quan trọng của
khoa học Địa lý. Chính vì vậy, khi giảng dạy Địa lý ở các khối lớp, đặc biệt là Địa
lý 11 & 12, việc tích hợp kiến thức lịch sử vào giảng dạy là rất quan trọng, nó vừa
tăng sự thuyết phục của bài học, vừa tạo thêm sự hứng thú cho HS. Chẳng hạn khi
dạy bài 6 (Địa lý 11): Hợp chúng quốc Hoa Kì, GV có thể tích hợp kiến thức lịch
sử như sau:
Địa chỉ
tích hợp
Mục đích tích
hợp
Nội dung tích hợp
+ 1867: Mua lại Alasca của Nga với giá 7,2 triệu
USD.
+ 1898: chiếm quần đảo Ha-oai
+ 1959: Alasca và Ha – oai trở thành bang thứ 49 và
50 của Hoa Kì.
II. Dân cư - Giải thích
quá trình gia
- Nhập cư là một vấn đề quan trọng của Hoa Kì,
hàng năm số người nhập cư hợp pháp chiếm khoảng
18
tăng dân số
của Hoa Kì
chủ yếu do dân
nhập cư & vai
trò của dân
nhập cư đối
với sự phát
triển kinh tế -
xã hội nước
này.
¼ dân số nước này (đầu TK XX, số người nhập cư
chiếm tới ½ số dân gia tăng hàng năm của Hoa Kì).
- Sự nhập cư vào Hoa Kì đã thu hút được “nạn chảy
máu chất xám ở các nước thứ ba”.
+ Từ 1974-1979: có 250 nghìn người có chuyên
môn lành nghề (75% chất xám ra đi từ các nước
đang phát triển di cư sang Mỹ). Thập kỉ 70 của
TKXX, 50% bác sĩ làm việc tại Mỹ là từ các nước
đang phát triển. Kết quả là các nước đang phát triển
mất của cải đầu tư để đào tạo những người có
Hoa Kì
- Các nhà nghiên cứu kinh tế đánh giá sự phát triển
kinh tế của Hoa Kì là sự phát triển mà “quá khứ
không thể hình dung được, một sức mạnh ngoài tầm
vóc con người, một tốc độ của sao băng đã tạo ra
một thế giới kích thích, dễ gây chuyện, vô lý và đầy
lo âu”.
- Nguyên nhân của sự phát triển kinh tế - xã hội với
tốc độ “sao băng” của Hoa Kì:
+ Nền kinh tế Mỹ hội tụ đủ những điều kiện thuận
lợi hiếm có về diện tích, thổ nhưỡng, khí hậu & tài
nguyên.
19
+ Được cách li bởi 2 đại dương lớn là TBD và ĐTD,
Mỹ không bị chiến tranh tàn phá lại còn giàu lên từ
chiến tranh: sau chiến tranh thế giới thứ 2 Hoa Kì đã
thâu tóm 80% dự trữ vàng của thế giới, chỉ huy thế
giới với 2 đòn bẩy: Khuyến khích tự do mậu dịch
giữa các nước, chống chính sách bảo hộ, tạo điều
kiện cho hàng hóa và tư bản của Hoa Kì bành
trướng; dùng đồng USD làm dự trữ ngoại tệ thế
giới.
+ Những yếu tố trên hòa với óc thực dụng nhanh
nhạy nắm bắt và áp dụng các thành tựu của tiến bộ
KHKT và khoa học quản lý cùng với đường lối nhất
quán thu hút chất xám của các nước thứ ba và vơ vét
đối với sân sau là khu vực Mỹ La Tinh trong hàng
chục thập kỉ cùng với Châu Phi và Châu Á sau này
đã đưa Mỹ trở thành cường quốc kinh tế số một thế
giới.
Sau đó, GV có thể nói về vai trò của tầng Ô dôn đối với sự sống trên Trái Đất
& liên hệ hiện nay tầng Ô dôn đã bị thủng, điều đó đã đe dọa đến sự sống trên Trái
Đất như thế nào. Từ đó yêu cầu HS phân tích nguyên nhân và đưa ra giải pháp.
- Bài 9 – Địa lý lớp 10, mục “Phong hóa hóa học”: GV có thể sử dụng kiến thức hóa
học để giải thích sự phong hóa đá vôi tạo thành hang động cac-xtơ: nước mưa, khí
quyển có chứa CO
2
sẽ hòa tan rất nhanh các khoáng vật thuộc nhóm cacbonat,
sunfat, chuyển thành canxi cacbonat (Ca(HCO
3
)
2
):
CO
2
+ H
2
O
H
2
CO
3
CaCO
3
+ H
2
CO
3
trong một ngày ở đại dương thường xảy ra chậm hơn so với ở lụa địa: Sự truyền
nhiệt vào trong đất và nước phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt dung thể tích (lượng
nhiệt tính bằng calo cần thiết để đốt nóng 1 cm
3
một chất nhất định lên 1
0
C) và tính
dẫn nhiệt của chúng (khả năng truyền nhiệt được đo bằng lượng nhiệt đi qua một
lớp đất có diện tích là 1 cm
2
và chiều dày 1 cm, mà nhiệt độ chênh nhau ở 2 mặt
của lớp đó là 1
0
C trong 1 giây). Với lượng nhiệt mặt trời như nhau, đất (hay nước)
có nhiệt dung thể tích lớn hơn thì được đốt nóng nhiều hơn. Nhiệt dung thể tích
của đất, đá nhỏ hơn nhiệt dung của đá 2 lần. Nước có nhiệt dung thể tích lớn hơn
nhưng tính dẫn nhiệt nhỏ hơn so với đất nên nóng lên chậm và mất nhiệt cũng
chậm.
+ Dùng kiến thức vật lý để giải thích hiện tượng đại dương có biên độ nhiệt
nhỏ, lục địa có biên độ nhiệt lớn: Tia sáng Mặt trời đến mặt nước được các lớp
21
nước trên mặt hấp thu một phần, còn một phần truyền xuống đốt nóng trực tiếp các
lớp nước dưới sâu. Do trao đổi loạn lưu nên sự truyền nhiệt xuống sâu ở nước
nhanh gấp nhiều lần (1000 đến 10 000 lần) so với dẫn nhiệt phân tử ở đất. Tính
linh động của nước càng làm cho sự truyền nhiệt có hiệu quả hơn. Vì vậy ở đại
dương có nhiệt độ cực đại trong ngày thường thấp hơn đất liền và nhiệt độ cực tiểu
trong ngày thường cao hơn đất liền dẫn đến biên độ nhiệt ở đại dương nhỏ, biên độ
nhiệt ở lục địa lớn hơn.
Để kích thích sự tìm tòi, sáng tạo & khả năng vận dụng kiến thức của HS
vào giải quyết các vấn đề trong bài học và trong thực tế, GV không nhất thiết tự
0
Đ) lúc 13 giờ ngày 4/5/2015, đến
Oa-sinh-tơn (Mỹ - 77
0
T) mất 12 tiếng . Sang đến nơi bạn thấy
đồng hồ tại sân bay vẫn chỉ 13 giờ ngày 4/5/2015. Tại sao thế nhỉ?
Bài 7
Mục II
- VD 1: Cho HS xem 1 đoạn phim về động đất và sóng thần ở Nhật
Bản hoặc In-đô-nê-xi-a rồi yêu cầu HS giải thích hiện tượng.
- VD 2: Thời gian gần đây báo chí liên tục đưa tin về trận động đất
ở Nê-pan làm chết và thương vong hàng chục nghìn người. Nhưng
trận động đất mạnh tới 7,8 độ Richter ấy cũng không gây ra hiện
22
tượng núi lửa, sóng thần như ở Nhật Bản. Tại sao thế nhỉ?
Bài 9
Mục 2
- Hình ảnh đá ba chồng ở Định Quán là hình ảnh rất quen thuộc ở
tỉnh Đồng Nai chúng ta (GV cho HS xem hình ảnh đá Ba Chồng).
Theo em đó là sản phẩm của quá trình ngoại lực nào?
Bài 12
Mục
II.3
- GV cho HS xem bản đồ tự nhiên vùng Bắc Trung Bộ, yêu cầu HS
giải thích câu thơ:
“Trường Sơn Đông nắng Tây mưa
Ai chưa đến đó như chưa hiểu mình”
- GV: chúng ta nên xem dự báo thời tiết trước khi đi du lịch ở miền
Trung (Huế, động Phong Nha Kẻ Bàng) vào đầu mùa hạ nhé để
tránh các đợt gió Phơn, rất khô nóng khó chịu.
Nai chúng ta “mùa đông không lạnh”, nóng quanh năm, có 2 mùa
mưa khô tương phản sâu sắc. Em hãy giải thích vì sao?
- Theo em, khí hậu ở Đồng Nai tạo thuận lợi và gây khó khăn gì
cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, đề xuất giải pháp khắc phục
23
những khó khăn do thời tiết, khí hậu mang lại?
Bài 15 - Theo em ở Đồng Nai nói chung, Long Khánh nói riêng chịu ảnh
hưởng của những thiên tai gì, nguyên nhân và giải pháp?
Bài 16 - Dựa vào At lat Địa lý Việt Nam và bản đồ phân bố dân cư Đồng
Nai (GV cung cấp), em hãy chứng minh dân cư tỉnh Đồng Nai
phân bố không đều, phân tích nguyên nhân, liên hệ ở TX Long
Khánh?
- Đồng Nai tự hào là một trong những tỉnh có số lượng KCN nhiều
nhất cả nước. Do đó hàng năm tỉnh ta thu hút được một lượng lớn
dân nhập cư. Theo em, dân nhập cư đã góp phần làm thay đổi cơ
cấu dân số theo tuổi và theo giới của tỉnh như thế nào?
Bài 17 - Em hiện nay cũng đã bước vào tổi lao động rồi. Vậy em nhận
thấy mình có thế mạnh gì và còn những hạn chế gì cần cố gắng
khắc phục?
- Em đã có kế hoạch gì cho tương lai của mình để không rơi vào
tình trạng “thất nghiệp, thiếu việc làm”?
Bài 18 - Quá trình đô thị hóa đã tác động như thế nào đến sự phát triển
kinh tế - xã hội-môi trường Long Khánh? (Có thể cho HS đi khảo
sát thực tế).
Bài 22 - Kể tên các loại cây công nghiệp ở Long Khánh mà em biết. Tại
sao ở đây lại trồng được những loại cây đó? (Cho HS đi khảo sát
thực tế).
- Thực tế chỉ ra rằng: chúng ta không nên chuyên canh một loại cây
nhất định. Em hãy giải thích vì sao?
Bài 31 - Có thể cho HS đi khảo sát các tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng
thủy triều, dòng
biển
- Kĩ năng phòng vệ: giúp các em có thể nhận biết hiện tượng
động đất, sóng thần sắp xảy ra để có thể phòng tránh và giúp
người khác phòng tránh kịp thời.
KHỐI 11
Bài 7: EU, liên
minh khu vực
lớn trên thế giới
- Kĩ năng cảm thông: Khi học xong phần “EU – liên minh khu
vực lớn nhất thế giới”, GV phân tích thêm những khó khăn mà
EU đang gặp phải, tình trạng khủng hoảng của Hy Lạp & những
nỗ lực chung của EU để cùng giúp đỡ nước này vượt qua giai
đoạn khó khăn. Sau đó GV liên hệ : Sự đồng tâm hiệp lực, “Lá
lành đùm lá rách” bao giờ cũng tạo nên sức mạnh lớn. Do đó,
các em phải biết đoàn kết giúp đỡ nhau trong học tập, trong cuộc
sống để mỗi người tự hoàn thiện mình & đưa phong trào lớp đi
lên bởi không ai có thể sống một mình trong cuộc đời này.
KHỐI 12
Bài 17: Lao
động và việc làm
- Kĩ năng tự nhận thức: Trình độ của người lao động Việt Nam
chưa được cao, ý thức kỉ luật lại chưa tốt. Theo nhận định của
các nhà kinh tế học: Năng suất lao động của 1 người Nhật Bản
bằng tới 30 người Việt Nam. Vì thế mức thu nhập của phần lớn
lao động nước ta (trong đó có cha mẹ các em) còn thấp, chất
lượng cuộc sống chưa được cải thiện nhiều. Do đó hiện nay các
em đang còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta phải cố gắng
học để sau này có chất lượng cuộc sống tốt hơn.
25