Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố bắc ninh, tỉnh bắc ninh - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM



NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG
THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI, NĂM 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM


NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG

Các số liệu, bảng biểu, sơ đồ và những kết quả trong luận văn là
trung thực, các giải pháp đưa ra xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu và kinh
nghiệm phù hợp với địa phương. Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều
đã được chỉ rõ nguồn gốc. Bắc Ninh, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hương Giang
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường, tôi xin trân trọng gửi
lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, Ban Quản lý Đào tạo, Ban Chủ nhiệm Khoa
Kinh tế & PTNT Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn.

1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1 Lý luận cơ bản về NSNN và thu NSNN 4
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
2.1.2 Vai trò của NSNN và thu NSNN 7
2.1.3 Đặc điểm của thu NSNN 9
2.1.4 Chức năng của thu NSNN 9
2.1.5 Nội dung và hình thức thu NSNN 11
2.1.6 Các nguyên tắc thu Ngân sách Nhà nước: 16
2.1.7 Những nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN 17
2.2 Cơ sở thực tiễn về thu NSNN 20
2.2.1 Kinh nghiệm về thu ngân sách của một số nước trên thế giới 20
2.2.2 Kinh nghiệm thực tế trong nước về thu ngân sách 23
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv

2.2.3 Những bài học kinh nghiệm 27
3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Đặc điểm địa bàn thành phố Bắc Ninh 29
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 29
3.1.2 Đặc điểm về nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội 31
3.1.3 Tình hình phát triển KTXH giai đoạn 2011– 2013 34
3.2 Phương pháp nghiên cứu 38
3.2.1 Lựa chọn địa bàn nghiên cứu 38
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 39

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu Kinh tế- xã hội thành phố Bắc Ninh ( Giai
đoạn 2011-2013) 34
Bảng 3.2 Tình hình giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành
phố Bắc Ninh( Giai đoạn 2011-2013) 36
Bảng 3.3 Một số kết quả chủ yếu về thương mại- dịch vụ của thành
phố Bắc Ninh ( Giai đoạn 2011-2013) 37
Bảng 3.4 Thông tin chung về doanh nghiệp . 41
Bảng 3.5 Thông tin chung về hộ kinh doanh cá thể 41
Bảng 3.6 Thông tin chung về đối tượng phỏng vấn 42
Bảng 4.1 Tình hình thực hiện thu ngân sách trên địa bàn thành phố
Bắc Ninh ( Giai đoạn 2011-2013) 46
Bảng 4.2 So sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng thu ngân
sách ( Giai đoạn 2011-2013) 47
Bảng 4.3 Kế hoạch thu Ngân sách trên địa bàn thành phố ( Giai đoạn
2011-2013) 48
Bảng 4.4 Thu và cơ cấu các khoản thu Ngân sách trên địa bàn Thành
phố Bắc Ninh ( Giai đoạn 2011- 2013) 50
Bảng 4.5 Tình hình thực hiện kế hoạch thu Ngân sách trên địa bàn
thành phố Bắc Ninh ( Giai đoạn 2011- 2013) 53
Bảng 4.6 Thu và cơ cấu các khoản thu Ngân sách trong cân đối do
thành phố Bắc Ninh quản lý ( Giai đoạn 2011- 2013) 57
Bảng 4.7 Tình hình hoàn thành kế hoạch các khoản thu Ngân sách
trong cân đối do thành phố Bắc Ninh quản lý ( Giai đoạn
2011-2013) 58
Bảng 4.8 Tình hình thực hiện thu từ CTN – NQD trên địa bàn thành

Bảng 4.21 Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH thành phố Bắc Ninh
đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 93
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU CTN- NQD Công thương nghiệp- ngoài quốc doanh
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
ĐVT Đơn vị tính
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GNP Tổng sản phẩm quốc dân
HĐND Hội đồng nhân dân
KTXH Kinh tế - xã hội
NSNN Ngân sách Nhà nước
NSTW Ngân sách trung ương
Tr.đ Triệu đồng
Thành phố Thành phố Bắc Ninh
UBND Uỷ ban nhân dân
XDCB Xây dựng cơ bản
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Thu ngân sách Nhà nước (NSNN) có vai trò quan trọng trong quá trình
khai thác, động viên và tập trung các nguồn tài chính cần thiết để tạo lập quỹ

Page 2

Do đó, việc quản lý chặt chẽ và khai thác tốt các nguồn thu, chủ động
đưa ra các biện pháp chống thất thu trên địa bàn thành phố là một yêu cầu cần
thiết. Tuy nhiên, trong thời gian qua nguồn thu NSNN của thành phố đạt thấp
chủ yếu do nền kinh tế đang trong giai đoạn khó khăn, nhiều nguồn lực tài
chính không được động viên vào NSNN, nguồn thu NSNN trên địa bàn hàng
năm chưa đảm bảo tự cân đối thu- chi. Việc phát hiện và nuôi dưỡng các nguồn
thu, triển khai các giải pháp tăng thu ngân sách để ổn định và phát triển KTXH
trên địa bàn vẫn còn nhiều bất cập cần được giải quyết.
Trong bối cảnh tình hình kinh tế trong những năm tới được dự báo là
tiếp tục khó khăn thì đây là một thách thức lớn, đòi hỏi phải có những giải
pháp đồng bộ của các cấp, các ngành trên toàn tỉnh.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế và ý nghĩa quan trọng nêu trên, đề
tài “Thu NSNN trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh” đã được lựa
chọn để nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng thu ngân sách trên địa bàn từ đó đề xuất một số
giải pháp chủ yếu nhằm tăng thu ngân sách trên địa bàn thành phố Bắc Ninh,
tỉnh Bắc Ninh.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về thu NSNN.
- Đánh giá thực trạng thu NSNN và phân tích các nhân tố ảnh hưởng
đến thực trạng đó trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh trong những năm qua.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng thu ngân sách trên địa
bàn thành phố Bắc Ninh trong những năm tới.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết được nội dung nghiên cứu của đề tài chính là việc phải
trả lời những câu hỏi sau:


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Lý luận cơ bản về NSNN và thu NSNN
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm về NSNN
Trong tiến trình lịch sử, NSNN đã xuất hiện và tồn tại từ lâu. Với tư
cách là công cụ tài chính quan trọng của Nhà nước, NSNN ra đời, tồn tại và
phát triển trên cơ sở hai tiền đề khách quan là tiền đề Nhà nước và tiền đề
kinh tế hàng hoá - tiền tệ.
Nhà nước ra đời tất yếu kéo theo nhu cầu tập trung nguồn tài chính để
phục vụ cho các hoạt động của mình. Với sự xuất hiện và phát triển của sản
xuất hàng hoá- tiền tệ, như các chủ thể khác trong nền kinh tế, Nhà nước dựa
vào sự vận động độc lập của tiền tệ để tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ
cho các mục đích của Nhà nước. (Nguyễn Văn Tuyến, Giáo trình Luật ngân
sách Nhà nước[11]). Thuật ngữ NSNN được dùng phổ biến trong đời sống
KTXH ở mọi quốc gia. Tuy nhiên quan niệm về NSNN cũng chưa có sự thống
nhất tuỳ theo cách tiếp cận khác nhau mà có những khái niệm khác nhau.
Ngay trong các cuốn giáo trình của các tác giả cũng đưa ra định nghĩa
NSNN khác nhau. Cụ thể như sau:
+ Giáo trình lý thuyết tài chính của Học viện tài chính có ghi: “NSNN
là phạm trù kinh tế và phạm trù lịch sử. NSNN được đặc trưng bằng sự vận
động của các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền
tệ tập trung của Nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi Nhà nước
tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia theo nguyên tắc không hoàn
trả trực tiếp là chủ yếu”.
+ Giáo trình Kinh tế chính trị của Học viện Nguyễn Ái Quốc có ghi:

trong tay nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các
chức năng quản lý của nhà nước. Về hình thức biểu hiện, đó là các dự toán và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6

quyết toán các khoản thu, chi quá trình trực hiện chức năng của nhà nước
trong một thời gian xác định (một năm).
2.1.1.2 Khái niệm thu NSNN
Thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung
một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các
nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Để duy trì sự tồn tại của mình, Nhà nước cần có một khoản thu nhất
định để trang trải các khoản chi phí phục vụ cho việc quản lý bộ máy Nhà
nước đồng thời Nhà nước cũng cần chi tiêu cho các khoản phúc lợi xã hội và
phát triển kinh tế. Do đó, NSNN được ra đời để đảm nhiệm vai trò phục vụ
nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Trên cơ sở quyền lực của mình Nhà nước định ra các chính sách thu
NSNN. Mức thu NSNN thường xuyên được điều chỉnh, cao hay thấp lại tuỳ
thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế nhưng phải đảm bảo cho nền kinh
tế luôn ổn định và tăng trưởng.
Nguồn tài chính được tập trung vào NSNN tương ứng với phần giá trị
của GNP được tập trung vào tay Nhà nước, nó là những khoản thu nhập của
Nhà nước được hình thành trong quá trình Nhà nước tham gia phân phối của
cải xã hội dưới hình thức giá trị. Thu NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế nảy
sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước
với các chủ thể trong xã hội. Sự phân phối đó là một tất yếu khách quan, xuất
phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy Nhà nước cũng như yêu cầu
thực hiện các chức năng KTXH của Nhà nước. Đối tượng phân chia là nguồn
tài chính quốc gia, kết quả do lao động sản xuất trong nước tạo ra được thể
hiện dưới hình thức tiền tệ.

NSNN là một công cụ kinh tế vĩ mô quan trọng tác động vào nền kinh
tế, điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân. Có thể nói NSNN là công cụ điều
chỉnh vĩ mô nền KTXH, đây là vai trò quan trọng tất yếu của Ngân sách trong
cơ chế thị trường ở mọi thời đại và trong mọi mô hình kinh tế. Ngân sách là
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8

nguồn lực đầu tư quan trọng giúp cho nền kinh tế phát triển, điều chỉnh cơ cấu
kinh tế; thúc đẩy quá trình đô thị hóa, động viên mọi thành viên trong xã hội
tham gia vào quá trình phát triển. Ngân sách cùng với các công cụ khác hỗ trợ
sự hình thành đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường, đồng thời tham gia
khắc phục các thất bại của nền kinh tế thị trường, tránh cho thị trường không
rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo, đảm bảo môi trường kinh
doanh lành mạnh, bảo đảm tính công bằng và hiệu quả KTXH.(Dương Đăng
Chinh, Giáo trình lý thuyết tài chính[47])
2.1.2.2 Vai trò của thu NSNN
Vai trò của thu NSNN được xem xét trên hai khía cạnh: là công cụ tập
trung nguồn lực đảm bảo duy trì sự tồn tại, hoạt động của bộ máy nhà nước và
là công cụ góp phần tổ chức quản lý nền kinh tế.
- Thu NSNN là công cụ động viên, huy động các nguồn tài chính cần
thiết nhằm tạo lập quỹ tiền tệ tập trung của NSNN, đó là sứ mạng của mọi hệ
thống thu dưới bất kì chế độ nào và đòi hỏi tất yếu của mọi Nhà nước. Nhà
nước muốn thực thi chức năng, nhiệm vụ lịch sử của mình tất yếu phải có
nguồn tài chính. Nguồn tài chính mà Nhà nước có được đại bộ phận do áp
dụng hệ thống thu ngân sách mang lại. Để thực hiện đầy đủ vai trò này điều
quan trọng đối với hệ thống thu NSNN là khai thác, phát hiện tính toán chính
xác các nguồn tài chính của đất nước có thể động viên được, đồng thời không
ngừng hoàn thiện các chính sách, chế độ thu, cơ chế tổ chức quản lý thu.
- Vai trò góp phần tổ chức quản lý nền kinh tế gắn liền với vai trò lãnh
đạo của Nhà nước, thu NSNN chi phối hoạt động của nền kinh tế, là một công cụ

Kết quả của việc vận dụng chức năng phân bổ nguồn lực là quỹ ngân
sách được tạo lập, được phân phối và sử dụng. Việc tạo lập, phân phối và sử
dụng một cách đúng đắn, hợp lý các quỹ ngân sách đó chính là sự phân bổ
một cách tối ưu các nguồn lực tài chính thuộc quyền chi phối của các chủ thể
công, nó tác động mạnh mẽ đến việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10

chính của toàn xã hội; thúc đẩy hoàn thiện cơ cấu sản xuất, cơ cấu KTXH
bằng việc tính toán, sắp xếp các tỉ lệ tương đối quan trọng trong phân bổ các
nguồn lực tài chính. Một sự phân bổ như thế sẽ là nhân tố quan trọng ảnh
hưởng tới sự phát triển bền vững và ổn định của nền kinh tế.
2.1.4.2 Chức năng phân phối lại thu nhập
Chức năng phân phối lại thu nhập của NSNN là khả năng khách
quan mà nhờ vào đó ngân sách được sử dụng vào việc phân phối và phân
phối lại các nguồn tài chính nhằm thực hiện mục tiêu công bằng xã hội
trong phân phối và hưởng thụ kết quả của sản xuất xã hội.
Trong chức năng này, chủ thể phân phối là Nhà nước trên tư cách
người có quyền lực chính trị, còn đối tượng phân phối là các nguồn t
ài
chính đã thuộc sở hữu công cộng hoặc đang là thu nhập của các pháp
nhân và thể nhân trong xã hội mà Nhà nước tham gia điều tiết.
Công bằng về phân phối được thể hiện trên hai khía cạnh: công
bằng về mặt kinh tế và công bằng về mặt xã hội. Công bằng về kinh tế là
yêu cầu nội tại của nền kinh tế thị trường, do giá cả thị trường quyết định.
Tuy nhiên, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, do những yếu tố
sản xuất của các chủ thể kinh tế hoặc cá nhân không giống nhau như sức
khoẻ, trình độ, hoàn cảnh… mà thu nhập của các chủ thể kinh tế hoặc cá
nhân có sự chênh lệch. Sự chênh lệch thu nhập này vượt quá giới hạn nào
đó sẽ dẫn đến bất công bằng xã hội. Yêu cầu công bằng xã hội là duy trì

* Nếu căn cứ vào mục đích sử dụng các nguồn thu và tính toán mức bội
chi ngân sách, ta có thể phân chia thành nguồn thu trong cân đối và thu ngoài
cân đối ngân sách.
- Thu trong cân đối ngân sách là các khoản thu được đưa vào công thức
xác định mức bội chi ngân sách. Đây chính là nội dung kinh tế của bội chi
ngân sách. Thu trong cân đối ngân sách được hiểu bao gồm các khoản thu vào
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12

quỹ ngân sách mà khoản thu đó không kèm theo, không làm phát sinh nghĩa
vụ hoàn trả trực tiếp.
Thu trong cân đối NSNN bao gồm các khoản thu thường xuyên và thu
không thường xuyên. Mang tính chất ổn định, thường xuyên, chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng thu NSNN và được dùng để trang trải các khoản chi thường
xuyên của nhà nước, ngoài ra có một phần dành cho tích luỹ, cho đầu tư. Bao
gồm: Thuế, phí, lệ phí, thu từ tài sản của nhà nước, thu từ đóng góp tự
nguyện, viện trợ khác…
- Thu ngoài cân đối ngân sách hay thu bù đắp thiếu hụt NSNN khi số
thu NSNN không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu và Nhà nước phải đi vay, bao
gồm Phát hành tiền, vay trong nước từ các tầng lớp dân cư, các tổ chức
KTXH, vay từ nước ngoài.
Trong quá trình thu, Nhà nước tập trung được một lượng tiền nhất định
vào NSNN. Kết quả thu được đó, được gọi là thu nhập NSNN. Thu nhập
NSNN (hay còn gọi là số thu NSNN) là mục tiêu của quá trình thu và nó
thuộc quyền sở hữu của Nhà nước.
Như vậy, giữa nguồn thu NSNN và thu nhập của NSNN có mối quan hệ
biện chứng. Nguồn thu thể hiện khả năng, còn thu nhập của NSNN thể hiện thực
hiện một phần của khả năng. Mối quan hệ đó thường được biểu hiện bằng tỷ lệ
động viên của NSNN hay tỷ lệ thu NSNN và được tính bằng công thức:
Số thu NSNN

mà người dân trích một phần thu nhập của mình trả cho hàng hoá dịch vụ
công cộng của Nhà nước. Nhà nước thu thuế không phải bóc lột người dân,
mà thực chất là người đại diện, được xã hội giao phó cho việc cung ứng hàng
hoá dịch vụ công cộng, mà thuế là nguồn lực tạo ra hàng hoá dịch vụ công
cộng đó.
- Thu phí và lệ phí:
Trong điều kiện kinh tế thị trường, đối với hàng hoá dịch vụ tư nhân,
khi người dân muốn nhận một sản phẩm hàng hoá dịch vụ nào đó thì buộc họ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14

phải đưa ra một lượng giá trị tương đương để trao đổi theo nguyên tắc ngang
giá. Còn khi thụ hưởng hàng hoá dịch vụ công cộng thì việc trả các chi phí
phức tạp hơn. Cụ thể:
Hàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp thì việc thu hồi chi phí thực
hiện theo giá quy định của Nhà nước; giá này thường ít bị chi phối bởi quy
luật thị trường.
+ Đối với dịch vụ công cộng hữu hình do Nhà nước cung cấp, thì Nhà
nước cũng phải xác định "giá phí" mà người thụ hưởng phải thanh toán. Tuy
nhiên "giá phí" này thường không hoàn toàn vì mục đích kinh tế, mà còn
mang ý nghĩa chính trị, xã hội Do đó, chúng phổ biến là không tính đủ chi
phí và không bị chi phối nhiều bởi các yếu tố thị trường.
Như vậy, thu phí của Nhà nước thực chất là Nhà nước thu hồi một phần
hay toàn bộ chi phí đầu tư cung cấp dịch vụ công cộng hữu hình cho xã hội,
đồng thời cũng là các khoản chi phí mà người dân phải trả khi thụ hưởng các
dịch vụ công cộng đó.
+ Ngoài ra, một số cơ quan Nhà nước cung cấp các dịch vụ hành chính,
pháp lý cụ thể cho người dân. Người dân thụ hưởng dịch vụ này phải trả một
phần chi phí. Tuy thế, việc thu khoản tiền này hoàn toàn không có ý nghĩa là
thu hồi một phần chi phí do cơ quan của bộ máy Nhà nước bỏ ra, ở đây không

đơn vị hành chính sự nghiệp;
+ Các di sản Nhà nước được hưởng;
+ Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước. Đây là khoản đóng góp thường mang tính chất nhân đạo;
+ Thu tiền kết dư ngân sách năm trước;
+ Thu tiền phạt, tiền bán hàng tịch thu;
+ Thu viện trợ bằng tiền, bằng hiện vật của Chính phủ các nước, các tổ
chức và các cá nhân nước ngoài;
+ Các khoản vay trong nước, vay nước ngoài của Chính phủ để bù đắp
bội chi ngân sách và các khoản huy động vốn đầu tư của các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương;

Trích đoạn Tình hình phát triển KTXH giai đoạn 2011– 2013 Phương pháp thu thập thông tin Phương pháp phân tích đánh giá Thực trạng thu NSNN trên địa bàn thành phố Bắc Ninh giai đoạn Số lượng và cơ cấu các khoản thu NSNN trên địa bàn thành phố
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status