Đánh giá khả năng thích ứng của một số giống ngô lai mới ở một số tỉnh phía bắc việt nam - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM


NGUYỄN LÂM GIANG
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA MỘT SỐ GIỐNG
NGÔ LAI MỚI Ở MỘT SỐ TỈNH PHÍA BẮC VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn
gốc.

Hà Nội, ngày 27 tháng 8 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Lâm Giang Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài, bản thân tôi luôn nhận được sự quan
tâm giúp đỡ chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo trong khoa Nông Học Học
viện Nông nghiệp Việt Nam, cùng các phòng, ban của nhà trường đã tạo điều
kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ này.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS. Vũ
Văn Liết bộ môn Di Truyền - Chọn giống đã hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tận

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH viii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix

MỞ ĐẦU 1

1. Đặt vấn đề 1

2. Mục đích và yêu cầu của đề tài 2

2.1. Mục đích 2

2.2. Yêu cầu 2

2.3. Ý nghĩa của đề tài 3

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam 4

1.1.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 4

1.1.2. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam 7

1.2. Môi trường và môi trường bất thuận 10



2.3 Phương pháp nghiên cứu 27

2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 27

2.3.2 Gieo trồng và chăm sóc thí nghiệm: 27

2.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi, đánh giá 28

2.3.4 Phân tích tương tác kiểu gen và môi trường 30

2.4 Phương pháp phân tích số liệu 31

Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

3.1 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng 32

3.2 Một số đặc điểm hình thái của các giống ngô 38

3.2.1 Chiều cao cây của các giống ngô thí nghiệm 38

3.2.2. Chiều cao đóng bắp của các giống ngô thí nghiệm 40

3.2.3 Trạng thái cây của các giống ngô thí nghệm 41

3.2.4 Độ che kín bắp, dạng hạt và màu sắc hạt 46

3.3 Mức độ chống chịu của các giống ngô 47

3.3.1 Mức độ chống chịu sâu, bệnh của các giống ngô thí nghiệm 47


1 Kết luận 80

2 Đề nghị 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 85

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng sản xuất ngô một số năm

trên thế giới 4
Bảng 1.2 Sản lượng ngô một số nước sản xuất chính trên thế giới

và một số nước
Đông Nam Á 5
Bảng 1.3 Sản lượng ngô một số nước sản xuất chính trên thế giới

và một số nước
Đông Nam Á 6
Bảng 1.4 Sản xuất ngô ở Việt nam từ năm 1961 đến những năm gần đây 8
Bảng 3.1 Thời gian sinh trưởng của các giống nghiên cứu trong vụ Xuân 2013 . 35
Bảng 3.2 Thời gian sinh trưởng của các giống nghiên cứu trong vụ Đông 2013 . 36

Bảng 3.17 Năng suất thực thu (tạ/ha) của các giống trong vụ Xuân 2013 71
Bảng 3.18 Năng suất thực thu (tạ/ha) của các giống trong vụ Đông 2013 72
Bảng 3.19 Bảng phân tích phương sai về thời gian sinh trưởng qua các điểm
nghiên cứu và trong 2 vụ Xuân và Đông năm 2013 75
Bảng 3.20 Phân tích ổn định của 10 giống ngô lai về thời gian sinh trưởng 75
Bảng 3.21 Bảng phân tích phương sai về năng suất qua các điểm nghiên cứu 76
và trong 2 vụ Xuân và Đông năm 2013 76
Bảng 3.22 Bảng phân tích ổn định năng suất của các giống

qua các môi trường 76
Bảng 3.23 Chỉ số môi trường của các điểm thí nghiệm 78
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii

DANH MỤC HÌNH

STT Tên hình Trang Hình 1.1 Ưu thế lai ở ngô khi lai giữa hai dòng thuần B73 (trái ) và Mo17 (phải)
tạo ra con cái (giữa). Nguồn James A. Birchler và cộng sự, 2010 12
Hình 3.1 Thời gian sinh trưởng của các giống tại các điểm thí nghiệm

vụ Xuân
2013 37
Hình 3.2 Thời gian sinh trưởng của các giống tại các điểm thí nghiệm

vụ Đông
2013 37
Hình 3.3 Năng suất trung bình của các giống thí nghiệm qua hai vụ Xuân và

YS
i
: Thống kê ổn định năng suất theo Kang
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề
Trên thế giới, ngô (Zea mays.L) là một trong những cây ngũ cốc quan
trọng, diện tích đứng thứ ba sau lúa mì và lúa nước; sản lượng đứng thứ hai và
năng suất cao nhất trong các cây ngũ cốc. Năm 1961, diện tích ngô trên toàn thế
giới đạt 105,5 triệu ha, năng suất bình quân 19,4 tạ/ha, sản lượng 205 triệu tấn,
đến năm 2011 đã tăng lên đáng kể, diện tích trồng ngô thế giới đạt 170,4 triệu ha,
năng suất bình quân 51,8 tạ/ha, sản lượng 883,5 triệu tấn. Ngô cung cấp lương
thực cho 1/3 dân số thế giới. Các nước như: Ấn Độ, Philippin, Mexico và một số
nước ở Châu Phi đã dùng ngô làm lương thực chính, có tới 90% sản lượng ngô
của Ấn Độ, 66% của Philippin dùng làm lương thực cho con người.
Giống ngô ưu thế lai được phát triển nhanh đã đưa năng suất và sản lượng
ngô tăng gấp 2-3 lần so với các giống ngô thụ phấn tự do. Theo Mark A. Bennett,
Đại học Ohio, Hoa Kỳ, năng suất ngô lai kép ở Mỹ sau năm 1933 tăng 10%-40%
so với các giống ngô thụ phấn tự do, sau năm 1945 các giống ngô lai đơn phát
triển và 90% diện tích ngô ở Mỹ trồng giống ngô lai đơn. Năng suất ngô thế giới
tăng từ 19,4 tạ/ha năm 1961 lên 51,6 tạ/ha năm 2009 và sản lượng ngô từ 205
triệu tấn năm 1961 lên 713,5 triệu tấn năm 2009 (FAOSTAT, 2012). Ở Việt Nam
năng suất ngô năm 2010 tăng 3,6 lần so với năm 1961 (TCTK, 2012). Năng suất
và sản lượng ngô tăng nhanh chủ yếu do sử dụng phổ biến giống ngô lai đơn.
Đến năm 2011, diện tích trồng ngô của Việt Nam tăng khoảng 2,5 lần, năng suất
bình quân tăng 2,79 lần và sản lượng tăng 7 lần so với năm 1990. Có được thành
quả trên là do từ năm 1990 nước ta đã bắt đầu đưa ngô lai vào sản xuất.

Việt Nam nhằm xác định giống có năng suất cao, chống chịu tốt và khả năng
thích ứng với điều kiện sinh thái khác nhau phục vụ công tác sản xuất ngô ở miền
Bắc nước ta.
2.2. Yêu cầu
- Đánh giá các đặc điểm nông sinh học của các giống thí nghiệm trong
điều kiện 5 địa phương của miền Bắc.
- Đánh giá mức độ chống chịu đồng ruộng của các giống ngô thí nghiệm
trong điều kiện 5 địa phương của miền Bắc.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3

- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống thí
nghiệm trong điều kiện 5 địa phương của miền Bắc.
- Đánh giá khả năng thích ứng và độ ổn định của các giống tại một số
vùng sinh thái khác nhau.
- Xác định giống ngô lai mới thích hợp phát triển sản xuất ở miền Bắc.
2.3. Ý nghĩa của đề tài
- Xác định được giống ngô lai có năng suất cao, ổn định và thích nghi tốt
ở nhiều vùng sinh thái.
- Đánh giá mức độ tương tác của một số kiểu gen ngô lai mới với điều
kiện môi trường sinh thái miền Bắc. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2012 177,4 49,2 872,1
(Nguồn: FAOSTAT, 2014)
Diện tích trồng ngô hiện nay khoảng 177,57 triệu ha, với năng suất 4,9 tấn/ha,
trong đó diện tích trồng các giống ngô lai chiếm khoảng 65%. Phần lớn sản
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5

lượng ngô thế giới tập trung ở các nước Mỹ, Trung Quốc, Braxin, Mehico, Pháp,
và Ấn Độ, chiếm 75% (FAOSTAT, 2014).
Theo ước tính FAO (2001) về diện tích trồng ngô, lúa và lúa mỳ thì diện tích trồng
lúa và lúa mỳ đến năm 2020 tăng ít, trái lại diện tích trồng ngô được dự báo tăng nhanh
thêm khoảng 10 tiệu ha, diện tích này tương đương với 35% diện tích ngô của nước Mỹ.
Việc phát minh ra ngô lai đã đẩy mạnh sản xuất cây thức ăn gia súc quan trọng này ở Mỹ
và thúc đẩy phát triển chăn nuôi , bởi cây ngô có thể cho năng suất gấp 3 lúa mỳ ở cùng
một điều kiện khí hậu tương tự (Lý Nhạc và cộng sự, 1987).
Nhu cầu ngô tăng lên để làm lương thực và cung cấp cho thị trường thức ăn
chăn nuôi, vì vậy cần phát triển cây ngô với mức tăng là 4,7% hàng năm, nên cũng
cần quan tâm đến diện tích đất trồng ngô nhằm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của
con người, bởi ngô cung cấp khoảng 8 calo năng lượng của hơn 1 tỷ người ở một số
nước Châu Á gồm Paskistan, Ấn Độ, Butan, Nepan, Miến Điện, Trung Quốc, Việt
Nam, Philippin, Inđônêsia (Carlos Deleon., Paroda R.S, 1993).
Bảng 1.2 Sản lượng ngô một số nước sản xuất chính trên thế giới
và một số nước Đông Nam Á
Đơn vị: triệu tấn
Năm 2005 2006 2007 2008
M
ột số nước sản xuất chính

- Mỹ 282,260 267,501 331,175 307,142
- Trung Quốc

- Braxin 50,720 55,364 55,660 71,073

- Mêhicô 20,143 23,302 17,635 22,069

M
ột số nước Đông Nam Á

-

Inđônêxia

17,62

176,29
19,377

- Philippin 70,34 63,768 69,712 74,068
- Thái Lan 46,16 48,607 48,167 48,130
- Việt Nam 4,371 4,606 4,836 4,803
(Nguồn: FAOSTAT, 2014)
Qua bảng 1.2 và 1.3 ta thấy sản lượng ngô ở một số nước chính trên thế
giới tăng, nước sản xuất ngô đứng đầu thế giới là Mỹ, năm 2012 có sản lượng
273,832 triệu tấn chiếm 31,4% tổng sản lượng ngô trên toàn thế giới, kế đến là
Trung Quốc, Braxin, Mêhicô…. Một số nước trong khu vực Đông Nam Á có sản
lượng ngô cao như Inđônêxia, Philippin, Thái Lan và Việt Nam.
Sản lượng ngô xuất khẩu trên thế giới trung bình hàng năm khoảng trên 80
triệu tấn. Trong đó, Hoa Kỳ luôn là nước xuất khẩu chiếm trên 50%. Năm 2009,
Hoa Kỳ xuất 53,5 triệu tấn trong tổng số 85 triệu tấn ngô xuất khẩu trên thế giới
(chiếm 55 - 60%), còn lại Nhật Bản chiếm 40%, Mexico 19%, Hàn Quốc 6% và
Đài Loan 6%. Có được những thành tựu như vậy là do việc ứng dụng các công

Hùng, 2004; Viện nghiên cứu ngô, 1996). Trong suốt 20 năm qua diện tích, năng
suất và sản lượng ngô Việt Nam tăng liên tục với tốc độ rất cao. Tỷ lệ tăng
trưởng bình quân hàng năm về diện tích là 7,5%, về năng suất là 6,7% và sản
lượng là 24,5%, cao hơn nhiều so với giai đoạn trước đó 1975 - 1985 (4,2%,
3,9% và 10,0% theo thứ tự). So với năm 1985, sản xuất ngô năm 2004 tăng
trưởng 2,5 lần diện tích, 2,3 lần năng suất và 5,9 lần sản lượng (Ngô Hữu Tình,
2005).
Hiện nay nước ta có 8 vùng trồng ngô, trong đó 5 vùng có diện tích trồng ngô
lớn nhất cả nước là Tây nguyên chiếm 21,8%, Đông Bắc 21,09%, Tây Bắc 15,35%,
Bắc Trung Bộ 14,36% và Đông Nam Bộ 12,11%. Tổng diện tích 5 vùng này chiếm
84,71%. Còn lại là Đồng Bằng Sông Hồng 7,69%, Duyên Hải Nam Trung Bộ
4,14% và Đồng Bằng Sông Cửu Long 3,47% (TCTK, 2007)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8

Bảng 1.4 Sản xuất ngô ở Việt nam từ năm 1961 đến những năm gần đây
Năm
Diện tích
( 1000 ha)
Năng suất
( tạ /ha)
Sản lượng
( 1000 tấn)
1961 229,2 11,4 260,1
1975 267,0 10,5 280,6
1990 432,0 15,5 671,0
1995 556,8 21,1 1.174,9
1997 662,9 24,9 1.6650,6
2000 730,2 27,5 2.005,9
2001 729,5 29,6 2.161,7

chiếm khoảng 10% diện tích trồng ngô của cả nước, chủ yếu là giống ngô địa
phương, thụ phấn tự do hay lai không quy ước (Phan Xuân Hào, 2006). Năng
suất ngô tăng nguyên nhân chính là do thay đổi giống ngô lai và cải tiến kỹ thuật
canh tác. Nhóm có diện tích >10.000 ha: LVN10, CP888, CP999, C919, G49,
P11, B9681, CP989. Nhóm có diện tích 5000-10.000 ha: LVN4, B9797, P60,
Nếp Nù, Tẻ địa phương. Nhóm có diện tích 1000-5000 ha: HQ2000, Ngô Nù
xanh, VN4, TSB1, NK46, LVN17, Nếp Vàng, P848, LVN2, VN2, LS6, MX4,
MX2, NK4300, B9999. Như vậy diện tích trồng ngô nhóm chất lượng nói chung
và ngô nếp nói riêng còn hạn chế ở nước ta. Năng suất ngô của nước ta còn thấp
so với bình quân của thế giới do hai nguyên nhân (Viện nghiên cứu ngô, 2007):
1) Về khách quan: là có hơn 80% diện tích ngô nhờ nước trời (trong đó hơn
60% diện tích ngô trồng trên đất dốc); ngô được trồng trên nhiều vùng, nhiều vụ
và nhiều loại đất khác nhau, đất xấu, đất nghèo dinh dưỡng, ; thời tiết nhiệt đới
gây quá nhiều biến động về nhiệt độ, mưa và gió bão và số giờ nắng; trình độ
canh tác và khả năng đầu tư thâm canh ngô của nông dân giữa các vùng biến
động rất lớn và chưa cao.
2) Về chủ quan: hiện nay chúng ta chưa có những đột phá giống thương mại
mới năng suất cao, chống chịu tốt vượt trội hơn một số giống ngô của nước ngoài
đang thịnh hành ở Việt Nam; chưa đầu tư thích đáng vào nghiên cứu các biện
pháp canh tác như là về mật độ, liều lượng NPK, ảnh hưởng của nước tưới, sử
dụng thuốc trừ cỏ v.v
Hiện nay, sản lượng ngô của nước ta đã đạt 5,2 triệu tấn, nhưng năm 2013
vẫn phải nhập khẩu tới 2,3 triệu tấn. Việt Nam đang thiếu hụt tới 2-3 triệu tấn
ngô mỗi năm và nhu cầu về ngô sẽ còn tiếp tục tăng lên khi chăn nuôi và thủy
sản đang phát triển mạnh. Như vậy, hàng năm chúng ta vẫn phải nhập khẩu một
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10

lượng ngô hạt lớn để phục vụ nhu cầu trong nước trong khi chúng ta có đầy đủ
các điều kiện để sản xuất nhằm đảm bảo tự cung tự cấp. Nguyên nhân chính của


Saúl Fraire - Velázquez và cộng sự (2013) cho rằng bất thuận phi sinh học
có thể nhóm thành các nhóm yếu tố như: bất thuận nước (hạn), nhiệt độ cực đoan
(nóng, lạnh), bức xạ, đất nhiễm nồng độ ion cao (muối, kim loại) là những
nguyên nhân chính ảnh hưởng có ý nghĩa đến năng suất và chất lượng cây trồng.
Nhìn chung, phân nhóm các điều kiện bất thuận tùy theo điều kiện cụ thể của
vùng, khu vực và tác động của nó.
Môi trường bất thuận là những yếu tố của môi trường ảnh hưởng đến chức
năng tối ưu của một sinh vật như hạn, mặn, ngập, nóng, lạnh hoặc tác nhân oxy
hóa ảnh hưởng đến chức năng hoạt động sống của protein (Martina Ortbauer,
2013).
Trong phạm vi sinh học, bất thuận được khái niệm là những yếu tố bên
ngoài hoặc bên trong không phù hợp ảnh hưởng đến cây trồng. Các thành phần
phi sinh học của môi trường ảnh hưởng làm hạn chế sinh trưởng hay sống sót của
thực vật (Matthew A. Jenks, 2005)
Sự ấm lên toàn cầu có khả năng tăng tác động đến hạn hán ở nhiều khu
vực trồng ngô. Crosson và Anderson (1992) kết luận rằng năng suất và sản lượng
ngô sẽ bị ảnh hưởng kép bởi hai yếu tố là tình trạng thu nhận và mất đi CO
2
, từ
đó có thể dự báo được khu vực thu hoạch và diện tích mất mùa. Một nghiên cứu
mô hình mô phỏng năng suất ngô với những chuỗi thay đổi toàn cầu của
Rosenzweig và cộng sự (1995) cho rằng sản lượng cây trồng sẽ giảm 9-10% ở
Châu Á, trong khi năng suất ở các vĩ độ cao hơn lại có khuynh hướng tăng. Giảm
năng suất là kết quả tác động của nhiệt độ thúc đẩy sinh trưởng phát triển của cây
trồng nhanh hơn, chín ép và giảm độ ẩm đất, giảm năng suất nặng nề hơn ở sa
mạc Saharan Châu Phi đến 17% (Muchena và Iglesias, 1995). Những bằng chứng
cho thấy giảm đất trồng trọt và khan hiếm nước sẽ phổ biến ở vùng nhiệt đới
trong bốn thập niên tiếp theo, những thách thức đó là nhỏ hơn ở cây ngô so với
các cây ngũ cốc khác.

Hình 1.1 Ưu thế lai ở ngô khi lai giữa hai dòng thuần B73 (trái ) và Mo17
(phải) tạo ra con cái (giữa). Nguồn James A. Birchler và cộng sự, 2010
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13

Ưu thế lai là một công cụ mạnh được khai thác trong chọn tạo giống cây
trồng và tiến hóa của thực vật. Cơ sở di truyền của ưu thế lai đã được thảo luận
gần một thế kỷ (Shull, 1908), nhưng rất ít sự thống nhất. Những tiến bộ của thời
đại genome và di truyền phân tử, công cụ nghiên cứu phân tử của ưu thế lai được
phát triển mạnh. Thời gian qua, đã có khuynh hướng cho là bất kỳ sự khác nhau
ở mức phân tử nào giữa bố mẹ và con cái đều đóng góp vào ưu thế lai.
Sản xuất ngô lai ở Mỹ trên cơ sở phát triển và lai giữa các dòng thuần. Từ
những năm 1920 các nhà tạo giống ở Mỹ đã phát triển hơn 600 dòng thuần, một
số dòng đến nay không sử dụng nữa (Zuber và Darrah, 1980; Gerdes và cộng sự,
1994). Hầu hết các dòng thuần sử dụng trong các chương trình tạo giống chung,
chọn 2 hoặc 3 chu kỳ từ các dòng hoặc quần thể tổng hợp có nguồn từ lai giữa
các dòng thuần (Baker, 1984). Mặc dù vậy, các dòng thuần phát triển trước đây
không sử dụng trong sản xuất hạt lai ở Mỹ, nhưng chúng vẫn được sử dụng rất
rộng để phát triển dòng thuần mới, nghiên cứu di truyền và làm vật liệu thử khả
năng kết hợp cho nhiều chương trình tạo giống ngô (Smith và Gracen, 1993;
Hallauer và cộng sự, 2000). Dòng thuần ngô từ nhiều nguồn khác nhau trong và
ngoài nước Mỹ đã chỉ ra rằng các dòng thuần vô cùng quan trọng cho chọn tạo
giống ngô lai (Mauria và cộng sự, 2000). Một khảo sát được thực hiện vào cuối
những năm 1970 đến giữa những năm 1980 về các dòng thuần chỉ ra rằng một số
dòng thuần vẫn tiếp tục đóng vào việc tạo giống ngô lai thương mại ở Mỹ. Ví dụ,
B73 và Mo17 được sử dụng trong khoảng 28% tổng số giống lai trồng ở Mỹ năm
1979, nhưng giảm xuống 12,8% vào năm 1985 (Zuber và Darrah, 1980; Darrah
và Zuber, 1985).
Dòng Mo17 do Đại học Missouri chọn tạo và phóng thích năm 1964 và
B73 do Đại học Iowa State chọn tạo và phóng thích năm 1972 (Troyer, 1999).

Quần

thể 33 x quần thể 45 chỉ có khả năng kết hợp riêng có ý nghĩa về năng
suất.

Năng

suất trung bình ở các môi trường ở Mỹ thấp (3,49 tấn/ha) do vấn đề
thích

nghi và trồng muộn. Chỉ có vốn gen 41 có giá trị khả năng kết hợp chung
dương ở mức có ý nghĩa ở Mỹ. Bốn tổ hợp có năng suất cao nhất gồm vốn gen

41
với các quần thể 42, 47, 34, và 45. Ở môi trường á nhiệt đới Mexico, những tổ
hợp lai ưu tú là quần thể 42 x quần thể

47 (hạt trắng) và quần thể 33 x quần thể
45 (hạt vàng) (Beck và cộng sự, 1991).
Betrán và cộng sự, 2002, đánh giá 17 dòng ngô trắng nhiệt đới thuần có
mặt trong lai diallel các dòng và con lai ở 12 môi trường bất thuận và không bất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status