Lời nói đầu
Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nớc ta luôn coi con ngời là
trung tâm của sự phát triển. Đảng ta đã khẳng định: "Đi đôi với phát triển,
tăng trởng kinh tế phải quan tâm giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Kinh tế
phát triển là cơ sở, nguồn lực đảm bảo cho các chơng trình xã hội, giáo dục, y
tế, văn hoá phát triển. Song phát triển xã hội với nền giáo dục, y tế, văn hoá
phát triển sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững...".
Hiện nay, ngời cao tuổi trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói
riêng đang có xu hớng tăng nhanh. Đây là mối quan tâm chung của nhiều
quốc gia. Riêng ở nớc ta, bảo vệ và chăm sóc ngời cao tuổi không chỉ mang ý
nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội mà còn mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc thể
hiện truyền trống "uống nớc nhớ nguồn", "thơng ngời nh thể thơng thân" của
dân tộc ta. Ngời cao tuổi là tầng lớp đã có nhiều cống hiến lớn lao trong công
cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc của nớc ta vì vậy cần phải có những chính
sách phù hợp nhằm bảo vệ và chăm sóc ngời cao tuổi. Ngời cao tuổi cần đợc
tôn trọng, chăm sóc để tạo mọi điều kiện cho họ có điều kiện tiếp tục phát
huy những kinh nghiệm sống mà họ tích luỹ đợc góp phần xây dựng xã hội
mới. Một trong những khó khăn mà ngời ngời cao tuổi gặp phải đó là sự giảm
sút nghiêm trọng về sức khoẻ vì vậy trong chuyên đề này em xin trình bày:
"Thực trạng ngời cao tuổi và một số giải pháp chăm sóc sức khoẻ cho ng-
ời cao tuổi ở Việt Nam".
Do thời gian nghiêm cứu có hạn, chuyên đề còn nhiều hạn chế, rất
mong đợc sự đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn để chuyên đề có
thể hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
I. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề
1. Cơ sở lý luận:
1.1. Khái niệm ngời cao tuổi và một số khái niệm có liên quan
a. Có rất nhiều quan niệm về ngời cao tuổi nhng quan niệm đó thờng
dựa vào mức tuổi thọ trung bình của con ngời ở vùng đó.
phạm pháp luật.
Tuổi già lao động: là độ tuổi mà ngời lao động đã có những suy giảm
về thể chất và các chức năng lao động. Các phản xạ về nghề nghiệp đã kém
đi.
1.2. Các chỉ số về ngời già.
Tỷ lệ ngời già và dân số già: là số ngời tuổi từ 60 tuổi trở lên so với
tổng dân số ở địa phơng nhất định vào thời điểm xác định đợc tính bằng phần
trăm.
Tỷ lệ ngời già = x 100%
+ Tỷ lệ cụ ông = x 100%
Ví dụ: Theo số liệu điều tra tổng dân số năm 1989 trong tổng số hơn
64 triệu dân Việt Nam thì có 4,6 triệu ngời từ 60 tuổi trở lên và chiếm 7,2%.
Tỷ lệ phụ thuộc già: là tỷ số so sánh giữa ngời già với ngời đang có độ tuổi
lao động tính theo phần trăm.
Tỷ lệ phụ thuộc già = * 100%
Tỷ lệ này thể hiện mối tơng quan giữa ngời già (không còn lao động)
với ngời đang ở độ tuổi lao động.
Tỷ lệ này càng cao thì cho thấy xã hội càng có nhiều ngời già, không
làm ra của cải vật chất.
3
Ví dụ: Năm 1995 tỷ lệ phụ thuộc già của Trung Quốc là 14,7% tức là
cứ 7 ngời trong độ tuổi lao động thì có 1 ngời già.
+ Chỉ số già hoá: là tỷ lệ giữa số ngời già so với số trẻ em. Chỉ số này
nói lên mối tơng quan giữa hai thế hệ già và trẻ.
Chỉ số già hoá = x 100%
Nếu chỉ số này bằng 100 thì tỷ lệ ngời già và trẻ em bằng nhau.
Nếu chỉ số này bằng 50 tỷ lệ ngời già ít hơn trẻ em (bằng một nửa trẻ
em).
Nếu chỉ số này > 100 thì tỷ lệ ngời già lớn hơn trẻ em.
+ Tốc độ già hoá: là số năm cần thiết để tỷ lệ ngời già ở một nớc tăng
ơng sáng về đạo đức, tác phong, lối sống và chủ nghĩa anh hùng của lớp ngời
cao tuổi. Đảng và Nhà nớc ta luôn bổ xung, hoàn thiện hệ thống chính sách
chăm sóc ngời cao tuổi với chủ trơng "việc chăm sóc đời sống vật chất và
tinh thần cho ngời cao tuổi là trách nhiệm của Đảng, Nhà nớc và toàn xã
hội". (Theo Chỉ thị của Ban chấp hành Trung ơng Đảng số 59T/TW ngày 27-
9-1995).
Từ nhận thức đúng đắn trong công tác chăm sóc ngời cao tuổi, Đảng
và Nhà nớc ta đã có những giải pháp, đúng đắn góp phần nâng cao đời sống
của ngời cao tuổi.
II. Thực trạng ngời cao tuổi ở Việt Nam
1. Thực trạng ngời cao tuổi
Theo số liệu thống kê năm 1999. nớc ta có khoảng 76.327.000 ngời
trong đó có khoảng 6.1999 ngời cao tuổi chiếm 8,2% dân số. Số ngời cao
tuổi ở nớc ta đã tăng từ 7,2% dân số năm 1994 lên 8,2% dân số năm 1999.
Điều này cho thấy cơ cấu dân số nớc ta đang có xu hớng già đi, và đây là một
5
nỗi băn khoăn lớn của xã hội. Có thể có cái nhìn tổng thể về ngời cao tuổi ở
Việt Nam qua bảng số liệu sau:
Nhóm tuổi 1989 1999
60 - 64 1574 1766
65 - 69 1237 1268
70 - 74 807 1208
75 - 79 564 833
80 - 84 289 418
> 85 157 289
Từ số liệu trên cho thấy, tuổi thọ trung bình của ngời cao tuổi ở nớc ta
còn thấp. Nếu độ tuổi từ 60 - 64 ở nớc ta có 1766 ngời chiếm 30% tổng số
ngời cao tuổi thì số ngời cao tuổi ở độ tuổi từ 85 trở lên chỉ chiếm 0,05%. Vì
vậy cần phải có những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao đời sống cung nh tuổi
thọ của ngời cao tuổi.