Nghiên cứu Quy hoạch tổng thể an toàn giao thông đường bộ tại Việt Nam
Báo cáo giữa kỳ (Bản thảo)
Email:
III-8-1
8. CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CẤP CỨU Y TẾ
8.1 Các vấn đề tồn tại và dự báo đến 2020.................................................................... 2
8.2 Mục tiêu: ................................................................................................................... 7
8.3 Chiến lược:............................................................................................................... 8
8.4 Lộ trình thực hiện chiến lược.................................................................................. 23
8.5 Đề xuất một số dự án cần được quốc tế tài trợ về cấp cứu y tế ............................ 27
Nghiên cứu Quy hoạch tổng thể an toàn giao thông đường bộ tại Việt Nam
Báo cáo giữa kỳ (Bản thảo)
Email:
III-8-1
8. CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CẤP CỨU Y TẾ
Chiến lược được soạn thảo với các đề mục chính như sau:
1. Các vấn đề tồn tại về tai nạn giao thông như: định nghĩa về TNGT, số chết và
bị thương do TNGT tại Việt Nam theo thống kê của Bộ Y tế, thiệt hại về kinh tế
xã hội do TNGT gây ra, một số thông tin về tình hình TNGT tại các nước trên
thế giới, các bài học kinh nghiệm tại Nhật Bản…
2. Dự báo tình hình TNGT các nă
m tới, các yếu tố gây tăng TNGT, làm giảm
TNGT, dự báo tình hình cấp cứu y tế các năm tới trong đó tập trung vào các
yếu tố chủ yếu:
(1) Công tác chăm sóc y tế trước khi được chuyển tới bệnh viện
(2) Chăm sóc, điều trị tại bệnh viện
(3) Đào tạo nguồn nhân lực cho hệ thống cấp cứu nạn nhân TNGT
(4) Công tác thông tin truyền thông cho cộng đồng về cấp cứu n
ạn nhân
(5) Các vấn đề về cấp cứu nạn nhân TNGT nhiều nạn nhân và
III-8-2
8.1
Các vấn đề tồn tại và dự báo đến 2020
1) Tai nạn giao thông
(1) Thực trạng thống kê TNGT quốc gia hiện nay:
- Quyết định số 197/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/12/2001
phê duyệt Chính sách quốc gia Phòng chống tai nạn thương tích giai đoạn
2002-2010 đã nêu là “Các cơ sở y tế, nhất là ở tuyến quận huyện, xã
phường cần đánh giá đúng và chính xác về số lượng những tai nạn,
thương tích, mức độ tai nạn, thương tích thường xảy ra trên địa
phương”. Thực tế hiện nay, số tai nạn giao thông cũng như số nạn nhân, số
chết, số bị thương do TNGT của nước ta không phản ánh đúng thực tế tình
hình và không tương quan với thống kê của các nước trong khu vực và trên
thế giới.
- Định nghĩa Tai nạn giao thông của Liên Hợp quốc (UN) như sau: “Những tai
nạn xẩy ra trên đường hoặc phố dành cho giao thông công cộng mà nó
dẫn đến mộ
t hoặc nhiều người chết hoặc bị thương và trong đó có ít
nhất một phương tiện đang di chuyển có liên quan. Vì vậy những tai
nạn này bao gồm sự va chạm giữa các phương tiện với nhau, giữa
phương tiện với người đi bộ, giữa phương tiện với súc vật hoặc các vật
cố định. Tai nạn chỉ có một phương tiện liên quan (không có người sử
dụ
ng đường khác) cũng được tính”
- Cách tính và báo cáo tình hình tai nạn giao thông của nước ta hiện nay còn
nhiều bất cập: Hầu như chỉ tính số TNGT có người chết (tỷ lệ 89,92%);
không tính các trường hợp tự gây ra tai nạn giao thông, tai nạn giao thông
TNGT vào cấp cứu tại bệnh viện, trung bình mỗi ngày có 53 nạn nhân, cứ 26
phút có một nạn nhân vào cấp cứu. Theo thống kê của bệnh viện Chợ Rẫy
từ 1/1/2003 đến 31/12/2007 (5 năm) có tổng cộng 139.011 nạn nhân TNGT
vào c
ấp cứu (7.959 người chết do TNGT tại bệnh viện); trung bình mỗi năm
có 27.802 nạn nhân, mỗi ngày có 76 nạn nhân; cứ 19 phút lại có một nạn
nhân bị TNGT vào bệnh viện. Như vậy là nếu chỉ tính số nạn nhân TNGT
vào cấp cứu tại hai bệnh viện trung ương tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh cả năm 2006 đã có 47.455 gấp 4,2 lần số bị thương của cả nước được
công bố chính th
ức là 11.286 người. Điều cần lưu ý là hầu hết số nạn nhân
vào cấp cứu tại hai bệnh viện trung ương nói trên đều là những tai nạn nặng
do các địa phương chuyển về, hầu như không có các vụ va chạm nhẹ.
- Số liệu cập nhật TNGT 10 ngày giữa tháng 1 năm 2008 tại bệnh viện Việt
Đức (Hà nội) và Chợ Rẫy (thành phố HCM) trung bình mỗi ngày tại hai bệnh
viện này đ
ã có 121 nạn nhân TNGT vào cấp cứu (vượt xa số trung bình bị
thương do TNGT mỗi ngày năm 2007 vừa công bố là 29 người/ngày
(10.546/365 ngày)
- Bộ Y tế thống kê 650 bệnh viện trên cả nước năm 2006 có 140.447 nạn
nhân TNGT vào cấp cứu (số công bố chính thức trên báo chí là 11.288).
Trung bình mỗi ngày cả nước có 384 nạn nhân TNGT, cứ 4 phút lại có một
nạn nhân TNGT vào cấp cứu. Con số này vượt xa số vào cấp cứu và chết
do các bệnh truyền nhiễm và thiên tai, thảm họ
a khác trên cả nước. Bộ Y tế
đã thu thập số liệu trong sổ tử vong (sổ A6) tại 9.483 xã trên cả nước thấy
nguyên nhân chết do TNGT là 17.829 người
1
(cao hơn con số công bố chính
thức năm 2006 là 12.757 người chết do TNGT).
- Tai nạn giao thông 578 526 91%
- Tai nạn sinh hoạt và TN lao động
188
190
101%
1
- Tai nạn do pháo nổ
1
4
400%
Số chết tại bệnh viện
Chết do tai nạn giao thông 8 1 12,5%
Chết do tai nạn sinh hoạt và TN lao động
1
4
400%
2
Chết do tai nạn pháo nổ
0
0
0
Quá nặng xin về chết tại nhà
Do tai nạn giao thông 22 33 150%
Do tai nạn sinh hoạt và TN lao động
6
7
116,6%
o Số chết do TNGT trong vòng 30 ngày: 6.639 (- 8.7% so với 2006)
2
(Nguồn:
Nghiên cứu Quy hoạch tổng thể an toàn giao thông đường bộ tại Việt Nam
Báo cáo giữa kỳ (Bản thảo)
Email:
III-8-5
Sở dĩ giảm được số chết như vậy là do đã tăng cường công tác cấp cứu nạn
nhân tại các cơ sở y tế, giảm say xỉn khi lái xe và giảm chạy xe quá tốc độ cho
phép.
3TAI NẠN GIAO THÔNG TẠI NHẬT BẢN 1951 - 2004
Bắt đầu triên khai Chương
trình An toàn giao thông
1970
Số vụ TNGT
tiếptụctăng
Số trường hợp
chếtbắt đàu
giảmmạnhNguyên nhân của thành công đó là do Nhật đã thực hiện kiên quyết việc cưỡng
chế an toàn giao thông, quy định bắt buộc phải thắt dây an tòan (đối với xe ô tô)
và đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông (đối với xe mô tô). Hơn nữa, Nhật
cũng đầu tư lớn vào việc bố trí hệ thống thông tin khi có TNGT, các trạm cấp
cứu dọc đường giao thông và nâng cao năng lực cấp cứu nạn nhân của các
báo cáo thì số thiệt hại về kinh tế do TNGT gây ra năm 2002, 2003 khoảng 885
triệu USD, chiếm 2,45% tổng thu nhập quốc dân thời gian đó. 3) Chăm sóc y tế trước khi đến bệnh viện
(1) Công tác y tế và hệ thống thông tin cấp cứu:
- Các thông tin về cấp cứu còn chậm, không đáp ứng được nhu cầu về
“thời gian vàng” trong cấp cứu chấn thương
- Cấp cứu tại hiện trường còn thấp, phần lớn do cộng đồng thực hiện.
- Đánh giá kỹ thuật cấp cứu ban đầu cho thấy: 34,8% không được xử trí
cấp cứu và 65,2% có được xử trí cấp cứu. Các xử trí thông thườ
ng chỉ
đạt yêu cầu về chuyên môn dưới 50%.
(2) Hệ thống vận chuyển cấp cứu nạn nhân
- Nhiều nạn nhân không được vận chuyển đến bệnh viện bằng các xe cấp
cứu chuyên dụng mà bằng các phương tiện khác như xe taxi, xe ôm
hoặc thậm chí bằng cả xe tải do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên
nhân do thiếu xe cấp cứu.
4) Chăm sóc y tế tại các bệnh viện
- Ngành Y tế sẽ được đầu tư tốt hơn về trang thiết bị và nâng cấp về
chuyên môn kỹ thuật, các Trung tâm y tế chuyên sâu được hình thành
trên các vùng, miền sẽ tiếp nhận cấp cứu nạn nhân tốt hơn. Các bệnh
viện tuyến huyện được nâng cấp có khả năng xử trí tại chỗ các trường
hợp TNGT mà không phải chuyển lên tuyến trên.
- Hệ thống bệnh viện tư nhân phát triển mạ
nh không chỉ tập trung tại các
đô thị mà còn phát triển đến các huyện tại các địa bàn kinh tế trọng điểm.
Các bệnh viện tư sẽ được trang bị hiện đại, có cán bộ chuyên môn chất
lượng cao đóng vai trò tích cực trong việc cấp cứu, điều trị nạn nhân
TNGT.
(2) Các kiến thức cần thiết đối phó với tình huống tai nạn giao thông có nhiều
nạn nhân nói chung còn yếu; phần lớn chưa được đào tạo bài bản, chỉ dựa
vào kinh nghiệm hoặc hướng dẫn từ khi còn học đại học. Một số kiến thức
còn yếu là: giải quyết nạn nhân tại hiện trường, phân loại nạn nhân, phân
công người chỉ huy, phát ngôn với báo chí và bảo vệ b
ệnh viện để các thầy
thuốc tập trung vào công tác cấp cứu nạn nhân.
8) Hệ thống bảo hiểm tai nạn thương tích
- Hiện nay việc bắt buộc mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người
tham gia giao thông chưa được thực hiện rộng rãi. Thời gian tới, Nhà
nước sẽ thực hiện và kiểm tra việc mua loại hình bảo hiểm này. Khuyến
khích các loại hình bảo hiểm tự nguyện khác như bảo hiểm tai nạn
thương tích cho học sinh, sinh viên tại các trường học, bảo hiểm tai nạn
cho công nhân…
8.2 Mục tiêu
1) Mục tiêu tổng quát: Đến năm 2020 sẽ đạt được:
Giảm 50% số nạn nhân tai nạn giao thông chết tại các cơ sở y tế so với năm
2007 do được thông tin sớm, được cấp cứu và vận chuyển kịp thời bằng xe
chuyên dụng đến các cơ sở y tế nhà nước, tư nhân và lực lượng vũ trang.
Các bệnh viện tuyến tỉnh, thành phố có đủ trang thiết bị cần thiết và cán bộ
chuyên môn có trình độ cao; hình thành hệ thống đào tạo chuyên sâu về c
ấp
cứu tai nạn thương tích và phục hồi chức năng cho nạn nhân sau khi được
cấp cứu, điều trị tại các bệnh viện.
Nghiên cứu Quy hoạch tổng thể an toàn giao thông đường bộ tại Việt Nam
Báo cáo giữa kỳ (Bản thảo)
Email:
III-8-8
(1) Nghị quyết 32 của Chính phủ “về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế
tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông”
a. Mục d, phần 6 của Nghị quyết nêu rõ “Bộ Y tế ban hành quy định việc
thành lập các trạm cấp cứu tai nạn giao thông trên các quốc lộ trọng
điểm với khoảng cách giữa các trạm hợp lý và theo quy định; thường
xuyên tổ chức các lớp tập huấn, phổ biến kiến th
ức cấp cứu tai nạn giao
thông cho các đối tượng liên quan đến cứu hộ, cứu nạn và giải quyết tai
nạn giao thông”
b. Mục c, phần 1 Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm: “Ban hành
chương trình giáo dục trật tự an toàn giao thông phù hợp trong nhà
trường, tăng thời lượng giảng dạy chính khóa, các hoạt động ngoại khóa
về trật tự an toàn giao thông. Thực hiện chương trình giảng dạy trật tự
an toàn giao thông mới từ niên h
ọc 2008 - 2009 ở tất cả các cấp học;
quy định việc đánh giá đạo đức đối với học sinh, sinh viên vi phạm pháp
luật trật tự an toàn giao thông…”.
Nghiên cứu Quy hoạch tổng thể an toàn giao thông đường bộ tại Việt Nam
Báo cáo giữa kỳ (Bản thảo)
Email:
III-8-9
(2) Quyết định số 197/2001/QĐ-TTg ngày 27/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Chính sách quốc gia Phòng chống tai nạn thương tích giai đoạn
2002-2010:
a. Phần 1: Mục tiêu nêu rõ: “Đến năm 2005, số người chết do tai nạn giao
thông giảm từ 14 người xuống còn 11 người /10.000 phương tiện và đến
năm 2010, xuống còn 9 người /10.000 phương tiện”. (Nếu tính theo dự
báo (1) đến 2020 có 35,62 triệu phương tiện tham gia giao thông thì số
chết do TNGT sẽ là 32.058 hoặc theo d
ự báo (2) có 52,6 triệu phương
loại các tai nạn, thương tích xảy ra; chịu trách nhiệm chính và phối
hợp với các Bộ, ngành khác và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương đi sâu vào việc phòng, chống tai nạn, thương
tích để xây dựng mô hình những tỉnh, thành, huyện, thị, xã, phường,
trường học... thành những cộng đồng an toàn, tổng kết những kinh
nghiệm để mở rộng xây dựng cộng đồng dân cư an toàn trong phạm
vi toàn quốc”
- “Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên
quan thực hiện chương trình sức khỏe học đường, trong đó có nội
dung phòng, chống tai nạn, thương tích; xây dựng nhà trường an
Nghiên cứu Quy hoạch tổng thể an toàn giao thông đường bộ tại Việt Nam
Báo cáo giữa kỳ (Bản thảo)
Email:
III-8-10
toàn, biên soạn tài liệu giáo dục về phòng, chống tai nạn, thương tích
trong nhà trường.”
(3) Chỉ thị số 04 /2007/CT-BYT ngày 08/11/2007 của Bộ Y tế về việc triển khai
thực hiện Nghị quyết 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 của Chính phủ về một
số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao
thông đã nêu ra một số nhiệm vụ cụ thể như sau:
a. Quy định việc thành lập các trạm cấp cứ
u tai nạn giao thông trên các
quốc lộ; Tiêu chuẩn về trang thiết bị, kiến thức và kỹ năng của nhân viên
y tế trong chăm sóc chấn thương thiết yếu.
b. Chỉ đạo các Sở Y tế xây dựng mạng lưới các trạm cấp cứu, các bệnh
viện nhằm kịp thời cứu chữa nạn nhân bị tai nạn giao thông trên các
quốc lộ trọng điểm. Thống kê, báo cáo tình hình tai nạn thương tích tại
các c