NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP SCAMPER VÀ ỨNG DỤNG CÁC PHÉP SÁNG TẠO TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN INTERNET - Pdf 28

Môn học: Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Tin Học GVHD: Giáo Sư – TSKH Hoàng Kiếm
MỤC LỤC
I. Nội dung tổng quát 3
II. Khái quát về khoa học và nghiên cứu khoa học 3
1. Khoa học 3
2. Nghiên cứu khoa học 4
3. Vấn đề khoa học và các phương pháp tư duy sáng tạo 5
III. Phương pháp tư duy sáng tạo SCAMPER 7
1. Giới thiệu 7
2. Substitute – phép thay thế 8
3. Combine – phép kết hợp 9
4. Adapt – phép thích ứng 10
5. Modify – phép điều chỉnh 11
6. Put – phép sử dụng vào việc khác 12
7. Eliminate – phép hạn chế 12
8. Reverse – phép đảo ngược 13
IV. Lịch sử hình thành và phát triển Internet 15
1. Giai đoạn phôi thai 15
2. Giai đoạn bùng nổ thứ nhất 16
3. Giai đoạn bùng nổ thứ hai 17
4. Giai đoạn bùng nổ thứ ba với mạng không dây 18
5. Giai đoạn hiện tại và tương lai 19
V. Ứng dụng của phương pháp SCAMPER vào quá trình hình thành và phát triển của
Internet 20
1. Phép thay thế 20
2. Phép kết hợp 20
3. Phép thích ứng 21
4. Phép điều chỉnh 21
5. Phép sử dụng vào việc khác 22
6. Phép hạn chế 22
7. Phép đảo ngược 22

- Định nghĩa: Hệ thống tri thức về mọi loại qui luật của tự nhiên, xã hội và tư duy ( Pierre
Auger UNESCO-PARIS).
- Sự phân loại các khoa học:
• Nguồn gốc (Lý thuyết, thực nghiệm,
thực chứng…)
• Mục đích ứng dụng ( mô tả, phân tích,
tổng hợp, sáng tạo…)
• Mức độ khái quát ( Cụ thể, trừu tượng,
tổng quát…)
• Tính tương liên ( Liên ngành, đa
ngành…)
• Cơ cấu hệ thống tri thức ( Cơ sở, cơ
bản, chuyên ngành…)
• Đối tượng nghiên cứu ( Tự nhiên, kỹ thuật, xã hội nhân văn, công nghệ, nông
nghiệp, y học…)
- Kỹ thuật là sự vận dụng khoa học tác động vào tự nhiên, là ứng dụng của khoa học.
- Công nghệ ở mức cao hơn kỹ thuật, là kỹ thuật được phổ biến rộng rãi.
- Ý nghĩa của khoa học: là cơ sở, phương tiện để con người có thể giải quyết được các
vấn đề trong cuộc nhằm phục vụ con người.
- Khoa học vẫn đang phát triển không ngừng và không có giới hạn, sự phát triển đó tác
động đến mọi mặt của đời sống xã hội, làm thay đổi thói quen, tập tục lỗi thời, thúc đẩy
mạnh mẽ sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội.
Học viên: Đồng Xuân Chấn – CH1201091 Trang 3
Môn học: Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Tin Học GVHD: Giáo Sư – TSKH Hoàng Kiếm
2. Nghiên cứu khoa học
- Định nghĩa: họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số
liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệm để phát hiện ra những cái mới về
bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương
tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn.
- Các chức năng cơ bản:

• B7: Giai đoạn kết thúc
o Hoàn tất công tác
o Áp dụng kết quả
3. Vấn đề khoa học và các phương pháp tư duy sáng tạo
- Vấn đề khoa học (scientific problem) cũng được gọi là vấn đề nghiên cứu (research
problem) hoặc câu hỏi nghiên cứu là câu hỏi được đặt ra khi người nghiên cứu đứng
trước mâu thuẫn giữa tính hạn chế của tri thức khoa học hiện có với yêu cầu phát triển
tri thức đó ở trình độ cao hơn.
- Nghiên cứu khoa học luôn tồn tại hai vấn đề:
• Vấn đề về bản chất sự vật đang tìm kiếm
• Vấn đề về phương pháp nghiên cứu để làm sáng tỏ về lý thuyết và thực tiễn những
vấn đề thuộc lớp thứ nhất.
- Khoa học về phát minh, sáng chế:
• Phát minh là tìm ra những quy luật của tự nhiên, của xã hội một cách khách quan
mà trước đó chưa ai biết.
• Sáng chế là sáng tạo ra một cái mới mà trước đó chưa tồn tại. Sáng chế là ứng
dụng những thành tựu của khoa học vào thực tế cuộc sống, phục vụ cuộc sống của
con người mỗi ngày một tốt hơn.
- Khoa học sáng tạo là hoạt động sáng tạo
gắn liền với lịch sử tồn tại và phát triển của
xã hội loài người. Từ việc tìm ra lửa, chế tạo
công cụ bằng đá thô sơ đến việc sử dụng
năng lượng nguyên tử, chinh phục vũ trụ ,
hoạt động sáng tạo của loài người không
ngừng được thúc đẩy. Sáng tạo không thể
tách rời khỏi tư duy - hoạt động bộ não của
con người. Chính quá trình tư duy sáng tạo
với chủ thể là con người đã tạo các giá trị
vật chất, tinh thần, các thành tựu vĩ đại về
mọi mặt trong cuộc sống và tạo ra nền văn minh nhân loại.

của trường phái này đó là phương pháp sáng tạo với bàn phím của chiếc máy tính
cầm tay. Theo tiếng Nhật thì KAIZEN có nghĩa là “Không ngừng cải tiến, không
ngừng sáng tạo”.
• Sáu mũ tư duy là phương pháp hướng dẫn và gở rối cho suy nghĩ sao cho người tư
duy mỗi lần chỉ dùng đến một lối suy nghĩ mà thôi ,thay vì cố tìm cách làm đủ mọi
thứ cùng một lúc. Có thể liên tưởng đến phương pháp in bản đồ .Từng màu nguyên
Học viên: Đồng Xuân Chấn – CH1201091 Trang 6
Môn học: Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Tin Học GVHD: Giáo Sư – TSKH Hoàng Kiếm
được tách in riêng và cuối cùng các màu nguyên tổng hợp làm một, cho ra màu cuối
cùng mà ta thấy trên bản đồ.
• SCAMPER: 1 công cụ tư duy khá hiệu quả, trợ giúp đắc lực trong quá trình tìm ra
các phát kiến nhằm thay đổi sản phẩm hoặc tiến trình công việc. Kết quả mà
phương pháp này mang lại có thể áp dụng trực tiếp hoặc như điểm khởi đầu theo
cách tư duy bên lề vấn đề. Trong phần tới ta sẽ đi sâu phân tích về phương pháp
này.
III. Phương pháp tư duy sáng tạo SCAMPER
1. Giới thiệu
- SCAMPER là 1 kĩ năng tư duy tổng hợp do Michael Mikalko sáng tạo nên, một từ viết
tắt cho bảy kỹ thuật tư duy giúp những người sử dụng chúng đưa ra các giải pháp giải
quyết vấn đề. Các hướng suy nghĩ suy nghĩ rất phổ biến đối với hành vi sáng tạo của
con người.
- SCAMPER là viết tắt chữ cái đầu của các từ sau:
• Substitute (thay thế)
• Combine
(kết hợp)
• Adapt (thích
ứng)
• Modify (điều
chỉnh)
• Put (sử

• Ta dùng răng sứ để thay cho răng thật
• Ta dùng máy cày thay cho sức trâu
• Ta dùng súng thay cho cung tên
- 1 số hình ảnh vui mang tính minh họa:
Học viên: Đồng Xuân Chấn – CH1201091 Trang 8
Môn học: Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Tin Học GVHD: Giáo Sư – TSKH Hoàng Kiếm
3. Combine – phép kết hợp
- Bạn hãy quan sát xem có thể biến tấu thêm gì, kết hợp thêm được gì để tạo ra 1 sản
phẩm mới, đề cao khả năng hợp lực của từng tính năng.
- Liệt kê một danh sách các cách bạn có thể kết hợp nhiều đối tượng, ý tưởng, tài liệu,
hoặc các chức năng thành một. Tìm ra các bộ phận đang hoạt động một cách độc lập,
huy động các phương tiện để tích hợp chúng.
- 1 số câu hỏi gợi mở:
• Ý tưởng / thành phần nào có thể kết hợp được ?
• Tôi có thể kết hợp / tái kết hợp mục đích của các đối tượng ?
• Tôi có thể kết hợp hoặc hòa trộn yếu tố này với các yếu tố khác ?
• Cái gì có thể kết hợp để gia tăng tính hữu dụng ?
• Những vật liệu nào có thể kết hợp với nhau ?
• Tôi có thể kết hợp những năng lực khác nhau để cải thiện vấn đề ?
- Ví dụ thực tiễn:
• Walkman là sản phẩm kết hợp giữa tai nghe và máy nghe nhạc
• Con la được lai ghép từ con cừu và con ngựa
• Trực thăng là sự kết quả của sự kết hợp giữa động cơ bay và nguyên lý bay của
chuồn chuồn.
• Thiệp điện tử là sự kết hợp giữa thiếp giấy và âm nhạc, hiệu ứng
• Lịch vạn niên là kết hợp giữa lịch tường và đồng hồ.
- 1 số hình ảnh vui mang tính minh họa:
Học viên: Đồng Xuân Chấn – CH1201091 Trang 9
Môn học: Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Tin Học GVHD: Giáo Sư – TSKH Hoàng Kiếm
4. Adapt – phép thích ứng

của bạn. Thảo luận về cách bạn có thể thay đổi kích cỡ, loại bỏ các phần, xóa quá trình
bước, thêm chức năng và nâng cao sức hấp dẫn.
- 1 số câu hỏi gợi mở:
• Yếu tố nào có thể điều chỉnh lớn hơn ?
• Yếu tố nào có thể cường điệu hoặc cực đoan ?
• Yếu tố nào có thể cao hơn, to hơn hay mạnh hơn ?
• Tôi có thể gia tăng tần số của hệ thống ?
• Yếu tố nào có thể lặp lại ?
• Tôi có thể tạo ra nhiều bản sao ?
• Tôi có thể bổ sung them những đặc trưng mới hoặc giá trị mới?
- Ví dụ thực tiễn:
• Máy tính ngày nay được thiết kế nhỏ gọn nhất có thể so với phiên bản đầu tiên
• Tốc độ tối đa của xe hơi ngày càng được cải thiện
• Hệ điều hành windown được cải tiến bằng nhiều phiên bản nhằm tăng tính thân
thiện và hiệu quả hoạt động.
• Dung lượng ổ cứng máy tính ngày càng lớn
• Đa dạng hóa kích thước mẫu mã của các loại điện thoại di động
- 1 số hình ảnh vui mang tính minh họa:
Học viên: Đồng Xuân Chấn – CH1201091 Trang 11
Môn học: Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Tin Học GVHD: Giáo Sư – TSKH Hoàng Kiếm
6. Put – phép sử dụng vào việc khác
- Có thể áp dụng cho cách dùng khác ? Mục đích khác ? Lĩnh vực khác ?
- Liệt kê những cách mà bạn có thể đạt được những mục đích sử dụng khác nhau,
những chức năng khác nó có thể phục vụ, và những người nào khác có thể thấy nó hữu
ích?
- 1 số câu hỏi gợi mở:
• Đối tượng đang xem xét có thể dùng vào mục đích khác ?
• Đối tượng đang xem xét có thể dùng bởi người khác với mục đích khác ?
• Trẻ em hay người già sử dụng đối tượng đang xem xét như thế nào ?
• Có cách nào khác sử dụng đối tượng đang xem xét không ?

• Bàn phím bấm bị loại bỏ trong các loại điện thoại di động hiện đại
• Xe hơi được loại bỏ mái để thành xe hơi mui trần
- 1 số hình ảnh vui mang tính minh
họa:
8. Reverse – phép đảo ngược
- Thay đổi hướng hoặc định hướng mới. Biến nó lộn ngược, từ trong ra ngoài, hoặc làm
ngược lại với hướng đã dự định hay đang sử dụng.
Học viên: Đồng Xuân Chấn – CH1201091 Trang 13
Môn học: Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Tin Học GVHD: Giáo Sư – TSKH Hoàng Kiếm
- Xem xét về ý tưởng cho việc sắp xếp lại các thành phần trong sản phẩm hoặc quy trình
của bạn. Bất kỳ thành phần nào cũng có thể hoán đổi vị trí, chức năng cho nhau.
- 1 số câu hỏi gợi mở:
• Có phương án cấu trúc khác tốt hơn phương án hiện hành ?
• Có thể hoán đổi bộ phận này với bộ phận khác trong hệ thống ?
• Có thể bố trí theo lớp hay theo chuỗi ?
• Có thể hoán đổi giữa tác nhân và hệ quả ?
• Có thể thay đổi nhịp điệu hay lịch trình của kế hoạch ?
• Có thể hoán đổi giữa yếu tố tích cực và yếu tố tiêu cực ?
• Có thể tác động ngoại vi thay vì chính diện ? Tác động bên trên thay vì bên dưới ?
Tác động bên dưới thay vì bên trên ?
• Xem xét vấn đề/bài toán theo chiều hướng ngược lại ?
• Thực hiện ngược lại với dự định ban đầu ?
- Ví dụ thực tiễn:
• Cho ra đời loại vải không phân biệt mặt trong hay ngoài
• Ốc vặn của cánh quạt được thiết kế chiều quay ngược lại với chiều thông thường
• Nhà được thiết kế phá cách với phần nền nhỏ hơn phần mái
• Lịch block treo tường lột theo kiểu ngang thay vì lột dọc
• Nhà được xây bên dưới lòng đất thay vì trên mặt đất
- 1 số hình ảnh vui mang tính minh họa:
Học viên: Đồng Xuân Chấn – CH1201091 Trang 14

Học viên: Đồng Xuân Chấn – CH1201091 Trang 15
Môn học: Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Tin Học GVHD: Giáo Sư – TSKH Hoàng Kiếm
• MILNET tích hợp với mạng dữ liệu quốc phòng
• ARPANET trở thành 1 mạng dân sự với quy mô nhỏ hơn.
- Mạng Internet ban đầu chỉ khởi sắc trong giới học thuật với việc tạo ra BITNET
(because It is Time Networt – Bởi vì đã đến thời của Mạng). Sau này, năm 1984 khi giới
nghiên cứu đưa ra “hệ thống tên miền” cho phép người sử dụng tìm kiếm các máy vi
tính khác theo tên chứ không phải theo số thì số máy chủ trên Internet đã tăng lên con
số chóng mặt (từ 1987 có 10.000 máy chủ, hai năm sau có tới 100.000 máy chủ). Hệ
thống các tên miền DNS (Domain Name System) được chia thành sáu loại chính
• .edu (education) cho lĩnh vực giáo dục
• .gov (government) thuộc chính phủ
• .mil (miltary) cho lĩnh vực quân sự
• .com (commercial) cho lĩnh vực thương mại
• .org (organization) cho các tổ chức
• .net (network resources) cho các mạng
- Lúc này, hội đồng các hoạt động internet ra đời,
sau được đổi tên thành Hội đồng kiến trúc
internet. Như vậy, ở thời kỳ phôi thai này,
ARPANET, mạng toàn khu vực đầu tiên và tiền
thân của Internet được thiết lập tại “bốn điểm nút”
là Viện nghiên cứu Stanford, UCLA, Đại học
California ở Santa Barbara và Đại học Utah.
Internet còn phải trải qua 3 giai đoạn phát triển
nữa mới có được vị trí như ngày hôm nay.
2. Giai đoạn bùng nổ thứ nhất
- Năm 1986 mạng NSFnet chính thức
được thiết lập, kết nối năm trung tâm
máy tính.Đây cũng là năm có sự
bùng nổ kết nối, đặc biệt là ở các

- Cùng với sự phát triển chóng mặt của các công nghệ kết nối, giúp đẩy nhanh tốc độ truy
tải, số lượng các tờ báo điện tử cũng nở rộ khắp nơi trên thế giới, truyền tải thông tin
dưới mọi hình thức mà các loại báo truyền thống cung cấp. Có thể coi báo điện tử hiện
nay là sự hội tụ của cả báo giấy (text), báo tiếng (audio) và báo hình (video). Người lướt
Học viên: Đồng Xuân Chấn – CH1201091 Trang 17
Môn học: Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Tin Học GVHD: Giáo Sư – TSKH Hoàng Kiếm
web không chỉ được cập nhật tin tức dưới dạng chữ viết mà còn có thể nghe rất nhiều
kênh phát thanh và xem truyền hình ngay trên các website báo chí.
- Công ty Netsscape tung ra các phần mềm ứng dụng để khai thác thông tin trên Internet
vào tháng 5 năm 1995.Công ty Amazon.com ra đời vào tháng 5 năm 1997 và IBM tung
ra chiến dịch quảng cáo cho các mô hình điện tử năm 1997…
- Nếu như cuối năm 1996, trên toàn thế giới chỉ có khoảng trên 1.400 đầu báo điện tử thì
đến năm 2004 con số này đã tăng lên gấp khoảng 10 lần-trên 14.000 đầu báo. Số đầu
báo điện tử tăng tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển và phổ cập internet cũng như số lượng
độc giả. Theo một số liệu thống kê không chính thức, độc giả báo điện tử ở các nước
như Mỹ, Anh, Đức, Nhật… hiện đã chiếm tới 1/4 tổng dân số của những nước này.
- Đến cuối thời kỳ này, Internet bắt đầu cung cấp dịch vụ Web Mail bởi công ty Hotmail
vào tháng 7 năm 1996. Sau đó nó được Microsoft mua lại với giá 400 triệu dô la. Cũng
trong năm đó triễn lãm Internet 1996 World Exposition là triển lãm thế giới đầu tiên trên
mạng Internet.
4. Giai đoạn bùng nổ thứ ba với mạng không dây
- Năm 1985,Cơ quan quản lí viễn thông của Mĩ quyết định mở cửa một số băng tần của
giải phóng không dây, cho phép người sử dụng chúng mà không cần giấy phép của
Chính phủ. Đây là bước mở đầu cho cách mạng không dây ra đời và phát triển rất
nhanh.
- Ban đầu các nhà cung cấp các thiết bị không dây dùng cho mạng LAN như Proxim và
Symbol ở Mĩ đều phát triển các sản phẩm độc quyền, không tương thích với các sản
phẩm của các công ty khác. Điều này dẫn đến sự cần thiết phải xác lập 1 chuẩn không
dây chung.
- Năm 1997, một tiểu ban đã tiến hành thương lượng hợp nhất các chuẩn và đã ban hành

hàng triệu cuộc gọi. Trong chưa đầy 10 năm tới, Web sẽ đem lại cho công chúng một
công cụ thông tin trực tiếp với nguy cơ trở thành “tiệm cafe để đến tán phét” bằng nhiều
thứ tiếng, là nơi những kẻ ba hoa, lắm lời đến thả mình trong những giấc mơ thảo luận
không dứt về những chuyện không đâu.
- Trong tương lai Web trở thành một thư viện khổng lồ của thế giới, và trên những giá
sách của thư viện này mỗi người sử dụng Internet đều có thể đặt lên đấy những tư liệu
muốn giới thiệu cho mọi người biết hoặc để thương mại hóa, cũng như tham khảo mọi
cuốn sách đã được ghi nhớ vào bộ nhớ.
- Ngày nay, Internet đang có cuộc cách mạng chủ yếu trong xã hội truyền thông cả về mặt
quảng cáo lẫn thông tin. Cuộc cạnh tranh đó chắc chắn sẽ diễn ra phức tạp, song, quan
trọng hơn cả là dù diễn biến như thế nào thì công chúng là người được “hưởng thụ”
thành quả công nghệ hiện đại này đầu tiên.
Học viên: Đồng Xuân Chấn – CH1201091 Trang 19
Môn học: Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Tin Học GVHD: Giáo Sư – TSKH Hoàng Kiếm
V. Ứng dụng của phương pháp SCAMPER vào quá trình hình thành và phát triển của
Internet
1. Phép thay thế
- Theo như quá trình phát triển của Internet để được kết quả như ngày nay là cả 1 quá
trình loại bỏ và thay thế các phiên bản tiền thân bằng các phiên bản sau này có các đặc
điểm và tính năng ưu việt hơn.
• Năm 1969 Bộ Quốc phòng Mĩ xây dựng dự án ARPANET (Advanced Research
Projects Agency- ARPA).
• Năm 1978, Tom Truscott và Steve Bellovin thiết lập mạng USENET dành cho những
người sử dụng UNIX.
• Năm 1981 ra đời mạng CSNET(Computer Science NETwork) cung cấp các dịch vụ
mạng cho các nhà khoa học ở trường đại học mà không cần truy cập vào mạng
ARPANET.
• Năm 1986 mạng NSFnet chính thức được thiết lập, kết nối năm trung tâm máy
tính.Đây cũng là năm có sự bùng nổ kết nối, đặc biệt là ở các trường đại học.
• Sau đó, vì những tính năng khá tốt của NSFNET nó trở thành mạng chính liên kết

trên internet vì người ta có thể truy cập, trao đổi thông tin 1 cách dể dàng, nhanh
chóng.
• Cũng từ đây cùng với sự phát triển “chóng mặt” của mạng Internet, ngôn ngữ đánh
dấu siêu văn bản HTML, giao thức truyền siêu văn bản HTTP, báo chí lúc bấy giờ
không thể đứng ngoài cuộc. Kết quả là những từ báo mạng điện tử ra đời theo xu
thế phát triển của mọi thời đại.
4. Phép điều chỉnh
- Phép điều chỉnh thể hiện qua sự hình thành và phân loại hệ thống tên miền trên
Internet:
• Năm 1984 khi giới nghiên cứu đưa ra “hệ thống tên miền” cho phép người sử dụng
tìm kiếm các máy vi tính khác theo tên chứ không phải theo số thì số máy chủ trên
Internet đã tăng lên con số chóng mặt: từ 1987 có 10.000 máy chủ.
• Hai năm sau có tới 100.000 máy chủ.
• Hệ thống các tên miền DNS (Domain Name System)được chia thành sáu loại chính:
edu, gov, mil, com, org, net.
- Phép điều chỉnh thể hiện qua sự phát triển của các trang báo mạng trên Internet:
• Cuối năm 1996, trên toàn thế giới chỉ có khoảng trên 1.400 đầu báo điện tử
• Đến năm 2004 con số này đã tăng lên gấp khoảng 10 lần, trên 14.000 đầu báo.
Học viên: Đồng Xuân Chấn – CH1201091 Trang 21
Môn học: Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Tin Học GVHD: Giáo Sư – TSKH Hoàng Kiếm
• Số đầu báo điện tử tăng tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển và phổ cập internet cũng
như số lượng độc giả.
• Theo một số liệu thống kê không chính thức, độc giả báo điện tử ở các nước như
Mỹ, Anh, Đức, Nhật… hiện đã chiếm tới 1/4 tổng dân số của những nước này.
5. Phép sử dụng vào việc khác
- Phép sử dụng vào việc khác được thể hiện qua mục đích sử dụng của mạng Internet
trong các thời kỳ trong quá trình phát triển:
• Ban đầu mục đích sử dụng được giới hạn trong phạm vi quốc gia chỉ là chia sẻ
thông tin giữa các trung tâm nghiên cứu được chính phủ bảo trợ.
• Mục đích sử dụng được mở rộng thêm đối tượng khi năm 1981 mạng CSNET cung

một công nghệ cốt lõi của Internet. Nó là phiên bản mới nhất của chuẩn HTML và
hiện tại vẫn còn đang trong giai đoán phát triển.
• “Web” và “Online” là hai khái niệm luôn song hành với nhau. Nhưng với HTML5 “làm
việc Offline và lưu trữ” có thể sẽ thành hiện thực. HTML5 và các đặc tả liên quan
giới thiệu 1 số các tính năng để làm cho các ứng dụng web chế độ ngoại tuyến thực
sự. Các tính năng này có thể được sử dụng để nâng cao hiệu năng của ứng dụng
web bằng cách lưu trữ dữ liệu vào bộ đệm (cache) hoặc làm do dữ liệu luôn luôn
được duy trì ổn định giữa các phiên làm việc của người dùng và khi thực hiện tải lại
hay khôi phục lại các trang web.
• Theo suy nghĩ thông thường, khi một lập trình viên nghĩ tới việc lưu trữ bất cứ thứ gì
liên quan đến người dùng, họ sẽ ngay lập tức tính đến chuyện tải lên máy chủ.
HTML5 thay đổi cách suy nghĩ đó, các công nghệ giờ đây đã cho phép ứng dụng
lưu trữ dữ liệu xuống các thiết bị client. Và các dữ liệu này có thể được đồng bộ lên
máy chủ, hoặc mãi mãi ở phía client: điều đó phụ thuộc vào quyết định của các lập
trình viên.
VI. Kết luận
- Phương pháp sáng tạo SCAMPER là 1 phương pháp mới mẻ, nó rất dễ hiểu, dễ nhớ
cũng như dễ sử dụng hơn các phương pháp khác. Tuy đơn giản nhưng đầy đủ, ngắn
gọn nhưng thống nhất. Bằng cách sử dụng phương pháp SCAMPER, bạn sẽ có khả
năng nhận biết ra các sản phẩm mới cũng như hướng đi mới cho vấn đề. Tất nhiên,
trong các ý tưởng này còn nhiều cái không khả thi và không phù hợp với trang thiết bị
bạn đang có nhưng chắc chắn bạn sẽ chọn ra được 1 vài ý kiến. Đó là những ý tưởng
có thể trực tiếp giúp bạn giải quyết vấn đề hoặc là điểm khởi đầu hoàn hảo cho cuộc
bàn luận để cho ra 1 sản phẩm mới tiếp theo.
Học viên: Đồng Xuân Chấn – CH1201091 Trang 23
Môn học: Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Tin Học GVHD: Giáo Sư – TSKH Hoàng Kiếm
VII. Tài liệu tham khảo
- [1] Slide bài giảng: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG TIN HỌC -
GS.TSKH. Hoàng Kiếm.
- [2] Trang http://nhabaotre28b.wordpress.com/2009/10/12/s%E1%BB%B1-ra-d%E1%BB


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status