Nghiên cứu thị trường bán lẻ ở Việt Nam - Pdf 28

GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
LỜI MỞ ĐẦU
-----o0o-----
Trong những năm gần đây thị trường bán lẻ ở Việt Nam luôn được xếp vào top những
thị trường tiềm năng nhất thế giới, thị trường bán lẻ nội địa vốn đã sáng giá lại càng trở nên
hấp dẫn hơn. Các thương hiệu bán lẻ quốc tế xuất hiện ngày càng nhiều, đồng thời các kế
hoạch mở rộng địa bàn hoạt động của các nhà thương mại trong và ngoài nước liên tiếp được
công bố. Điều này càng tạo sự phân hóa giữa các hình thức phân phối hàng hóa: truyền thống
và hiện đại.
Sau hơn một thập kỷ phát triển, bất chấp tỷ trọng trong tổng doanh thu bán lẻ còn thấp,
siêu thị vẫn là nỗi ám ảnh đối với các chợ truyền thống, nhất là ở khu vực đô thị, vì tốc độ
phát triển của chúng. Trên thực tế, các siêu thị đang ngày càng chăm chút hơn về sản phẩm,
dịch vụ, ngay cả với khâu bán thực phẩm tươi sống. Điều này cho thấy siêu thị không chỉ
mong muốn thu hút người đi mua sắm hàng tuần mà còn cả những người đi chợ hàng ngày.
Trong khi đó hoạt động kinh doanh ở chợ đang ngày càng chịu một sức ép nặng nề
hơn, tuy sức mua của người tiêu dùng tăng nhưng doanh số của kênh phân phối ở chợ lại
giảm mạnh. Một vấn đề lớn cần đặt ra là mạng lưới chợ từ nhiều năm qua đã phát triển khá
sâu rộng và văn hóa chợ đã trở nên hết sức gần gũi, ăn sâu vào đời sống văn hóa, tập quán
tiêu dùng của người dân, chưa kể nếu biết khai thác, chợ còn là “khẩu vị lạ, độc đáo” đối với
khách du lịch quốc tế.
Vậy trong cuộc chiến giữa chợ truyền thống và siêu thị hiện đại, ai sẽ dành phần
thắng? Phải chăng chợ truyền thống sẽ bị diệt vong hoàn toàn? Để trả lời những câu hỏi trên
nhóm đã đi vào nghiên cứu thị trường bán lẻ ở Việt Nam nói chung, ở TP HCM nói riêng
thông qua hai định chế bán lẻ cơ bản là siêu thị và chợ truyền thống
Vì thời gian có hạn và tầm hiểu biết còn hạn chế, bài nghiên cứu không tránh phải
những sai sót, rất mong nhận được sự góp ý của Th.S Phan Thanh Sơn để bài nghiên cứu
hoàn thiện hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
3
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn

doanh số thu mua từng mặt hàng trong các hệ thống phân phối bán lẻ giúp nhà sản xuất nắm
bắt được sở thích, thị hiếu khách hàng của mình. Từ đó giúp họ đưa ra các chiến lược sản
phẩm sao cho phù hợp thị trường.
Thông qua hệ thống bán lẻ hàng hóa, mà người tiêu dùng được tiếp cận trực tiếp với sản
phẩm, được tận tay sờ, chạm vào sản phẩm nên dễ dàng bỏ tiền để có sản phẩm đó. Nếu nhà
4
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
sản xuất không có hệ thống bán lẻ, chỉ thông qua quảng cáo thì người tiêu dùng khó chấp
nhận sản phẩm của họ. Có thể nói bán lẻ đã giúp cho nhu cầu thị trường được thỏa mãn.
1.2.3. Chia lẻ.
Là việc nhà bán buôn phải thông qua nhà bán lẻ để bán hàng hoá và dịch vụ của minh.
Do đó từ một khối lượng hàng hoá ban đầu mà nhà bán buốn có thể chia lẻ ra cho nhiều nhà
bán lẻ để họ mang đến cho người tiêu dùng. Như vậy các nhà bán lẻ sẽ thông qua khu vực bán
hàng của mình mà cung cấp sản phẩm một lượng sản phẩm chứ không bán lớn như nhà bán
buôn hay nhà sản xuất.
1.2.4. Dự trữ.
Có những mặt hàng khi sản xuất ra thì kho dự trữ hàng hóa là điều làm cho các nhà sản
xuất lo lắng nhất. Như một công ty sản xuất xe hơi hàng đầu ở Nhật, bình quân một ngày cho
xuất xưởng 1000 chiếc xe hơi, họ sẽ làm gì với sản lượng hàng hóa khổng lồ của mình nếu
không có hệ thống bán lẻ cả nước “ giữ hộ”.
Ngoài ra, bán lẻ là hệ thống dự trữ tài chính của các nhà sản xuất. Bởi hiện nay không
phải lúc nào các nhà phân phối cũng giao tiền ngay sau khi nhận hàng từ nhà sản xuất, mà
phải sau một thời gian bán hàng, luân chuyển tiền, thì đồng vốn mới quay trở lại vào tay nhà
sản xuất.
1.3. Các định chế bán lẻ ở Việt Nam.
1.3.1. Specialty store – Cửa hàng chuyên doanh.
Cửa hàng chuyên kinh doanh là một loại cửa hàng chuyên kinh doanh mộtnhóm mặt
hàng nhấtđịnh, theo hai hướng chuyên doanh hẹp (là loại cửa hàng chỉ bán một nhóm sản
phẩm của một nhà cung cấp, như cửa hàng chuyên bán sữa củaVinamilk) hay chuyên doanh

hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển. Sự phát triển không chỉ dừng lại
ở 1 cửa hàng, ở 1 khu vực mà nó đã phát triển lên thành các chuỗi ở nhiều khu vực, nhiều
quốc gia trên thế giới như David Jones (Úc), Marcy (Mỹ), Sears(Mỹ), Pillars (Mỹ),...
1.3.3. Chain store – Chuỗi cửa hàng.
Là một hệ thống các cửa hàng giống nhau về mặt hàng hóa kinh doanh (90% hàng hóa
buôn bán là giống nhau, còn khoảng 10% là các mặt hàng khác do mỗi cửa hàng tự quyết định
và về sở hữu, quản lý thì thống nhất từ một công ty mẹ. Cũng có một khái niệm khác định
nghĩa chuỗi cửa hàng như là một chuỗi bán lẻ gồm hệ thống các cửa hàng bán lẻ giống nhau
( về hình thức, cơ cấu tổ chức,quản lý…) và thuộc quyền sở hữu của cùng một công ty mẹ,
hoặc thuộc sở hữu của một cá nhân hay công ty khác hoạt động dưới hình thức nhượng
quyền(franchising) hay hợp đồng (contract)với công ty mẹ.
Với số lượng cửa hàng mà nhỏ hơn 10 được xem là chuỗi nhỏ, lớn hơn 10 được xem là
chuỗi lớn. Một hệ thống các cửa hàng giống nhau từ hàng hóa đến cách bài trí sẽ rất dễ đi vào
lòng người tiêu dùng.
Lợi thế của chuỗi cửa hàng:
- Lợi thế quy mô: càng bán nhiều thì càng giảm được chi phí, gồm : phí vận chuyển
giảm, discount lớn, được hưởng các khoản xúc tiến (promotion) từ nhà sản xuất.
- Hưởng được lợi từ một chính sách Marketing chung của công ty mẹ.
6
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
- Phân tán được rủi ro ở các thị trường khác nhau.
- Hình ảnh cửa hàng được người tiêu dùng chấp nhận.
- Sức mạnh của cửa hàng đối với các đối tác có khuynh hướng tăng lên
Các hình thức của chuỗi cửa hàng:
- Business chains: Là hệ thống các cơ sở (địa điểm) kinh doanh giống nhau, cung cấp
cùng một loại sản phẩm hoặc dịch vụ, sự thống nhất về quản lý, nguồn cung cấp, chương
trình đào tạo, nhân sự. Chúng có thể là một phần của công ty đơn nhất, hoặc hoạt động dưới
dạng nhượng quyền (franchising ).
- Restaurant chains: Là một sự tập hợp của các nhà hàng có mối liên quan, thường thì

Việt Nam đã có xu hướng chuyển từ mua sắm tại chợ truyền thống sang mua sắm tại siêu thị.
Ở Tp.Hồ Chí Minh và Hà Nội hiện nay có trên 80% hộ gia đình có thói quen đi chợ hảng
ngày. Chỉ hơn 10% hộ thích đi siêu thị thay cho đi chợ hàng tuần nhưng nếu chỉ đi 1 lần/tháng
thì con số tăng lên tới hơn 60%. Một số siêu thị mà người dân đến như Maximak, Big C,
Metro, Citimart,… mỗi siêu thị có những đặc trưng và ưu điểm riêng.
1.3.5. Dollar Store – Cửa hàng một đô.
-Khái niệm: Cửa hàng một đô là loại cửa hàng chỉ bán những món hàng có giá trị thấp
từ một USD trở xuống.
- Sản phẩm kinh doanh (thường thấy trong các cửa hàng một đô).
* Dụng cụ làm sạch: bọt biển, bình xịt, giẻ lau, dụng cụ hốt rác…
* Dụng cụ nhỏ: tua-vít, cờ-lê,đèn pin, móc khóa, dây thừng.
* Dụng cụ nhà bếp: dao, đồ bóc vỏ, chén, đĩa….
* Dụng cụvăn phòng nhỏ: bút, giấy, kẹp giấy, tẩy..
* Dụng cụ trang trí trong các ngày lễ:đồ trang trí lễ giáng sinh, trứg phục sinh…
* Dụng cụ làm vườn; kéo tỉa hoa….
* Và nhiều mặt hàng thông dụng có giá trị nhỏ khác như xà bông, đèn pin...
- Khách hàng:
* Khách hàng của cửa hàng một đô là mọi thành phần trong xã hội, nhưng đa phần
họ có thu nhập không cao có thể cho rằng là thấp.
* Họ cũng chỉ mua sản phẩm khi họ cần, hoặc sản phẩm hết bất ngờ, không có yếu
tố mua nhiều để giảm giá hay mua dự trữ.
* Độ tuổi của họ cũng rất khác biệt ( ví dụ một em nhỏ thì có thể mua tập vở, một người
nội trợ thì có thể mua chén đĩa…)
* Họ có thể ở thành thị, nhưng thường cửa hàng loại này phù hợp với người dân vùng
nông thôn hơn.
8
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
1.3.6. Hypermarket – Siêu siêu thị.
-Khái niệm: Hypermarket là sự kết hợp của Siêu thị (supermarket) và cửa hàng bách

định, theo đó nhu cầu tiêu dùng cũng ngày một tăng lên. Năm ngoái, tăng trưởng GDP là
8,4% và tiêu dùng thông qua thương mại hơn 45 tỷ USD. Số liệu thống kê gần đây nhất cho
thấy, tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2008 ước
9
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
tính đạt 447,3 nghìn tỷ đồng, tăng 30% so với cùng kỳ năm trước. Qua đó cho thấy, tiềm năng
phát triển hệ thống phân phối ở nước ta là rất lớn.
Mặt khác sức hấp dẫn của thị trường bán lẻ VN còn do áp lực cạnh tranh giữa các hệ
thống bán lẻ chưa nhiều và VN có đến 65% dân số là người tiêu dùng trẻ, chi tiêu mạnh tay.
Tầng lớp trung lưu với thu nhập 250USD/tháng trở lên đang tăng nhanh. Riêng tầng lớp trung
lưu thu nhập trên 500USD/tháng chiếm trên 1/3 số hộ gia đình ở thành thị. Chính vì thế, sức
hút của thị trường bán lẻ VN tăng nhanh khi năm 2007, VN xếp hạng 2 trên thế giới sau Ấn
Độ, nhưng tháng 6.2008 - theo xếp hạng của Cty tư vấn Mỹ A.T.Keaney (Tổ chức Nghiên
cứu thị trường hàng đầu tại Hoa Kỳ), về chỉ số phát triển kinh doanh bán lẻ toàn cầu thì Việt
Nam đã đứng số 1, được coi là thị trường đầu tư bán lẻ hấp dẫn nhất trong số 30 nước thuộc
nhóm thị trường đang nổi lên. Trong danh sách Top 10 thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất, sau
Việt Nam là Ấn Độ, giữ vị trí thứ ba là Nga và thứ tư là Trung Quốc; tiếp đến là Ai Cập,
Morocco, Ả-rập Saudi, Chile, Brazil và Thổ Nhĩ Kỳ. Trong các nước ASEAN, Malaysia đứng
thứ 13, Indonesia ở vị trí 15, Thái Lan là 24 và Philippines xếp thứ 26.
Theo các chuyên gia của A.T. Kearney, Việt Nam đạt được bước tiến ấn tượng trong
năm nay là nhờ kinh tế tăng trưởng mạnh, thể chế chính sách đang cải tiến theo hướng thân
thiện với nhà đầu tư nước ngoài và đặc biệt là nhu cầu của người tiêu dùng về những mô hình
bán lẻ hiện đại.
Theo Mike Moriarty, trưởng bộ phận nghiên cứu về tiêu dùng và bán lẻ của A.T.
Kearney, quy mô thị trường bản lẻ ở Việt Nam còn nhỏ, song vẫn rất hấp dẫn bởi áp lực cạnh
tranh chưa lớn, trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt trên dưới 8%. Bên cạnh đó, người tiêu
dùng Việt Nam thuộc hàng trẻ nhất ở châu Á và ngày càng mạnh tay chi tiêu. A.T. Kearney
bắt đầu công bố GRDI từ năm 2001, trong đó đánh giá về độ hấp dẫn của thị trường bán lẻ ở
những nền kinh tế mới nổi, dựa trên 25 yếu tố khách nhau, bao gồm cả rủi ro kinh tế, chính

nhập và tiêu dùng tăng lên; người tiêu dùng Việt Nam trong thời đại hội nhập;
đa dạng các loại hình bán lẻ hiện đại (từ siêu thị, đại siêu thị, chuỗi cửa hàng
chuyên doanh, tiện lợi… đến trung tâm thương mại tổng hợp) vv …
 Sức sống và sự thu hút của bán lẻ truyền thống ở Việt Nam: nét văn hoá riêng,
phong cách “cổ điển”, sản phẩm tươi mới và giá cả cạnh tranh, người tiêu dùng
ở khu vực nông thôn vv …
 Hội nhập kinh tế quốc tế: Ứng dụng công nghệ thông tin; Thương mại điện tử;
Các phương thức bán hàng qua điện thoại, qua mạng…
2.1.2. Thách thức của thị trường bán lẻ Việt Nam
Bà Vũ Thị Nga, Trưởng ban Bảo vệ người tiêu dùng, cho biết: “Nhiều doanh nghiệp
kinh doanh hàng nhập lậu, không rõ nguồn gốc nên không thực hiện nghĩa vụ bảo hành. Một
số doanh nghiệp lại thực hiện nghĩa vụ bảo hành không đầy đủ như, vi phạm thời gian sửa
chữa, bắt người tiêu dùng phải chịu chi phí sửa chữa, vận chuyển…”
Thị trường kinh doanh bán lẻ dù đang phát triển nhanh chóng nhưng phần lớn vẫn chỉ
tập trung ở khu vực thành thị. Loại hình kinh doanh bán lẻ hiện đại vẫn chưa đến được nhiều
với người tiêu dùng Việt Nam.
Tác dụng hỗ trợ nông dân, các cơ sở sản xuất và các doanh nghiệp sản xuất lớn thay
đổi cung cách sản xuất theo hướng bài bản chỉ là một phần nhỏ, mà bên cạnh đó, việc các hệ
thống siêu thị của nước ngoài đang và sẽ “làm mưa làm gió” trên thị trường tiêu dùng trong
nước là một điều hết sức nguy hại.
Thay mặt Hiệp hội bán lẻ Việt Nam, bà Loan khẳng định: “Trong thời gian tới, phân
phối bán lẻ truyền thống sẽ thu dần phạm vi hoạt động, vẫn tồn tại chợ truyền thống, cửa hiệu
tạp hóa, nhưng số lượng sẽ ít đi. Đồng thời phát triển các loại hình kinh doanh mới cùng với
sự phát triển của công nghệ thông tin".
11
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
Một vài chuyên gia đang dự đoán rằng suy thoái kinh tế sẽ “nghèo hóa” hàng triệu
người Việt Nam những người vừa thoát khỏi đói nghèo gần đây nhờ vào quá trình phát triển
và đô thị hóa nhanh chóng.

Thương mại là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu được thảo luận tại cuộc
họp của các quan chức chính phủ các nước G20 tại London vào ngày 2.3 vừa qua. Ngài
Lamy cảnh báo rằng việc sử dụng biện pháp bảo hộ đã tăng lên, với những hậu quả nguy
hiểm: “ hàng nghìn việc làm liên quan đến thương mại đã bị mất. Chính phủ phải tránh để
đưa tình trạng này trở nên tồi tệ hơn khi trở lại với phương pháp bảo hộ, một phương pháp
không thật sự bảo vệ được quốc gia nào và đe dọa nghiêm trọng hơn tới việc làm”
12
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
2.2. Thực tế thị trường bán lẻ Việt Nam
2.2.1. Nhận định về các doanh nghiệp bán lẻ trong nước
Việt Nam mới chỉ có một số đơn vị có phương thức kinh doanh và phân phối tương
đối chuyên nghiệp như: Tổng công ty Thương mại Sài Gòn Satra với 40 doanh nghiệp (DN)
trực thuộc, Tổng công ty thương mại Hà Nội, chuỗi siêu thị Citimax, Fivimart, hệ thống Maxi
Mart, CoopMart...
Thực tế cho thấy các đơn vị bán lẻ trong nước còn chưa nhiều, lại thiếu tính chuyên
nghiệp và vốn ít; hệ thống hậu cần như kho bãi, xe chuyên dùng, nguồn hàng rời rạc, thiếu
đồng bộ và chưa đạt chuẩn; hạ tầng giao thông kém...Hầu hết các nhà phân phối bán lẻ đều ở
quy mô nhỏ, yếu về năng lực, hạn chế về mặt hàng phục vụ, nguồn nhân lực chưa được đào
tạo cơ bản...Vì thế, việc mở thị trường bán lẻ cho các doanh nghiệp nước ngoài với trình độ
văn minh thương mại cao là một thách thức rất lớn để tồn tại và phát triển.
Bên cạnh đó, Chính phủ hầu như chưa phát huy được vai trò của mình trong việc định
hướng cũng như giúp đỡ các doanh nghiệp trong nước. Điển hình là việc cấp giấy phép hoạt
động cho các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài nhìn lại ta sẽ thấy hầu hết những siêu thị, trung
tâm thương mại nước ngoài đều chọn được những vị trí đẹp nhất, gần vị trí trung tâm, nơi tập
trung dân cư, giao thông thuận tiện, mặt bằng rộng.
Khó khăn đối với doanh nghiệp và hộ kinh doanh Việt Nam đó là năng lực cạnh tranh
của từng doanh nghiệp yếu vì đại bộ phận các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, trình độ quản lý
lạc hậu, phương thức kinh doanh chưa tiên tiến, cơ sở hạ tầng kinh doanh chưa hiện đại, chiến
lược kinh doanh chưa được quan tâm đúng mức.

thế giới. Cùng với sự thiếu thông thạo là sự thiếu hiểu biết về thông tin của các nhà phân phối
và bán lẻ nước ngoài. So với các đồng nghiệp nước ngoài, các nhà phân phối và bán lẻ Việt
Nam không có tiềm lực tài chính đủ mạnh vì chỉ tham gia phân phối và bán lẻ tại thị trường
Việt Nam. Mặc khác, họ lại hoạt động độc lập và thiếu sự liên kết do vậy không huy động
được nguồn tài chính đủ mạnh để cạnh tranh. Cuối cùng đó là thiếu kinh nghiệm trong quản
lý phân phối và bán lẻ cũng như trình độ nhân lực phục vụ cho ngành phân phối và bán lẻ còn
yếu kém.
Nhìn bề ngoài ta có thể nhận thấy sự bùng nổ của các nhà phân phối và bán lẻ Việt
Nam với sự gia tăng với tốc độ chóng mặt về số lượng các cửa hiệu (stores) của CoopMart,
Vinatex, Hapro, G7, Citimart, v.v. nhằm chiếm lĩnh những mặt bằng tốt chuẩn bị đón đầu với
làn sóng của các nhà phân phối và bán lẻ nước ngoài tuy nhiên sẽ là chưa đủ và không hiệu
quả nếu các doanh nghiệp này không hoàn thiện thực chất các yếu tố 3E kể trên.
Nếu không nhìn vào tên, có lẽ chẳng ai nhận ra sự khác biệt giữa các siêu thị Co.op
Mart, Big C hoặc Citimart…Nhỏ hơn một chút là các hệ thống: Hapro, Maximark… Tuy
nhiên, những hệ thống này cũng chưa cho thấy lý do để thuyết phục khách hàng đến với họ
mà không phải là những siêu thị khác. Dường như những siêu thị của Việt Nam chỉ đơn thuần
tạo nên nơi mua sắm có gắn máy lạnh, nhiều hàng hoá và… phải xếp hàng khi thanh toán.
Thấp hơn một chút nữa là các cửa hàng tiện dụng. Tại Việt Nam, chúng ta biết đến các hệ
thống như Shop & Go, Fresh Mart (Tập đoàn CP, Thái Lan), G7 Mart… Ngoài ra, tại thị
trường Việt Nam tồn tại những mô hình bán lẻ theo kiểu chuyên biệt: Nguyễn Kim, Best
Caring, Viễn Thông A…Đây có thể là một xu hướng khả dĩ để đương đầu với sự cạnh tranh
khốc liệt. Bởi chính độ chuyên biệt đã xác định rõ nhóm khách hàng. Chẳng hạn, tới Nguyễn
Kim nghĩa là khách hàng muốn mua hàng điện máy gia dụng. Sự chuyên biệt hoá sẽ góp phần
hình thành chân dung khách hàng mục tiêu. Tuy nhiên, dường như sự khác biệt giữa các đối
thủ cùng phân khúc này cũng thật sự chưa rõ ràng. Một loại hình nữa là: trung tâm thương
mại. Với nhữngn tên tuổi: Diamond Plaza, Zen Plaza, Parkson… tập trung vào nhóm khách
hàng cao cấp ở những đô thị lớn. Chính nhóm này sẽ cạnh tranh quyết liệt với nhau để tồn tại.
Đây là nhóm có đội quản lý chuyên nghiệp, chất lượng, dịch vụ và thương hiệu lớn. Bản thân
14
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn

theo khảo sát của IBM, các hệ thống bán lẻ lớn như Metro CashCary, Big C, Parkson… đã
vận hành các giải pháp công nghệ tiến tiến dành cho ngành bán lẻ, còn các DN VN hiện chỉ
có một số tiến hành dùng thí điểm. Riêng đối với việc gia nhập kinh doanh trong thế giới ảo
thì vẫn còn xa lạ tại thị trường VN.
“Chúng tôi cho rằng đây là thời điểm để DN bán lẻ VN đánh giá lại thị trường, xác
định rõ đối thủ cạnh tranh của mình là ai để kịp thời chọn các giải pháp kinh doanh theo xu
hướng bán lẻ hiện đại” - ông Andrew Ma nói.
15
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
“Đây là cơ hội đồng thời cũng là thách thức mới của DN, bởi đối thủ cạnh tranh bây
giờ có thể là bất kỳ ai, ở bất cứ nơi đâu. Khách hàng ngày càng có nhiều thông tin, đòi hỏi cao
hơn và có sức mạnh lớn hơn” - ông Andrew Ma cho biết thêm.
Bên cạnh đó, IBM cho rằng sự xuất hiện các chuỗi cửa hàng chuyên biệt và sự có mặt
của các tập đoàn bán lẻ toàn cầu tại thị trường VN cũng góp phần thay đổi diện mạo thị
trường. Các cửa hàng VN muốn cạnh tranh buộc phải cải tiến dây chuyền cung ứng, cải tiến
qui trình kinh doanh để nâng cao năng suất, hiệu quả.
DN bán lẻ nước ngoài có tính chuyên nghiệp rất cao. Họ sử dụng công nghệ hiện đại,
có tiềm lực về tài chính mạnh, có hệ thống hỗ trợ tốt...
2.2.2. Thuận lợi và khó khăn của nghành bán lẻ Việt Nam.
Thuận lợi.
Hiện kênh phân phối truyền thống đang chiếm khoảng trên 85% lưu chuyển hàng hóa
bán lẻ.
Về dài hạn, tỷ lệ này giảm dần nhưng về tuyệt đối sẽ tăng lên. Đây là dư địa cho các
doanh nghiệp, hộ kinh doanh Việt Nam vì các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chủ
yếu vào khai thác thị trường thông qua kênh phân phối hiện đại (trung tâm thương mại, đại
siêu thị, siêu thị…). Đặc điểm của phân phối (nhất là bán lẻ) là tính phân tán cao và gắn với
địa điểm bán lẻ cụ thể, với địa bàn dân cư cụ thể.
Với mạng lưới các điểm bán lẻ khá dày đặc, phân bố khắp nơi đang trở thành một lợi
thế cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh Việt Nam. Hơn ai hết, các doanh nghiệp và hộ kinh

lẻ, người tiêu dùng Việt Nam đang là tâm điểm của thế giới kinh doanh hiện nay. Nhiều nhà
đầu tư đang nhắm đến Việt Nam…
Ngày 01.01.2009 là thời điểm mà Việt Nam mở cửa thị trường bán lẻ theo lộ trình cam
kết khi gia nhập WTO của Việt Nam. Dư luận "đồn đoán" nhiều về số phận của các doanh
nghiệp phân phối, bán lẻ trong nước sẽ bị ảnh hưởng, khi các doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài được tham gia vào lĩnh vực này. Tuy nhiên, theo phân tích của các chuyên gia thương
mại trong và ngoài nước cho thấy sẽ không có biến động lớn trên thị trường ngay sau ngày
mở cửa.
Các doanh nghiệp phân phối, bán lẻ trong nước nói chung, có lợi thế rất lớn về "sân
nhà" với sự thông thuộc, am hiểu một cách sâu sắc văn hóa, thói quen tiêu dùng của người địa
phương, trong khi "nhập gia tùy tục" không phải là chuyện đơn giản mà những "vị khách lạ"
có thể làm tốt trong ngày một ngày hai; ngoài ra các doanh nghiệp phân phối, bán lẻ Việt
Nam còn rất nhiều không gian để phát triển khi mà các đại gia bán lẻ nước ngoài chỉ tập trung
vào những tỉnh, thành phố lớn. Vì vậy, nếu biết tận dụng thế mạnh này, liên tục tiếp cận, nắm
bắt nhu cầu ngày càng cao và khắt khe của khách hàng, tiến hành đồng bộ các giải pháp để
trang bị những điều kiện cần thiết có thể thỏa mãn được những nhu cầu đó, thì các doanh
nghiệp phân phối, bán lẻ Việt Nam hoàn toàn có cơ hội và khả năng thích ứng.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phân phối, bán lẻ Việt Nam có lợi thế vượt trội khi
phát triển mô hình cửa hàng tiện lợi; còn các doanh nghiệp nước ngoài khó có khả năng thao
túng phân khúc thị trường này do có nhiều hạn chế từ hiểu biết về tập quán, về thị hiếu, thu
nhập đến thời gian đầu tư và thu hồi vốn, địa điểm bán lẻ,... trong khi các doanh nghiệp phân
phối, bán lẻ Việt Nam lại rất dễ thực hiện thông qua việc cải tạo, mua đứt, thuê hoặc sáp nhập
cửa hàng, kể cả các bà buôn thúng, bán mẹt, chỉ cần cải tạo các cơ sở đó thành điểm bán lẻ
tiện lợi đã có mạng lưới bán lẻ rộng khắp, do đó tương lai các doanh nghiệp phân phối, bán lẻ
Việt Nam có nhiều thuận lợi để tồn tại và phát triển.
17
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
Kết quả khảo sát người tiêu dùng tại Hà Nội và TPHCM của AGROINFO cho thấy,
các nhà bán lẻ trong nước đang đáp ứng tốt hơn sự kỳ vọng của người tiêu dùng trong một số

thị, khuyến mãi, quy cách bao bì, đóng gói... Thậm chí họ có thể tư vấn lại cho nhà cung cấp
nên sản xuất hàng như thế nào, tiếp thị, quảng bá ra sao... Tuy nhiên, ở khâu này, dường như
các chuyên viên mua hàng của các nhà bán lẻ nước ngoài tỏ ra lấn lướt. Giám đốc một doanh
nghiệp dệt may kể rằng ông chào hàng ở Metro, bộ phận mua hàng ở đây trình bày cho ông
xem tất cả những quy chuẩn của ngành hàng, mẫu mã, màu sắc, kích cỡ, phần trăm cho tiếp
thị quảng cáo, những điều khoản hỗ trợ của bên mua và những yêu cầu với nhà cung cấp...
Tất cả được vi tính hóa, cập nhật và trình bày rõ ràng, minh bạch cho nhà cung cấp tham
18
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
khảo. Trong khi đó, khi ông làm việc với các siêu thị Việt Nam, quá trình thương lượng diễn
ra rất sơ sài. Cho nên khi bộ phận mua hàng từ chối bán hàng của doanh nghiệp, ông hoàn
toàn cảm thấy không thể nào “tâm phục, khẩu phục”.
Từ ba điểm yếu lớn nhất này của hệ thống bán lẻ Việt Nam, có thể thấy trong một
tương lai không xa, việc doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam bị chi phối và mất dần thị phần về tay
các nhà bán lẻ nước ngoài là điều khó tránh khỏi.
Sự đổ bộ của các doanh nghiệp nước ngoài:
Tập đoàn Best Denki, một trong 5 “đại gia” bán lẻ điện máy lớn nhất Nhật Bản đã
“tăm tia” thị trường Việt Nam. Best Denki hiện sở hữu 570 chuỗi siêu thị tại Nhật và 40 siêu
thị ở Singapore, Malaysia, Hồng Kông (Trung Quốc), Indonesia, ...Với kinh nghiệm 55 năm
thành lập và gần hai năm hoạt động theo phương thức nhượng quyền thương mại với một DN
Việt Nam, Best Denki đã sẵn sàng liên doanh để trực tiếp tham gia thị trường này. Ông C.J.
Raij, Giám đốc bộ phận kinh doanh tiếp thị và phát triển thị trường nước ngoài của Best
Denki cho biết, với mong muốn trực tiếp đầu tư và được tham gia kinh doanh tại thị trường
bán lẻ điện máy ở Việt Nam, Best Denki và các đối tác vừa kết thúc giai đoạn đàm phán và
đang hoàn tất thủ tục, chuẩn bị thành lập liên doanh trong lĩnh vực này.
Ngoài ra, không thể không kể đến những tên tuổi đã có mặt và chiếm thị phần đáng kể
ở thị trường bán lẻ Việt Nam như: South Asia Investments Pte (Singapore), hệ thống siêu thị
Big C (Pháp), Metro Cash & Carry (Đức), Zen Plaza (Nhật Bản), Diamond Plaza (Hàn Quốc),
Parkson (Tập đoàn Lion, Malaysia),... Các tập đoàn này không chỉ tập trung tại các thành phố

đang, ân cần, đầy tình người, đượm phong cách VN,.. Thương hiệu Co.opMart đã trở thành
một trong những thương hiệu có tên tuổi trên thị trường hệ thống bán lẻ bởi việc luôn cố gắng
hoàn thiện để đem đến sự phục vụ tốt hơn cho khách hàng. Với gam màu xanh đỏ trắng (Mart
màu đỏ, nhỏ nổi bật trên nền màu xanh của chữ Co.op, hai chữ ấy kết hợp hài hòa trên nền
màu trắng) tạo nên một phong cách riêng,độcđáo cho thương hiệu. Ngoài ra, với slogan (khẩu
hiệu): “Bạn của mọi nhà" và "Nơi mua sắm đáng tin cậy" nó đã trở nên có sức sống thật sự,
tồn tại trong "bộ nhớ" của người tiêu dùng chứ không chỉ trên băng rôn, tờ bướm quảng cáo
hay các bản tin hàng hoá thông thường.
3.1.2. Sản phẩm kinh doanh
Hệ thống siêu thị Co.op Mart kinh doanh gần 30.000 mặt hàng, bao gồm: Thực phẩm
tươi sống tươi ngon, thực phẩm công nghệ đa dạng, đồ dùng phong phú với nhiều mẫu mã
mới, hàng may mặc thời trang, chất lượng, giá phải chăng, cùng với dịch vụ khách hàng
phong phú, tiện lợi và sự thân thiện của nhân viên Co.opMart là lý do Co.opMart trở thành
“Nơi mua sắm đáng tin cậy, bạn của mọi nhà” là kênh thông tin phản hồi nhanh diễn biến giá
cả thị trường cho các cơ quan điều hành thành phố, trở thành nhà bán lẻ chuyên nghiệp nhất
trong hệ thống bán lẻ Việt Nam. Các siêu thị của Co.opMart đều mang đặc điểm chung là
thân thiện, gần gũi với khách hàng, mang đến cho khách hàng sự tiện lợi và nhiều dịch vụ
tăng thêm. Với phương châm “Hàng hóa chất lượng, giá cả phải chăng, phục vụ ân
cần”,Co.opMart đã thâm nhập thị trường cả nước bằng phong cách Saigon kết hợp với từng
nét đặc thù của địa phương, tập hợp giữa tập trung và sự linh hoạt, sáng tạo và cải tiến không
ngừng của mỗi đơn vị, mỗi cá nhân. Thế nên, càng ngày Co.opMart càng được nhiều khách
hàng chọn lựa để đến mua sắm và thư giãn cùng gia đình mỗi ngày.
/>Trung bình mỗi siêu thị nước ngoài ở VN hiện kinh doanh 40.000-50.000 mặt hàng
khác nhau, trong khi tại các siêu thị trong nước con số này chỉ 25.000-30.000 mặt hàng. Sự đa
dạng trong chủng hàng của các siêu thị ngoại thường nhỉnh hơn siêu thị trong nước ở ngành
hàng lẫn nhãn hàng. Ví dụ như mặt hàng gia vị hạt tiêu.Trên quầy gia vị của siêu thị Big C có
đến gần 10 loại tiêu khác nhau như tiêu sọ, tiêu xanh, tiêu hạt mịn, tiêu cay, tiêu nhập khẩu...
20
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ

từ Mỹ, Uc hay đến những trái cây từ các vùng miền của Việt Nam như : ổi, sari, sầu riêng,
xoài cát Hòa Lộc, …phong phú và đa dạng trong từng chủng loại.
Hàng hóa được trưng bày tại khu vực dành riêng trong các tủ lạnh, tủ mát và tủ cấp
đông ở nhiệt độ luôn ổn định để đảm bảo cho hàng hóa luôn tươi ngon và bắt mắt. Bên cạnh
đó, hàng hóa luôn được nhân viên chăm sóc thường xuyên và sẵn sàng tư vấn cho khách hàng
lựa chọn những thực phẩm ngon, cách nấu các món ăn phục vụ cho thực đơn hàng ngày.
- Thực phẩm công nghệ: Co.opmart có những nhà cung cấp và các đối tác chiến
lược như Bibica, Vissan, Pepsi Co, Dầu Tường An, Đồ Hộp Hạ Long,… Đó là Bánh kẹo
21
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
Kinh Đô, Bột ngọt Ajinomoto, Đường Biên Hòa, Nước suối Lavie, Dầu ăn Neptune, Nước
ngọt Pepsi, Sữa Vinamilk, Sữa Cô gái hà Lan, Thực phẩm đóng hộp Vissan…Hệ thống
Co.opMart luôn đảm bảo cung cấp những mặt hàng thiết yếu phục vụ cho nhu cầu hàng ngày
của quý khách hàng.
Quy trình mua hàng và kiểm soát chất lượng hàng hóa luôn được chú trọng, với các
hàng hóa thuộc nhóm thực phẩm, việc đảm bảo hạn sử dụng, nhãn hàng hóa và thông tin
hướng dẫn sử dụng luôn được quan tâm.
- Hóa phẩm: Nhiều chủng loại hàng hóa từ những nhà cung cấp hàng đầu như
Unilever, P&G, Mỹ phẩm Saigon, Mỹ Hảo… luôn đem lại những mặt hàng thiết yếu phục vụ
hàng ngày cho ngừơi tiêu dùng. Các sản phẩm như Bột giặt, nước xả, dầu gội, sữa tắm, xà
bông, nước rửa chén …. hàng tuần đều có các chương trình khuyến mãi dành riêng cho người
tiêu dùng với nhiều giải thưởng hấp dẫn. Ngoài các sản phẩm thông dụng, Co.opMart còn có
những sản phẩm chăm sóc chuyên biệt hơn cho các nhu cầu đa dạng của khách hàng. Bạn có
thể tìm thấy trên các kệ hóa phẩm những sản phẩm như : Gel dưỡng tóc, thuốc nhuộm tóc,
kem dưỡng da tay, sữa dưỡng thể, kem dưỡng gót chân hay các sản phẩm chăm sóc răng
miệng.
Việc hình thành các khu vực bán hàng phục vụ cho ba mẹ và em bé, Mỹ phẩm dành
cho Nam giới là nét mới của hệ thống Co.opMart, hàng hóa được trưng bày đẹp, phong phú
hợp lý tạo thuận lợi cho việc mua sắm. Đội ngũ nhân viên tư vấn của Saigon Co.op và chính

phẩm tươi sống và chế biến của các nhà cung cấp đạt tiêu chuẩn và đồng thời tạo ra hàng trăm
mặt hàng riêng, mang thương hiệu Co.opMart, như canh chua gà lá giang, cá rô, lóc kho tộ,
mướp đắng, cà chua nhồi thịt, cá bống, cá diêu hồng, lươn om... thời trang SGC và mạnh nhất
là các mặt hàng thực phẩm khô, đông lạnh và chế biến sẵn nhãn hiệu Co.opMart luôn thỏa
mãn, đáp ứng nhu cầu mua sắm đa dạng của người tiêu dùng, phù hợp bữa ăn gia đình trong
tuần và cuối tuần, được các bà nội trợ ưa thích. ( />Menu=1368&Chitiet=13498&Style=1)
Saigon Co.op đã xây dựng hình ảnh Co.opMart là một siêu thị hiện đại văn minh của
phương thức bán hàng tự chọn, vừa có nét giản dị gần gũi trong kinh doanh và các dịch vụ đi
kèm. Sự khác biệt mà các nhà bán lẻ Việt Nam nói chung và Co.opMart nói riêng đã khai thác
khá thành công là: Mô hình kết hợp giữa tự chọn và có phục vụ, sự có mặt của nhân viên mậu
dịch giúp đỡ, tư vấn cho khách hàng chọn lựa sản phẩm phù hợp, điều này không có tại các
cửa hàng tự chọn các nước khác; Phục vụ tận nhà cũng được xem như một ưu việt của các
siêu thị; Lựa chọn mặt hàng kinh doanh phù hợp với thị hiếu, khẩu vị từng vùng với giá cả
hợp lý phù hợp với khả năng thanh toán của đa số người dân cũng là sự khác biệt cơ bản của
siêu thị.
3.1.3. Thị trường mục tiêu
Theo bà Loan, hàng hóa đến tay người tiêu dùng chủ yếu vẫn qua hệ thống chợ
(khoảng 40%) và qua hệ thống các cửa hàng bán lẻ độc lập (khoảng 44%). Hàng hóa qua hệ
thống phân phối hiện đại như siêu thị, cửa hàng tiện lợi… chỉ mới chiếm khoảng 10% vì phần
lớn hệ thống phân phối còn rất non trẻ, còn lại là 6% là do nhà sản xuất trực tiếp bán thẳng.
Như vậy, kênh mua sắm truyền thống vẫn tiếp tục đóng vai trò then chốt trong đời sống hàng
ngày của người Việt Nam, chiếm 68% doanh thu từ các tiệm tạp hóa cả nước. Rõ ràng kênh
mua sắm truyền thống vẫn giữ được chỗ đứng riêng và các kênh thương mại bán lẻ hiện đại
sẽ cần chiến đấu đề giành được một phần của miếng bánh đó.
( />Quy mô thị trường ngày càng mở rộng hơn, hiện VN có gần 400 siêu thị, trung tâm
thương mại nhưng có tới hơn 8.000 chợ các loại, sự chênh lệch là rất lớn. Và bình quân mỗi
hệ thống siêu thị có 2.000-3.000 nhà cung cấp hàng hóa là các DN, cơ sở sản xuất trong nước.
Siêu thị đang trở thành kênh quảng bá thương hiệu quan trọng cho hàng VN và là một trong
những mục tiêu mà nhiều DN nhắm tới. Người dân đang dần chuyển thói quen từ mua, bán ở
chợ truyền thống sang các trung tâm thương mại và siêu thị. Thêm nữa, Việt Nam đã là thành

Chúng tôi đánh giá hiện nay hàng sản xuất trong nước có chất lượng tốt và giá cả có thể đáp
ứng được khả năng chi tiêu của đa số người tiêu dùng Việt Nam. Đó là chiến lược kinh doanh
chính của chúng tôi. Vì vậy, khi triển khai chương trình “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng
Việt Nam”, thì chúng tôi nhận thấy rất phù hợp với tiêu chí kinh doanh của hệ thống siêu thị
Co.op Mart từ khi thành lập đến nay. Và chúng tôi tin rằng điều này sẽ không ảnh hưởng
nhiều đến doanh số. Điều mà chúng tôi quan tâm nhất là luôn nhắc nhở, và đồng thời cũng
yêu cầu nhà cung cấp cam kết, đảm bảo ổn định chất lượng, mặt khác cũng cần phải thường
xuyên cải tiến mẫu mã hàng hoá, có giá cả hợp lý để giữ vững được niềm tin của người tiêu
dùng. Để từ đó người tiêu dùng Việt Nam sẽ ngày càng sử dụng hàng sản xuất trong nước
nhiều hơn.
Cũng theo bà Hạnh:” Việc các tập đoàn bán lẻ hàng đầu thâm nhập vào thị trường
Việt Nam tạo ra sự cạnh tranh có thể nói là rất gay gắt đối với các doanh nghiệp bán lẻ trong
24
GVHD : Th.s Trần Thanh Sơn
Quản trị bán lẻ
nước, trong đó có SaiGon Co.op. Chính vì vậy mà ngay từ rất lâu rồi chúng tôi đã chuẩn bị
một chiến lược cho mình. Một trong những điều mà chúng tôi nghĩ rằng nó là lợi thế và thế
mạnh của mình đó là chúng tôi đã đầu tư phát triển thương hiệu từ hơn 10 năm nay, hiện nay
có thể nói người tiêu dùng Việt Nam đã quen với thương hiệu Co.op Mart... Tôi đánh giá cao
tiềm năng của thị trường nông thôn, vì trên 70% dân cư đang sống ở đây. Vì vậy đây là một
thị trường rất hấp dẫn, và sắp tới chúng tôi sẽ phát triển hệ thống siêu thị Co.op Mart ở các
địa phương của các tỉnh, thành phố. Thực tế, hiện nay có một số tỉnh chưa thật sự mang lại
hiệu quả đầu tư như mong muốn, song chúng tôi vẫn xem đây là chiến lược lâu dài. Ngoài
việc phục vụ mục đích kinh doanh, với vai trò là một tổ chức kinh tế tập thể, chúng tôi xem
đó là nhiệm vụ chính trị quan trọng cần phải hoàn thành. Mỗi khi đầu tư vào một địa bàn mới,
chúng tôi mong muốn đem đến cho người tiêu dùng một phương tiện mua sắm hiện đại, an
toàn, văn minh hơn, và tôi mong muốn các siêu thị Co.op Mart trong tương lai có thể thay đổi
thói quen mua sắm ở các chợ truyền thống của người dân.”
Hệ thống siêu thị Coop Mart được đông đảo người tiêu dùng tin yêu, tín nhiệm và
đang từng bước vươn ra chiếm lĩnh thị trường trong cả nước, đã khẳng định được vị trí Nhà

Ðể đa dạng hóa nguồn hàng, mặt hàng, trong đó chú trọng kinh doanh các sản phẩm
do các nhà sản xuất trong nước làm ra, Co.opMart đã chọn lọc 1.000 nhà cung cấp, trong tổng
số 2.000 nhà mua hàng theo các dạng sỉ, lẻ, gối đầu, ứng trước, gia công, tùy khách mà có chế
độ khuyến mãi với giá cả linh hoạt... Bộ phận mua hàng và nghiệp vụ mua hàng được chuẩn
hóa theo chức năng và chuyên nghiệp trong chọn lọc, xét duyệt chủng loại hàng hóa, tổ chức
thu mua tận gốc và tiếp nhận hàng hóa từ các tỉnh, các nhà cung cấp. Thực hiện tốt chính sách
kinh doanh, trong đó ưu tiên mua hàng của doanh nghiệp trong nước, Co.opMart thường
xuyên có 500 nhà cung cấp cho năm ngành hàng: hóa phẩm, thực phẩm chế biến công nghệ,
đồ dùng gia đình, may mặc, như HTX rau Anh Ðào (Ðà Lạt), thủy hải sản Sài Gòn, Agifish,
Vissan, Trường An, Happy Cook, Việt Tiến, Nhà Bè, Thành Công, Vinamilk, Kinh Ðô, P/S,
v.v. Các nhà cung cấp sẵn sàng hạ giá từ 5 đến 10%, theo yêu cầu của Co.opMart. Ngoài ra
Co.opMart còn triển khai và thực hiện có hiệu quả chiến lược giá, chiến lược hàng hóa và
mua hàng cùng với việc xây dựng các tiêu chí đầu tư xây dựng các Co.opMart. Co.opMart
còn ưu tiên những DN có chính sách kinh doanh năng động, có chính sách giá tốt cho khách
hàng, ưu tiên hàng sản xuất địa phương...
Quy trình mua hàng và kiểm soát chất lượng hàng hóa luôn được chú trọng, với các
hàng hóa thuộc nhóm thực phẩm, việc đảm bảo hạn sử dụng, nhãn hàng hóa và thông tin
hướng dẫn sử dụng luôn được quan tâm. Với các mặt hàng thực phẩm tươi sống và chế biến,
Co.opMart chú trọng khai thác nguồn hàng của các nhà cung cấp đạt tiêu chuẩn đồng thời tạo
ra hàng trăm mặt hàng riêng, mang thương hiệu Co.opMart, như canh chua gà lá giang, cá rô,
lóc kho tộ, mướp đắng, cà chua nhồi thịt, cá bống, cá diêu hồng, lươn om... phù hợp bữa ăn
gia đình trong tuần và cuối tuần, được các bà nội trợ ưa thích.
Khi được hỏi thì có 94% khách hàng quan tâm đến chất lượng sản phẩm được bán tại
siêu thị. Điều này hoàn toàn phù hợp với những mong muốn của người tiêu dùng về các loại
thực phẩm có giá cả hợp lý và đảm bảo được về mặt chất lượng. Vì thế nên để bảo vệ sức
khỏe người tiêu dùng, Co.opMart ký hợp đồng với Trung tâm 3, thường xuyên kiểm tra an
toàn thực phẩm trong các siêu thị. Triển khai các hoạt động quảng bá, phát tài liệu, cẩm nang
mua sắm đến tận nhà của hàng chục nghìn khách hàng thân thiết.
Content.aspx?ID=4123
Chính sách chất lượng

thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 : 2000, chứng chỉ HACCP công tác đảm
bảo chất lượng và VSATTP , Co.opMart luôn hướng đến mục tiêu bảo vệ sức khỏe và đem lại
bữa ăn ngon cho người tiêu dùng.
Với nhân viên của siêu thị
Nhân viên bán hàng: vui vẻ, thân thiện, ân cần, nhã nhặn, trung thực bạn có thể hỏi
hỏi nhân viên về một món hàng hay thực phẩm họ sẽ hướng dẫn một cách cặn kẽ hay đưa ra
những lời khuyên đúng đắn. Cũng có thể tự do lựa chọn hàng hóa mà không sợ bị người bán
hàng khó chịu vì bị mất mở hàng hoặc trả giá quá sát…, được ngắm thỏa thích và học cách sử
dụng những mặt hàng mới từ các nhân viên bán hàng. Ngoài ra, với bộ đồng phục xanh
dương phù hợp với thương hiệu Co.opMart đã tạo cho nhân viên một phong cách chuyên
nghiệp, lịch sự.
Nhân viên quản lý: phong cách làm việc năng động do sự bổ sung liên tục nhân sự
trẻ giữ các chức vụ chủ chốt, từ Giám Đốc siêu thị, Trưởng, phó phòng chuyên môn cho đến
thành viên trong Ban Tổng Giám Đốc (điều này có được nhờ sự ra đời khá đều đặn của các
Co.opMart, góp phần tạo nên sự năng động trong toàn bộ máy); của việc " bảo toàn lực lượng
" hay nói cách khác là không bị mất chất xám khi cử người sang các liên doanh hay đưa đi
27

Trích đoạn Các mặt hàng, giá cả các mặt hàng kinh doanh Khách hàng và thị trường mục tiêu Chợ truyền thống quy mô trung bình – Chợ Bà Chiểu Đối thủ cạnh tranh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status