Giải pháp xử lý nợ xấu tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh tỉnh bắc giang - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
***

NGUYỄN THỊ THỦY
GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH TỈNH BẮC GIANG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60.34.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. BÙI BẰNG ĐOÀN
HÀ NỘI – 2014

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page i



Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ
nhiệt tình của nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân. Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn sâu
sắc tới Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, tập thể các thày, cô giáo
khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, đặc biệt là các thày, cô giáo bộ môn Kế toán
Quản trị và Kiểm toán đã giảng dạy, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi
hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn chi nhánh tỉnh Bắc Giang, các anh, chị đồng nghiệp đã tạo điều
kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn động viên và tạo điều
kiện để tôi tham gia học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này./.
Hà Nội, ngày tháng 9 năm 2014
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
PHẦN 3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 3
2.1 Khái quát về ngân hàng thương mại 3
2.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 3
2.1.2 Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại 4
2.2 Một số vấn đề chung về nợ xấu ngân hàng 6
2.2.1 Khái niệm nợ xấu ngân hàng 6
2.2.2 Bản chất của nợ xấu ngân hàng 8
2.2.3 Phân loại nợ xấu ngân hàng 9
2.2.4 Những chỉ tiêu cơ bản phản ánh nợ xấu của ngân hàng 10
2.2.5 Nguyên nhân phát sinh nợ xấu ngân hàng 11
2.2.6 Tác động của nợ xấu 14
2.3 Xử lý nợ xấu trong hoạt động của ngân hàng 17
2.3.1 Khái niệm về xử lý nợ xấu 17
2.3.2 Nội dung xử lý nợ xấu 17
2.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xử lý nợ xấu của NHTM 19
2.4 Cơ sở thực tiễn 20
2.4.1 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của ngân hàng ở một số nước trên thế giới 20
2.4.2 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số ngân hàng ở Việt Nam 24
2.4.3 Một số công trình nghiên cứu liên quan 26
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐƠN VỊ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv 3.1 Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang 28
3.2 Một số vấn đề chung về Agribank tỉnh Bắc Giang 29

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Số liệu mẫu điều tra ở các điểm nghiên cứu 36
Bảng 4.1: Tình hình huy động vốn của Agribank tỉnh Bắc Giang 41
Bảng 4.2: Tình hình cho vay của Agribank tỉnh Bắc Giang 42
Bảng 4.3: Kết quả kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế 43
Bảng 4.4: Thu nhập từ hoạt động dịch vụ của Agribank tỉnh Bắc Giang 44
Bảng 4.5: Nợ xấu phân theo nhóm nợ 45
Bảng 4.6: Nợ xấu phân theo loại hình khách hàng 46
Bảng 4.7: Nợ xấu phân theo ngành kinh tế 47
Bảng 4.8: Nợ xấu phân theo hình thức bảo đảm 48
Bảng 4.9: Tình hình trích lập dự phòng và xử lý rủi ro tín dụng 51
Bảng 4.10: Khảo sát nợ xấu do nhóm nguyên nhân khách quan 52
Bảng 4.11: Khảo sát nợ xấu do nguyên nhân chủ quan từ phía khách hàng 53
Bảng 4.12: Khảo sát nợ xấu do nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng 54
Bảng 4.13: Kết quả xử lý nợ xấu thông qua đôn đốc thu hồi nợ 58
Bảng 4.14: Kết quả xử lý nợ xấu thông qua xử lý tài sản bảo đảm 60
Bảng 4.15: Kết quả xử lý nợ xấu bằng biện pháp cơ cấu thời hạn trả nợ 61
Bảng 4.16: Kết quả xử lý nợ xấu thông qua khởi kiện để đòi nợ 63
Bảng 4.17: Kết quả xử lý nợ xấu thông qua miễn, giảm lãi tiền vay 64
Bảng 4.18: Kết quả xử lý nợ xấu bằng quỹ dự phòng rủi ro 66

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

PHẦN I
MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua đã đạt
được những thành tựu to lớn, những bước tiến vượt bậc trong sự phát triển kinh tế, xã
hội của đất nước, trong đó ngành ngân hàng ngày càng có vị trí quan trọng trong sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hoạt động ngân hàng đã góp phần ổn
định tiền tệ, kiềm chế lạm phát, thúc đẩy kinh tế phát triển. Trong thực tế hoạt động
kinh doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM) nước ta, hoạt động tín dụng có
vai trò chủ yếu, nguồn thu từ hoạt động tín dụng chiếm khoảng 90% tổng thu nhập
của các NHTM. Tuy nhiên, trong thời điểm hiện nay cùng với sự tăng trưởng của tín
dụng thì nợ xấu ngân hàng cũng gia tăng mạnh đã ảnh hưởng đến tình hình tài chính
của ngân hàng, đồng thời cũng là vấn đề được xã hội quan tâm.
Hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh
tỉnh Bắc Giang đã góp phần không nhỏ vào việc phát triển kinh tế của tỉnh Bắc
Giang trong thời gian qua. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng của Chi nhánh vẫn còn
tiềm ẩn những rủi ro nhất định, thể hiện ở khía cạnh nợ xấu có xu hướng tăng dần
qua các năm, năm sau cao hơn năm trước, năm 2009 là 81 tỷ đồng, đến năm 2013
tăng lên mức 155 tỷ đồng. Do đó, xử lý nợ xấu là mục tiêu hàng đầu trong công tác
quản trị tín dụng cũng như điều hành hoạt động kinh doanh của Chi nhánh; đây là
vấn đề cần được quan tâm giải quyết, góp phần lành mạnh hoá tình hình tài chính,
đảm bảo hoạt động tín dụng an toàn, hiệu quả.
Để giải quyết có hiệu quả vấn đề nợ xấu, cần nghiên cứu tìm ra những nguyên
nhân dẫn đến nợ xấu, mới có thể đưa ra giải pháp xử lý phù hợp. Xuất phát từ những
lý do nêu trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Giải pháp xử lý nợ xấu tại Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh tỉnh Bắc Giang” với mong muốn
đóng góp vào công tác xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn chi nhánh tỉnh Bắc Giang.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3 PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Khái quát về ngân hàng thương mại
2.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trong nền
kinh tế. Tùy thuộc vào tính chất và mục tiêu hoạt động cũng như sự phát triển của
nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, hệ thống ngân hàng bao gồm:
Ngân hàng nhà nước (NHNN), Ngân hàng chính sách - xã hội, Ngân hàng phát triển,
các NHTM và các loại hình ngân hàng khác. Trong đó các NHTM chiếm tỷ trọng
lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng. NHTM được xem là
một trung gian tài chính có chức năng dẫn vốn từ nơi có khả năng cung ứng vốn đến
những nơi có nhu cầu sử dụng vốn nhằm tạo điều kiện cho đầu tư phát triển kinh tế -
xã hội (KT-XH).
Chúng ta có thể xem xét khái niệm về NHTM như sau:
- Theo tài liệu Tiền tệ ngân hàng (2009) do TS. Lê Thị Tuyết Hoa và PGS.TS.
Nguyễn Thị Nhung chủ biên thì NHTM là một tổ chức tín dụng chuyên kinh doanh
tiền tệ và các hoạt động ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận.
- Theo Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16/06/2010 thì: Ngân hàng là loại hình TCTD
có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này.

(huy động vốn nợ) có ý nghĩa quan trọng đối với NHTM trong việc tạo lập nguồn
vốn để hoạt động kinh doanh. Hoạt động huy động vốn nợ của NHTM bao gồm:
- Huy động tiền gửi: Huy động theo hình thức này chủ yếu là tiền gửi của dân
cư và tổ chức dưới hình thức có kỳ hạn (chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm của dân cư, tiền
gửi chờ thanh toán của tổ chức) và không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán của tổ chức, cá
nhân). Đây là nguồn vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn nợ
của NHTM.
- Huy động từ phát hành các công cụ nợ: Chủ yếu là phát hành kỳ phiếu và
trái phiếu. Kỳ phiếu dùng chủ yếu huy động vốn ngắn hạn. Trái phiếu phát hành để
huy động vốn trung - dài hạn. Hình thức huy động này mang tính ổn định hơn, làm
tăng khả năng huy động vốn của NHTM trong thời gian ngắn và hoàn toàn chủ động
trong sử dụng nguồn vốn.
- Huy động từ vay các NHTM: Các NHTM thực hiện việc đi vay nhằm điều
hoà vốn trong toàn hệ thống, tăng dự trữ, bảo đảm khả năng thanh khoản của NHTM.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5 Việc huy động vốn thông qua hình thức này thường đơn giản và nhanh gọn, có thể
vay trực tiếp, vay qua ngân hàng đại lý và khoản vay thường không có bảo đảm.
- Huy động từ vay Ngân hàng Trung ương: Thường là hình thức huy động
cuối cùng trong hoạt động huy động vốn của NHTM, áp dụng cho việc vay để đảm
bảo duy trì dự trữ bắt buộc hay thiếu hụt thanh toán. Hình thức huy động này thường
làm giảm uy tín của NHTM trên thị trường.
- Huy động từ nợ khác: Bao gồm huy động các khoản uỷ thác; tiền ký quỹ;
các khoản nợ thuế chưa nộp, lương chưa trả đây là hình thức huy động mang tính
thụ động và chiếm tỷ trọng không đáng kể.
2.1.2.2 Hoạt động tín dụng
Hoạt động tín dụng là hoạt động cấu thành nên tài sản có và có ý nghĩa quan

- Các hoạt động khác như cho thuê két, dịch vụ cầm đồ và các dịch vụ khác
theo quy định của pháp luật.
2.2 Một số vấn đề chung về nợ xấu ngân hàng
2.2.1 Khái niệm nợ xấu ngân hàng
Tùy theo quan điểm và mức độ đánh giá rủi ro khác nhau mà có những khái
niệm về nợ xấu khác nhau. Tuy nhiên, xét về bản chất thì nợ xấu là các khoản nợ khó
có khả năng thu hồi, thu hồi không hết hoặc không có khả năng thu hồi nợ.
2.2.1.1 Theo quan niệm của Ngân hàng Trung ương Châu Âu
- Nợ xấu là nợ không được thanh toán đầy đủ cho ngân hàng, bao gồm:
+ Những khoản nợ người vay khó có thể trả nợ và yêu cầu điều chỉnh lại lịch
trả nợ nhưng không thanh toán được trong khoảng thời gian đã được điều chỉnh.
+ Những khoản nợ mà giá trị tài sản bảo đảm (TSBĐ) không đủ để trả nợ
hoặc không được chấp thuận về mặt pháp lý dẫn đến người vay không thể trả nợ
ngân hàng đầy đủ.
+ Những khoản nợ mà tòa án tuyên bố người vay phá sản và phần bồi hoàn
cho ngân hàng ít hơn số nợ phải thanh toán.
- Nợ xấu là những khoản nợ không thể thu hồi được, bao gồm:
+ Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có đủ căn cứ
để thanh toán từ người vay.
+ Người vay bỏ trốn hoặc mất tích, không có tài sản giữ lại để thanh toán nợ.
+ Những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người vay hoặc
không thể tìm được người vay.
+ Những khoản nợ mà người vay chấm dứt hoạt động kinh doanh, hoặc thanh
lý tài sản, hoặc kinh doanh thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7 Theo quan điểm của Ngân hàng Trung ương Châu Âu, khái niệm nợ xấu được

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8 TCTD về bản chất cũng như quy định của pháp luật thì vẫn cần được theo dõi, quản
lý và thu hồi.
Vì vậy, theo quan niệm của tác giả: “Nợ xấu là những khoản nợ phát sinh từ
hoạt động cho vay, không được thanh toán đầy đủ cho ngân hàng hoặc được đánh
giá là không có khả năng thu hồi, bao gồm cả các khoản nợ xấu thông thường đang
hạch toán nội bảng cân đối kế toán (nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 theo Điều 7 Quyết
định 493/2005/QĐ-NHNN) và các khoản nợ đã xử lý bằng quỹ dự phòng của ngân
hàng được theo dõi tại ngoại bảng”.
2.2.2 Bản chất của nợ xấu ngân hàng
Tổ chức hay cá nhân người đi vay (khách hàng vay) phải có trách nhiệm hoàn
trả đầy đủ khoản nợ gốc và lãi cho ngân hàng khi đến thời điểm thanh toán là hành
động hoàn tất mối quan hệ tín dụng hoàn hảo giữa ngân hàng và khách hàng vay.
Như vậy, nợ xấu trong hoạt động tín dụng NHTM là hiện tượng phát sinh từ mối
quan hệ tín dụng không hoàn hảo khi khách hàng vay không thực hiện được nghĩa vụ
trả nợ của mình cho ngân hàng đúng hạn.
Nợ xấu được xem như một dấu hiệu của vấn đề rủi ro tiềm ẩn, để xác định
bản chất vấn đề phải tìm hiểu được nguyên nhân của khoản nợ đó. Nếu khoản nợ xấu
là một biểu hiện của việc khách hàng không muốn hoặc không có khả năng hoàn trả
thì có thể khoản vay đã có vấn đề nghiêm trọng và có nguy cơ không cứu vãn được.
Nếu khoản nợ xấu chỉ hình thành do việc tiêu thụ hàng hóa hoặc thu hồi các khoản
phải thu chậm hơn dự tính hoặc do việc chậm trễ không tính trước được trong việc
chuyển từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ trên thị trường, thì vấn đề chưa đến mức
nghiêm trọng.
Bản chất của nợ xấu gắn liền với bản chất của mối quan hệ tín dụng, đây là mối
quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, giữa họ có quan hệ với nhau
thông qua sự vận động của giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ và

Nợ xấu thuộc nhóm này được đánh giá là có khả năng thu hồi thấp hơn so với
các khoản nợ thuộc nhóm 3. Các khoản nợ này được xếp vào những khoản nợ mà
ngân hàng có sự nghi ngờ về khả năng trả nợ. Tỷ lệ trích lập DPRR cho nợ xấu thuộc
nhóm này là 50% tổng dư nợ của nhóm.
Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày.
- Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời
hạn trả nợ được cơ cấu lại lần hai.
- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10 Khả năng thu hồi nợ của nhóm này được coi như bằng 0, do vậy tỷ lệ trích lập
DPRR tương ứng là 100% tổng dư nợ của nhóm.
Riêng đối với các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý, được trích lập dự
phòng cụ thể theo khả năng tài chính của TCTD.
2.2.4 Những chỉ tiêu cơ bản phản ánh nợ xấu của ngân hàng
- Tổng số nợ xấu: Đây là chỉ tiêu phản ánh giá trị tuyệt đối của toàn bộ các
khoản nợ xấu của ngân hàng. Chỉ tiêu này cho thấy chất lượng tín dụng của ngân
hàng tốt hay xấu, tuy nhiên nó chưa phản ánh một cách chính xác mức độ rủi ro của
ngân hàng do không thể hiện được con số nợ xấu không có khả năng thu hồi.
- Tỷ lệ giữa giá trị các khoản nợ xấu/tổng dư nợ cho vay: Chỉ tiêu này phản
ánh mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng. Cho biết với 100 đơn vị tiền tệ khi ngân
hàng cho vay thì có bao nhiêu đơn vị tiền tệ mà ngân hàng xác định khó có khả năng
thu hồi hoặc không thu hồi được đúng hạn tại thời điểm xác định. Tỷ lệ này càng cao
thì khả năng rủi ro càng cao, nếu như tỷ lệ này lớn hơn 7% thì ngân hàng bị coi là có
chất lượng tín dụng yếu kém, còn nếu nhỏ hơn 5% thì được đánh giá là có chất lượng
tín dụng tốt, các khoản cho vay an toàn. Tuy nhiên các con số được sử dụng để tính

hàng và cả những yếu tố thuộc về chính bản thân ngân hàng.
2.2.5.1 Nhóm nguyên nhân khách quan
- Điều kiện tự nhiên
Thiên tai, hoả hoạn, bão lụt, mất mùa, dịch bệnh là những nguyên nhân
khách quan ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay, nhất
là các khoản cho vay nông nghiệp, dẫn đến nợ xấu phát sinh. Nguyên nhân này nằm
ngoài tầm kiểm soát và mong muốn của cả NHTM và khách hàng vay. Đây là
nguyên nhân gây ra rủi ro bất khả kháng, những mất mát do nguyên nhân này gây ra
cần được sự chia sẻ của nhà nước và toàn xã hội.
- Môi trường kinh tế xã hội
Môi trường kinh tế chưa thực sự phát triển, cạnh tranh trên thị trường thiếu
bình đẳng, tốc độ cũng như trình độ phát triển kinh tế không đồng đều cũng sẽ ảnh
hưởng đến các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có tiềm lực tài chính chưa đủ mạnh.
Mặt khác, với sự thay đổi liên tục trong các chính sách kinh tế vĩ mô như sự thay đổi
về cơ chế lãi suất, tỷ giá, chính sách xuất nhập khẩu hàng tiêu dùng, thay đổi quy
hoạch xây dựng hạ tầng, thay đổi cơ chế tài chính, cơ chế sử dụng đất đai cũng ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, khiến các đối
tượng này rơi vào thế bị động.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12 Chúng ta có thể lấy ví dụ về sự thay đổi lãi suất, với mặt bằng lãi suất có xu
hướng tăng nhanh, sẽ làm gia tăng các khoản nợ xấu. Điều này có thể được giải thích
dễ dàng, vì những doanh nghiệp mạnh sẽ không chấp nhận mức lãi suất quá cao, họ
có khả năng tìm đến những nguồn vốn khác thông qua thị trường chứng khoán. Nghi
vấn đặt ra đối với những doanh nghiệp dám chấp nhận mức lãi suất cao. Phần lớn sự
chấp nhận đó xuất phát từ sự thiếu vốn trầm trọng, năng lực tài chính hạn chế, độ tín
nhiệm thấp nên không tiếp cận được những nguồn vốn khác. Và tất nhiên, nguy cơ

Một số doanh nghiệp cố tình cung cấp số liệu tài chính không chính xác cho
ngân hàng, gây sai lệch về kết quả thẩm định và quyết định cấp tín dụng, dẫn đến
khó khăn trong việc thu hồi nợ vay. Một số doanh nghiệp thiếu ý thức trong vấn đề
sử dụng vốn vay và trả nợ ngân hàng, kinh doanh có lãi song vẫn không trả nợ cho
ngân hàng đúng hạn, có tư tưởng sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt, hoặc lợi dụng
kẽ hở của pháp luật để tính toán, móc ngoặc, lừa đảo ngân hàng, sử dụng vốn sai mục
đích để kiếm lời, vay nhưng không có thiện chí trả nợ.
2.2.5.2 Nhóm nguyên nhân chủ quan
Đây là những nguyên nhân xuất phát từ chính bản thân các ngân hàng. Có thể
do một chính sách tín dụng kém hiệu quả, sự lỏng lẻo trong công tác kiểm tra, giám
sát hay các vấn đề liên quan đến chất lượng nguồn nhân lực ngân hàng.
- Chính sách tín dụng
Một chính sách tín dụng không đầy đủ, không đồng bộ và thống nhất sẽ dẫn
tới việc cấp tín dụng không đúng đối tượng, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cho ngân hàng.
Mặt khác, để thu hút khách hàng và chiếm lĩnh thị phần, nhiều NHTM đã bỏ qua một
số bước trong quy trình tín dụng, cơ chế cho vay được đơn giản hoá, tự ý hạ thấp tiêu
chuẩn đánh giá khách hàng. Bài học khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 xuất phát
từ thị trường tài chính Hoa Kỳ có nguồn gốc sâu xa chính là những món cho vay
dưới chuẩn. Đây là những khoản cho vay chất lượng thấp với mức rủi ro cao. Các
khoản cho vay này không được xem xét kỹ lưỡng về khả năng thanh toán của khách
hàng như: thu nhập hàng năm, tiểu sử nghề nghiệp, tài sản và thường được bảo
đảm bởi rất ít hoặc không có giấy tờ chứng minh khả năng tài chính của người đi
vay. Mặc dù các khoản cho vay này chỉ chiếm 16% tổng số món cho vay thế chấp
nhưng nó lại chiếm tới hơn 50% các khoản vỡ nợ tại Hoa Kỳ.
- Công tác kiểm tra, kiểm soát
Nhiệm vụ của công tác kiểm tra, kiểm soát là phát hiện sớm những sai phạm
trong hoạt động cho vay để ngăn ngừa rủi ro. Tuy nhiên, công tác kiểm tra, kiểm soát

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14

a. Nợ xấu ảnh hưởng tới nguồn vốn của ngân hàng
Nợ xấu làm cho nguồn vốn của NHTM bị đóng băng, có thể mất vốn. Các

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15 khoản nợ xấu phát sinh, dẫn đến ngân hàng không thu được gốc và lãi đúng hạn,
vòng quay vốn tín dụng chậm, giảm tốc độ chu chuyển vốn làm giảm hiệu quả sử
dụng vốn, thậm chí mất vốn, giảm doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng. Nếu các
khoản nợ xấu vượt quá khả năng bù đắp của ngân hàng sẽ dẫn đến phá sản ngân hàng
và kéo theo sự sụp đổ dây chuyền của cả hệ thống ngân hàng trong nước.
b. Nợ xấu ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của ngân hàng
Hoạt động chủ yếu của ngân hàng là nhận tiền gửi và cho vay. Nếu các khoản
tín dụng gặp rủi ro thì việc thu hồi nợ vay sẽ gặp nhiều khó khăn, không thu hồi được
hoặc thu hồi không đầy đủ nợ gốc và lãi đã cho vay. Trong khi đó, ngân hàng vẫn
phải thanh toán đầy đủ, đúng hạn đối với các khoản tiền gửi và huy động. Sự mất cân
đối trên đến một mức nào đó tất yếu sẽ dẫn tới ngân hàng mất khả năng thanh toán
các khoản đến hạn thanh toán. Như vậy, nợ xấu làm giảm khả năng thanh toán của
ngân hàng.
c. Nợ xấu làm giảm uy tín của ngân hàng
Một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao tức là mức độ rủi ro của các tài sản có cao,
ngân hàng đó thường đứng trước nguy cơ đánh mất uy tín của mình trên thị trường.
Không một khách hàng nào muốn gửi tiền vào một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn, nợ
xấu vượt mức cho phép, có chất lượng tín dụng không tốt và gây ra nhiều vụ thất
thoát lớn. Thông tin về việc một ngân hàng có mức độ rủi ro cao, khả năng thanh
toán suy giảm thường được báo chí đưa tin và lan truyền trong dân chúng rất nhanh,
điều này sẽ khiến cho việc huy động vốn của ngân hàng gặp nhiều khó khăn và ảnh
hưởng dây chuyền là tất yếu.
d. Nợ xấu làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.

Nợ xấu không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của chính NHTM mà
còn có tác động rất lớn tới nền kinh tế. Nợ xấu tác động đến nền kinh tế chủ yếu
thông qua mối quan hệ gián tiếp: ngân hàng - khách hàng - nền kinh tế. Có thể liệt kê
ra một số tác động xấu của nợ xấu đến nền kinh tế như sau:
Thứ nhất, làm chậm quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn của các TCTD,
giảm vòng quay vốn, giảm hiệu quả sử dụng vốn, giảm lợi nhuận của các doanh
nghiệp và ngân hàng, từ đó kìm hãm sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế.
Thứ hai, chi phí phát sinh do nợ xấu gây ra là rất lớn bao gồm: chi trả lãi tiền
gửi, chi phí quản lý, xử lý nợ xấu và các chi phí liên quan. Những chi phí này làm
giảm đáng kể, thậm chí gây lỗ cho các ngân hàng khi hạch toán kết quả kinh doanh,
dẫn đến nguồn thu của ngân sách nhà nước bị suy giảm.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 17 Thứ ba, nợ xấu hạn chế khả năng mở rộng và tăng trưởng tín dụng, hạn chế
khả năng kinh doanh của TCTD. Nợ xấu tác động trực tiếp đến khả năng tài chính
của TCTD, giảm khả năng cạnh tranh, chậm phát triển và hội nhập.
Nợ xấu phát sinh do khách hàng, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh kém hiệu
quả sẽ tác động đến toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển
kinh tế do vốn ứ đọng, sản xuất kinh doanh đình trệ.
2.3 Xử lý nợ xấu trong hoạt động của ngân hàng
2.3.1 Khái niệm về xử lý nợ xấu
Xử lý nợ xấu là những hoạt động của ngân hàng được triển khai khi nợ xấu đã
phát sinh nhằm giảm thiểu những tổn thất do nợ xấu gây ra bằng các công cụ phổ
biến như: đòi nợ; tái cơ cấu các khoản nợ; bán nợ; phong tỏa tài sản của người vay,
thanh lý tài sản thế chấp, gán nợ, xiết nợ; yêu cầu bồi thường từ những người có trách
nhiệm liên đới; sử dụng công cụ pháp lý để đòi nợ hoặc xử lý từ quỹ DPRR tín dụng
và các biện pháp tài trợ rủi ro tín dụng khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status